|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 03/2024/HS-ST Ngày: 11 - 01 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Văn Lịnh
Thẩm phán: Bà Trần Thị Chọn
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Trương Hiển
Bà Nguyễn Hồng Xứng
Bà Trần Thị Ngọc Trân
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Đạt - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu Hồ - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 102/2023/TLST-HS ngày 31 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 119/2023/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Đặng Minh K (tên gọi khác K1), sinh ngày 03/02/2002 tại huyện V, tỉnh Hậu Giang; Nơi thường trú: ấp E, xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang; chỗ ở: Khu phố D, phường B, thành phố H, tỉnh Kiên Giang; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ học vấn: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Văn H, sinh năm 1979 và bà Đoàn Thị P, sinh năm 1980; có vợ Nguyễn Thị Cẩm D, sinh năm 2002 (không đăng ký kết hôn, hiện tại không sống chung) và 01 người con sinh năm 2021; tiền án: không; kiền sự: không; nhân thân: ngày 05/3/2020 bị Công an phường G, thành phố V, tỉnh Hậu Giang xử phạt vi phạm hành chính 750.000đ về hành vi đánh nhau, đã nộp phạt ngày 10/3/2020; ngày 30/6/2021 bị Tòa án nhân dân thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại cơ sở cai nghiện ma túy thành phố Cần Thơ, thời gian 12 tháng, thực hiện xong ngày 02/3/2022; bị tạm giữ: ngày 23/01/2023, tạm giam: ngày 27/01/2023 đến nay (Có mặt).
- Người bào chữa chỉ định cho bị cáo: Luật sư Nguyễn D1 - Thuộc Đoàn Luật sư tỉnh K (Có mặt).
- Người bị hại: Ông Bùi Út E, sinh năm 1992 (đã chết)
Địa chỉ: khu phố D, phường B, thành phố H, tỉnh Kiên Giang.
- Người đại diện hợp pháp của người bị hại:
1. Ông Bùi Văn T, sinh năm 1948 - Cha ruột bị hại (Vắng mặt, có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt)
2. Bà Thị C, sinh năm 1953 - Mẹ ruột bị hại (Vắng mặt, có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Số A đường P, khu phố D, phường B, thành phố H, tỉnh Kiên Giang
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Đặng Văn H, sinh năm 1979. Nơi cư trú: ấp E, xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang (Có mặt).
- Người làm chứng: Bà Bùi Thúy A, sinh năm 1989. Nơi cư trú: ấp M, xã T, thành phố V, tỉnh Hậu Giang; Chỗ ở hiện nay: khu phố D, phường B, thành phố H, tỉnh Kiên Giang (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 19 giờ ngày 22/01/2023, Đặng Minh K (K1) và Bùi Thúy A, (vợ không đăng ký kết hôn của K) đến phòng trọ của Bùi Thúy V (chị ruột A) tại nhà trọ M thuộc Tổ H, Khu phố D, phường B, thành phố H, tỉnh Kiên Giang chơi. Đến khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, Bùi Út E (tên thường gọi là B, em ruột của Thúy A) đi đến phòng trọ tìm T. Lúc này, Út E gặp K đứng trước cửa phòng trọ của chị V và hỏi K “Bà tám đâu rồi ông T1” (T là chị thứ tám của Út E), K trả lời: “ở trong phòng nè”, Út E nhìn vào trong phòng trọ chửi T, hai bên chửi nhau thô tục. Út Em định xong vào đánh Thúy A thì Thúy A chạy vào phòng trọ lấy một cây dao bằng kim loại cán gỗ, lưỡi dao bằng kim loại một cạnh sắc, một mũi bầu dài 21,6cm, cán bằng gỗ cầm trên tay chạy ra nhá nhá Út E nhưng không trúng, Út E xông vào định đánh Thúy A thì được K can ngăn. Lúc này, Út E và K cự cãi nhau, Út E dùng tay đánh vào mặt K, K dùng tay đỡ và kêu Út E đi về thì bị Út E dùng tay đánh vào mặt thêm một cái. Tiếp đó, Út E lấy một đoạn cây tre dài 1,27m có sẵn ở trước cửa phòng trọ cầm lên xông đến đánh K, K dùng tay đỡ nên trúng vào mặt trong khuỷu tay trái; K giật lấy cây tre của Út E ném bỏ; K tiếp tục đẩy Út E ra thì Út E tiếp tục dùng tay đánh K, K tức giận nói lớn tiếng “Tao hỏi mày có về không”, vừa nói xong thì Út E lượm một
đoạn cây tre dài 3,04m xông đến đánh K nhưng không trúng, K xông vào đánh nhau với Út E, Thúy A đứng gần đó chạy đến can ngăn. Út E đánh K ngã xuống đất rồi nắm chân phải của K kéo lê và dùng chân đạp vào mông của K 02 - 03 cái. K vùng vẫy thoát ra được và đứng lên thì bị Út E dùng tay trái ôm xiết cổ, do khoảng cách gần nhau, nên Út E không cầm được cây tre dài để đánh nhau nên Út E bỏ cây tre xuống đánh nhau bằng tay với K, Út E dùng tay phải đánh vào lưng của K. Lúc này, K lấy cây dao bấm màu đen, lưỡi bằng kim loại sắc bén, mũi nhọn dài 9,5cm, nơi rộng nhất 2,5cm, cán dao bằng kim loại dài 11,5cm để trong túi quần phía sau bên phải, K cầm dao tay phải bấm cho lưỡi dao bật ra đâm vào lưng bên phải của Út E 01 nhát, K tiếp tục đâm vào bụng bên trái của Út E 01 nhát và đâm 01 nhát vào hạ sườn trái của Út E thì Út E buông tay ôm cổ K ra. Lúc này, K và Út E đứng đối diện với nhau ở khoảng cách 50cm thì K cầm dao đâm nhiều nhát về phía Út E, trong đó có 01 nhát trúng vào ngực phải của Út E. Út Em quay lưng đi ngược ra cổng nhà trọ được vài mét thì ngã gục xuống đất. Lúc này, chị V đi công việc về thấy và chạy lại xem xét vết thương trên người Út E, T đứng gần K và hô lớn tiếng “trời trời em tôi”, K nói với Thúy A “vợ ơi anh đâm nó rồi”, Thúy A hỏi K đâm bằng gì thì K nói “cây dao đây nè” và đưa cây dao bấm đang cầm trên tay cho Thúy A xem, thấy cây dao thì Thúy A nói “ném bỏ đi” và K nắm tay Thúy A đi ra phía sau dãy nhà trọ, K ném bỏ cây dao vào bụi cỏ cách hiện trường khoảng 36m. Sau đó, cả hai quay trở ra cùng chị V chở Út E đi cấp cứu, trên đường đi cấp cứu thì Út E tử vong. Sau khi biết Út E tử vong thì K bỏ trốn. Đến khoảng 09 giờ ngày 23/01/2023, K bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh K giữ người trong trường hợp khẩn cấp.
Tại bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 76/KL-KTHS ngày 20/02/2023 của Phòng K4 Công an tỉnh K kết luận đối với Bùi Út E như sau:
1. Các kết quả chính:
- Vùng ngực phải, khoang liên sườn 5-6, cách đường giữa ngực 8,5cm, có vết thương kích thước 2,2cm x 1cm, bờ mép sắc gọn, sâu vào khoang ngực phải theo hướng từ phải sang trái và chếch xuống dưới gây đứt cơ gian sườn 5-6 cung trước bên phải; Đứt thủng xuyên thấu thùy giữa và thùy dưới phổi phải.
- Vùng hố chậu trái, cách gai chậu trước trên bên trái 3,5cm và cách đường trắng giữa bụng 7cm, có vết thương kích thước 2cm x 0,9cm, bờ mép sắc gọn, sâu vào ổ bụng theo hướng từ trái sang phải và chếch lên trên gây thủng xuyên thấu mạc treo ruột non dài 1,3cm và đứt bán phần động mạch chậu chung bên trái dài 0,4cm; Ổ bụng có khoảng 700ml máu loãng và 500g máu cục.
- Vùng hạ sườn trái, cách đường trắng giữa bụng 9,5cm và cách hõm nách trái 21cm, có vết thương kích thước 2,3cm x 1cm, bờ mép sắc gọn, sâu vào ổ bụng theo hướng từ trái sang phải, chếch lên trên gây đứt mạc treo đại tràng ngang dài 7cm và đứt thủng dạ dày dài 1,8cm.
- Vùng lưng phải, cách đường giữa cột sống 0,7cm và cách bờ dưới xương bả vai 7cm, có vết thương kích thước 2,3cm x 1cm, bờ mép sắc gọn, sâu vào khoang ngực phải, theo hướng từ trái sang phải, chếch lên trên gây đứt cơ gian sườn 8-9 cung sau bên phải dài 2,2cm và đứt mặt trên cơ hoành dài 2,2cm.
2. Nguyên nhân chết: Sốc mất máu cấp do vết thương vùng ngực phải gây thủng phổi phải và vết thương vùng hố chậu trái gây đứt bán phần động mạch chậu chung bên trái.
3. Cơ chế hình thành thương tích: Vết thương dẫn đến tử vong trên người nạn nhân Bùi Út E có đặc điểm phù hợp với đặc điểm vết thương do vật sắc nhọn gây nên. (Bút lục 92-93).
* Vật chứng thu giữ gồm:
- 01 (một) chiếc dép quai kẹp màu đen bên phải, kích thước 27cm x 10cm;
- 01 (một) chiếc dép quai kẹp màu đen bên phải, kích thước 26cm x 10cm;
- 02 (hai) chiếc dép quai kẹp màu đen bên trái, kích thước 26cm x10cm và kích thước 27cm x 10cm;
- 01 (một) đôi dép nhựa màu trắng có quai ngang màu đen, kích thước 26cm x 10,5cm;
- 01 (một) đoạn cây tre dài 1,27m, đường kính lớn nhất 3cm, đường kính nhỏ nhất 2,5cm;
- 01 (một) đoạn cây tre dài 3,04m, đường kính lớn nhất 04cm, đường kính nhỏ nhất 03cm, có một đầu bị gãy;
- 01 (một) đoạn cây tre dài 97cm, đường kính lớn nhất 03cm, đường kính nhỏ nhất 02cm, có một đầu bị gãy;
- 01 (một) cây dao bằng kim loại cán gỗ, lưỡi dao bằng kim loại một cạnh sắc, một mũi bầu dài 21,6cm, nơi rộng nhất 6,3cm; cán bằng gỗ dài 12,4cm, đường kính 3,2cm, một đầu giáp với lưỡi dao có gắn khoen bằng kim loại.
- 01 (một) cây dao kim loại dạng xếp màu đen, lưỡi dao bằng kim loại một cạnh sắc một đầu nhọn dài 9,5cm, nơi rộng nhất 2,5cm, cán dao bằng kim loại dài 11,5cm.
- 01 (một) khăn bằng vải màu trắng, sọc màu đỏ, kích thước 30cm x 30cm.
- 03 (ba) mẫu máu.
- 01 (một) cái quần short (quần lửng) vải jean màu xanh có dính nhiều dịch màu nâu đỏ (nghi là máu);
- 01 (một) cái áo thun tay ngắn màu đen, cổ áo dạng có bâu, cổ áo và tay áo có viền vải sọc trắng - đỏ - đen.
Về phần trách nhiệm dân sự: Gia đình bị hại yêu cầu bồi thường mai táng phí số tiền 37.000.000đ, ngoài ra không yêu cầu thêm khoản nào khác. Ông Đặng Văn H là cha ruột Đặng Minh K đã bồi thường 37.000.000đ cho gia đình bị hại.
Tại bản Cáo trạng số: 88/CT - VKSTKG-P2 ngày 30/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang đã truy tố bị cáo Đặng Minh k bị Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang truy tố về tội “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
- Đại diện Viện kiểm sát có ý kiến: Giữ nguyên quyết định truy tố đối với Đặng Minh K. Đề nghị áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Đăng Minh K2 từ 10 đến 12 năm tù. Về trách nhiệm dân sự, đề nghị ghi nhận sự tự thỏa thuận giữa bị cáo và đại diện hợp pháp của bị hại. Về vật chứng, đề nghị tịch thu tiêu hủy các vật chứng đã thu giữ hiện không còn giá trị sử dụng.
- Bị cáo Đặng Minh K có ý kiến: Thừa nhận bản thân đã dùng dao đâm vào người Bùi Út E dẫn đến tử vong như truy tố của Viện kiểm sát. Đồng ý chịu trách nhiệm bồi thường thêm cho đại diện hợp pháp bị hại 30.000.000đ.
- Người bào chữa cho bị cáo K có ý kiến: Đồng ý theo tội danh Viện kiểm sát truy tố, luận tội đối với bị cáo K3. Tuy nhiên, không đồng ý theo kết luận bị cáo phạm tội thuộc trường hợp có tính chất côn đồ. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện bồi thường; tinh thần bị kích động do hành vi trái pháp luật của bị hại... Xử bị cáo mức án nhẹ nhất có thể.
- Đại diện hợp pháp của bị hại Út E là ông Bùi Văn T và bà Thị C vắng mặt nhưng có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, đồng thời trong đơn nêu ý kiến: Về trách nhiệm hình sự xin giảm hình phạt cho bị cáo; về trách nhiệm dân sự yêu cầu bồi thường thêm 30.000.000đ.
- Ông Đặng Văn H cha ruột bị cáo K có ý kiến: Số tiền 37.000.000₫ bỏ ra bồi thường cho gia đình bị hại thay bị cáo K, nay không yêu cầu xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh K, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Xét hành vi bị truy tố của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo Đặng Minh K khai nhận vào ngày 22/01/2023 đã dùng dao đâm vào người Bùi Út E, hậu quả làm Út E tử vong. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án như lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra; lời khai của người làm chứng; kết luận giám định,...Từ đó có căn cứ để kết luận hành vi bị cáo K thực hiện có đủ yếu tố cấu thành tội giết người theo quy định tại Điều 123 Bộ luật hình sự.
Tuy nhiên, theo chứng cứ có trong hồ sơ và kết quả tranh tụng tại phiên tòa cho thấy, bị cáo K thực hiện hành vi phạm tội không thuộc khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự với tình tiết định khung có tính chất côn đồ (điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự) như truy tố và luận tội của Viện kiểm sát, mà phạm vào khoản 2 Điều 123 Bộ luật hình sự. Bởi lẽ, không phải vô cớ hay vì những lý do nhỏ nhặt bị cáo K có hành vi hung hăng tấn công bị hại, mà do chính bị hại Út E có hành vi tấn công bị cáo K trước, cụ thể khi Út E đến gây sự với chị Thúy A (là chị ruột của Út E và là người đang sống chung như vợ chồng với bị cáo K) thì K khuyên can kêu Út E về nhưng Út E không chịu về mà sau đó còn dùng cây là hung khí nguy hiểm đánh bị cáo K nhiều cái, khi bị cáo K té ngã thì Út E còn nắm chân kéo lê và dùng chân đạp vào mông, sau đó còn dùng tay xiết cổ... Với một chuỗi hành vi tấn công quyết liệt, liên tục như vậy của Út E làm cho bị cáo K bị kích động tinh thần, bực tức không kiềm chế được bản thân mới thực hiện hành vi tấn công lại.
[3] Xét tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo thấy rằng, hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, đã cố ý xâm phạm đến tính mạng người khác một cách trái pháp luật, thể hiện sự xem thường pháp luật, xem thường tính mạng, sức khỏe người khác. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nên phải bị truy tố và xét xử đối với hành vi đã thực hiện theo quy định của pháp luật.
[4] Về nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại theo đúng yêu cầu của gia đình bị hại đưa ra; phạm tội trong trường hợp tinh thần bị kích động do hành vi
trái pháp luật của bị hại; đại diện hợp pháp của bị hại có ý kiến xin giảm hình phạt cho bị cáo, nên bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, e, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết tăng nặng: không.
Từ các phân tích trên, Hội đồng xét xử chấp nhận một phần ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và ý kiến của người bào chữa cho bị cáo, quyết định xử phạt bị cáo một mức hình phạt tù tương xứng tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo, để có thời gian cải tạo, giáo dục bị cáo, đồng thời cũng nhằm răn đe cảnh tỉnh chung.
[5] Về trách nhiệm dân sự:
Tại phiên tòa, bị cáo K đồng ý chịu trách nhiệm tiếp tục bồi thường 30.000.000₫ như yêu cầu của đại diện hợp pháp bị hại đưa ra. Thấy rằng, đây là sự tự nguyện thỏa thuận giữa hai bên và không trái pháp luật, nên ghi nhận.
Ông Đặng Văn H cha ruột bị cáo K có ý kiến số tiền 37.000.000₫ bỏ ra bồi thường cho gia đình bị hại thay bị cáo K, nay không yêu cầu giải quyết, nên không xem xét đến.
[6] Về biện pháp tư pháp: Các vật chứng đã thu giữ trong quá trình điều tra là công cụ bị cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội và liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo, hiện không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy theo quy định tại Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
[7] Về án phí, căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23, khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo K phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và 1.500.000đ án phí dân sự sơ thẩm (30.000.000₫ x 5%).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Đặng Minh K (tên gọi khác: K1) phạm tội “Giết người”.
2. Căn cứ khoản 2 Điều 123; điểm b, e, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017:
Xử phạt bị cáo Đặng Minh K (tên gọi khác: K1) 07 (bảy) năm tù. Thời điểm chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bị tạm giữ (ngày 23/01/2023).
3.Về trách nhiệm dân sự, áp dụng khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự; khoản 1 Điều 584, khoản 1 Điều 585 và Điều 591 Bộ luật dân sự:
Buộc bị cáo Đặng Minh K phải tiếp tục bồi thường cho đại diện hợp pháp bị hại Bùi Út E là ông Bùi Văn T và bà Thị Cao 3 (ba mươi triệu đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của ông T, bà C nếu bị cáo K không bồi thường hoặc bồi thường không đủ số tiền nêu trên thì hàng tháng bị cáo K còn phải trả tiền lãi cho ông T, bà C theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật dân sự tương ứng với thời gian và số tiền chậm thi hành án.
4. Về biện pháp tư pháp, áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy các vật chứng sau:
- 01 (một) chiếc dép quai kẹp màu đen bên phải, kích thước 27cm x 10cm;
- 01 (một) chiếc dép quai kẹp màu đen bên phải, kích thước 26cm x 10cm;
- 02 (hai) chiếc dép quai kẹp màu đen bên trái, kích thước 26cm x10cm và kích thước 27cm x 10cm;
- 01 (một) đôi dép nhựa màu trắng có quai ngang màu đen, kích thước 26cm x 10,5cm;
- 01 (một) đoạn cây tre dài 1,27m, đường kính lớn nhất 3cm, đường kính nhỏ nhất 2,5cm;
- 01 (một) đoạn cây tre dài 3,04m, đường kính lớn nhất 04cm, đường kính nhỏ nhất 03cm, có một đầu bị gãy;
- 01 (một) đoạn cây tre dài 97cm, đường kính lớn nhất 03cm, đường kính nhỏ nhất 02cm, có một đầu bị gãy;
- 01 (một) cây dao bằng kim loại cán gỗ, lưỡi dao bằng kim loại một cạnh sắc, một mũi bầu dài 21,6cm, nơi rộng nhất 6,3cm; cán bằng gỗ dài 12,4cm, đường kính 3,2cm, một đầu giáp với lưỡi dao có gắn khoen bằng kim loại.
- 01 (một) cây dao kim loại dạng xếp màu đen, lưỡi dao bằng kim loại một cạnh sắc một đầu nhọn dài 9,5cm, nơi rộng nhất 2,5cm, cán dao bằng kim loại dài 11,5cm.
- 01 (một) khăn bằng vải màu trắng, sọc màu đỏ, kích thước 30cm x 30cm.
- 03 (ba) mẫu máu.
- 01 (một) cái quần short (quần lửng) vải jean màu xanh có dính nhiều dịch màu nâu đỏ (nghi là máu);
- 01 (một) cái áo thun tay ngắn màu đen, cổ áo dạng có bâu, cổ áo và tay áo có viền vải sọc trắng - đỏ - đen.
(Các vật chứng trên hiện Cục Thi hành án dân sự tỉnh Kiên Giang đang quản lý, theo Quyết định chuyển vật chứng số 53/QĐ-VKSKG-P2 ngày 30/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang và Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng
giữa đại diện Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh K và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Kiên Giang lập ngày 30/10/2023).
5. Về án phí, căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23, khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án:
Buộc bị cáo Đặng Minh K phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và 1.500.000₫ án phí dân sự sơ thẩm.
6. về quyền kháng cáo: Báo cho bị cáo Đặng Minh K và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Đặng Văn H biết có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 11/01/2024); Đại diện hợp pháp của bị hại Bùi Út E có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.
Trường hợp phần dân sự của bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hánh án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Võ Văn Lịnh |
Bản án số 03/2024/HS-ST ngày 11/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG về giết người (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 03/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Giết người (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/01/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đặng Minh Khôi dùng hung khí giết bị hại
