|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 03/2024/HS-ST
Ngày: 11-01-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Đức Anh
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Đinh Hoàng Việt
Bà Đỗ Thị A
- Thư ký phiên tòa: Bà Trà Thị Thúy Diễm – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 tham gia phiên tòa:
Bà Hoàng Tuyết Vân - Kiểm sát viên
Trong ngày 11 tháng 01 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 140/2023/TLST-HS ngày 30 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 117/2023/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 12 năm 2023 đối với các bị cáo:
1/ Họ và tên: Nguyễn Tuấn K; Giới tính: Nam;
Sinh ngày: 10/10/1986; Tại: Bến Tre;
Nơi đăng ký thường trú: Ấp 1, xã Phú Lập, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai;
Chỗ ở: 97P Nguyễn Duy Dương, Phường 9, Quận 5, TP. Hồ Chí Minh;
Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Không;
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không;
Quan hệ gia đình:
Cha: Nguyễn Văn X, sinh năm 1956; còn sống;
Mẹ: Lê Thị H, sinh năm: 1961; còn sống
Bị cáo là con út trong gia đình có 05 anh chị em; Bị cáo chưa có vợ con;
Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 02/06/2023 tại nhà tạm giữ Công an Q.
2/ Họ và tên: Nguyễn Văn L; Giới tính: Nam;
Sinh ngày: 01/01/1979; Tại: Đồng Tháp;
Nơi đăng ký thường trú: Khóm B, Phường A, Thành phố H, tỉnh Đồng Tháp;
Chỗ ở: Nhà không số (phía sau nhà số I), Nguyễn Duy D, Phường I, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh;
Trình độ học vấn: 3/12; Nghề nghiệp: Sửa xe;
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không;
Quan hệ gia đình:
Cha: Nguyễn Văn L1, (không rõ năm sinh, còn sống)
Mẹ: Võ Thị T, (không rõ năm sinh, còn sống)
Vợ: Hồ Thị Ngọc N, sinh năm: 1987
Bị cáo có 01 con sinh năm: 2013; Bị cáo là con lớn trong gia đình có 03 anh em;
Tiền án: Ngày 18/6/2013 “Tổ chức đánh bạc” bị Toà án nhân dân Quận 5 xử 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm và phạt bổ sung 10.000.000 đồng, theo Bản án số 187/HSST ngày 24/12/2013. Qua xác minh bị cáo mới chấp hành xong phần án phí hình sự và hình phạt bổ sung vào ngày 07/6/2023.
Tiền sự: không
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/5/2023 tại nhà tạm giữ Công an Q
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
Bà Nguyễn Thị Thu N1 – Sinh năm 1964
Địa chỉ: A N, Phường I, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh
Bà Trần Thị C – Sinh năm 1961
Địa chỉ thường trú: T, M, Thành phố L, tỉnh An Giang
Nơi ở hiện nay: A N, Phường I, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lúc 19 giờ ngày 22/5/2023 tại trước số B C, Phường A, Quận A, Tổ tuần tra 363 Công an Thành phố H kiểm tra hành chính đối tượng Nguyễn Tuấn K đang điều khiển xe máy hiệu Honda Vario Biển số: 59K2-091.57. Qua kiểm tra phát hiện trong điện thoại di động của K có nhiều nội dung tin nhắn đánh bạc bằng hình thức ghi số đề và cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự nên Tổ tuần tra 363 Công an Thành phố H giao K cho Công an Q xử lý.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Nguyễn Tuấn K khai: Qua tìm hiểu trên mạng xã hội nên biết được cách thức ghi số đề, cách đây khoảng 10 ngày, K bắt đầu ghi số đề cho những người quen biết. Thông qua số điện thoại 0909.141.xxx hoặc tài khoản zalo của K tên “Nguyễn Tuấn K1” đăng ký bằng số điện thoại 0909.141.xxx. Hàng ngày, K ghi số đề của các đài Miền Nam, kết quả xổ số lúc 16 giờ 30 phút; các đài Miền Trung, kết quả xổ số lúc 17 giờ 30 phút; các đài M, kết quả xổ số lúc 18 giờ 30 phút. Khi kết thúc xổ số Miền B thì K sẽ tổng hợp tính tiền thắng thua với những người ghi đề, trả tiền thắng đề, sau đó sẽ xoá hết tin nhắn. Do mới ghi số đề từ ngày 18/5//2023 đến ngày 22/5/2023 thì bị phát hiện nên chưa thu lợi. Ngày 22/5/2023, K đã nhận ghi số đề các đài M, là sổ xố kiến thiết Tp ., Đồng Tháp; M, là sổ xố kiến thiết tỉnh Huế, Phú Yên và Miền B là sổ xố kiến thiết H, cho Nguyễn Văn L, Nguyễn Thị Thu C1 và người tên O (chưa rõ lai lịch) qua tin nhắn zalo và nhận ghi đề các ngày trước đó cho Trần Thị C qua nhắn tin qua SMS. Do K chưa tính tiền thắng thua nên còn lưu trữ các nội dung nhận ghi đề trong điện thoại thì bị kiểm tra phát hiện. Ngoài ra trong điện thoại còn có tin nhắn về việc cho vay đối với T1 98 và M, K không biết nhân thân lai lịch mà chỉ biết địa chỉ nơi làm việc và đã cho T1 vay số tiền 7.000.000 đồng, M 360 vay 15.000.000 đồng với lãi suất 15%/tháng.
Qua xác minh, kiểm tra tin nhắn trong điện thoại của K có nhận ghi số đề cho
- Tài khoản zalo tên “Loc Suaxe”- SĐT 0938.448.xxx, của Nguyễn Văn L, tên thường gọi là L2:
- + Lúc 16 giờ 12 phút ngày 22/5/2023, L gửi nhắn mua số đề: đá 04 con 38; 38; 78; 79 hai đài M (là TP ., Đồng Tháp) số tiền 5.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc là 2.160.000 đồng.
- + Lúc 17 giờ ngày 22/5/2023, L gửi nhắn mua số đề: đá 04 con 38; 38; 78; 79 hai đài M (là H1 và Phú Yên) 5.000 đồng; 87 bao lô 50.000 đồng hai đài. Số tiền đánh bạc là 3.960.000 đồng. Sau đó, L gửi thêm 01 tin nhắn mua số đề: đá 03 con 79; 39; 38 hai đài Miền Trung 10.000 đồng. Số tiền đánh bạc là 2.160.000 đồng. Tổng số tiền L và K đã đánh bạc các đài Miền T2 là 6.120.000đồng.
- + Lúc 17 giờ 44 ngày 22/5/2023, có 02 tin nhắn mua số đề: đá 03 con 87; 78; 79 đài M (Hà Nội) 10.000 đồng; 87 bao lô Miền Bắc 50.000 đồng và đá 04 con 03; 79; 38; 93 đài Miền B 5.000 đồng. Thành tiền: 4.590.000 đồng. Kết quả xổ số lúc 18 giờ 30 phút ngày 22/5/2023, L thắng số 38-93, tỷ lệ thắng là 630 lần = 5.000 * 630 = 3.150.000 đồng. Tổng số tiền L và K đã đánh bạc đài Miền B là: 7.740.000 đồng.
- Tài khoản zalo tên “Nep”- SĐT 0935.910.xxx, của một người tên O (chưa rõ lai lịch):
- + Lúc 15 giờ 36 phút ngày 22/5/2023 O nhắn tin mua số đề: đá 04 con 73; 33; 52; 18 hai đài M (TP ., Đồng Tháp) 1.000 đồng, số tiền đánh bạc là 432.000 đồng.
- + Lúc 15 giờ 40 phút ngày 22/5/2023 O nhắn tin mua số đề: đá 04 con: 12; 21; 04; 44 hai đài M (TP ., Đồng Tháp) số tiền 1.000 đồng, số tiền đánh bạc là 432.000 đồng.
Tổng số tiền đánh bạc đài Miền Nam giữa O với K là: 864.000 đồng.
- + Lúc 16 giờ 41 phút ngày 22/5/2023 O gửi tin nhắn mua số đề: đá 04 con: 73; 33; 52; 18 hai đài M (Huế, Phú Yên) 1.000 đồng, số tiền đánh bạc là 432.000 đồng.
- + Lúc 17 giờ 32 phút ngày 22/5/2023 O gửi tin nhắn mua số đề: đảo xỉu chủ số 676 (gồm: 676; 667; 766) đài Miền Bắc 5.000 đồng; 676 bao lô 2.000 đồng, đá 04 con: 67; 76; 71; 74 đài Miền B 1.000 đồng. Số tiền đánh bạc là 430.000 đồng.
- Tài khoản zalo tên “Di Nguyet” SĐT: 0909.388.xxx của Nguyễn Thị Thu N1: Lúc 17 giờ 30 phút ngày 22/5/2023 Nguyệt gửi tin nhắn mua số đề: đầu đuôi số 34 đài Miền B 10.000 đồng, thành tiền: 40.000 đồng. Tổng số tiền N1 ghi số đề với K là 40.000 đồng.
- Tin nhắn từ điện thoại của K đến danh bạ điện thoại tên Caphe C2 - SĐT: 0935.168.xxx (của Trần Thị C, cư ngụ: A N, Phường I, Quận E):
- + Lúc 16 giờ 34 phút ngày 18/5/2023 đánh 34, 43 bao lô đài Miền Bắc 5.000 đồng; 34, 43 đầu đuôi đài M1 6.000 đồng, 48.000 đồng, kết quả xổ số 18 giờ 30 phút, số tiền đánh bạc là 264.000 đồng và đánh 43; 34 đầu đuôi hai đài M (Bình Định, Quảng Trị) 6.000 đồng, số tiền đánh bạc là 38.000 đồng. Kết quả xổ số Miền Trung bà C trúng số 43 với số tiền 430.000 đồng.
- + Lúc 10 giờ 34 phút ngày 19/6/2023 (thứ 6) K gửi 01 tin nhắn “loi 430n" lời 430.000 đồng.
Tổng số tiền đánh bạc bằng hình thức ghi số đề ngày 22/5/2023, đài M2 của: Nguyễn Tuấn K là 3.024.000 đồng, Nguyễn Văn L là 2.160.000 đồng, O là 864.000 đồng; đài Miền Trung của: Nguyễn Tuấn K là 6.552.000 đồng, Nguyễn Văn L là 6.120.000 đồng, O là 432.000 đồng; đài Miền Bắc của: Nguyễn Tuấn K là 8.210.000 đồng, Nguyễn Văn L là 7.740.000 đồng, Nguyễn Thị Thu N1 là 40.000 đồng; O là 430.000 đồng.
Số tiền tiền đánh bạc ngày 18/5/2023, giữa K và Trần Thị C, đài M3 là 38.000 đồng; đài Miền B là 264.000 đồng.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q, Nguyễn Văn L, Nguyễn Thị Thu N1, Trần Thị C khai nhận hành vi đánh bạc bằng hình thức ghi số đề với Nguyễn Tuấn K đúng như nội dung đã nêu trên. Đối với O chưa xác định lai lịch nên không mời làm việc được. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q đã có công văn yêu cầu cung cấp thông tin khách hàng thuê bao 0935910897 nhưng vẫn chưa có kết quả.
Qua xác minh và kiểm tra điện thoại di động của K còn thể hiện việc cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự đối với: Người tên T1, làm việc và cư ngụ tại: I T, Quận E, người tên M là nhân viên quán 360 H, Phường D, Quận E.
Qua xác minh tại địa chỉ trên không có ai tên M và T3 cư trú và làm việc; Tun có tên thật là Nguyễn Thị Mỹ T4, cư ngụ: F C, Phường A, Quận A.
Tại Cơ quan điều tra, bị can K khai đã cho 02 người vay là T1 (có tên Nguyễn Thị Mỹ T4 vay 7.000.000 đồng, lãi suất 5%/tháng; Người tên M (không rõ lai lịch) vay 15.000.000 đồng, lãi suất 15%/tháng và chưa thu lợi bất chính.
Nguyễn Thị Mỹ T4 khai, vào ngày 22/4/2023 T4 vay của K số tiền 7.000.000 đồng, với lãi suất 15%/tháng. Hình thức trả góp trong vòng 30 ngày, mỗi ngày trả 268.000 đồng, hiện T4 đã góp cho K được 22 ngày với số tiền 5.896.000 đồng.
Như vậy vay 7.000.000 đồng lãi suất cao nhất là 1,666% tương đương 38.873 đồng/1 tháng hoặc 0,5/1 ngày tương đương 35.000 đồng. Nên tiền thu lợi bất chính là 35.000 đồng x 22 ngày – 38.873 đồng = 731.127 đồng, số tiền này chưa đủ cơ sở truy cứu trách nhiệm hình sự.
Vật chứng, tài sản thu giữ:
- - 01 ĐTDĐ hiệu Iphone 11 Promax - là tài sản bị can K sử dụng vào việc phạm tội.
- - 01 ĐTDĐ hiệu Redmi Note 11 Pro - là tài sản bị can L sử dụng vào việc phạm tội.
- - 01 ĐTDĐ hiệu Samsung A03 - là tài sản Cúc nhắn tin ghi số đề với K, do hành vi chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q, đã trả lại cho bà Trần Thị C.
- - 01 ĐTDĐ hiệu Redmi - là tài sản Nguyệt nhắn tin ghi số đề với K, do hành vi chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q đã trả lại cho bà Nguyễn Thi Thu N2
Tại Cáo trạng số 125/CT-VKSQ10 ngày 30 tháng 11 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 Thành Phố Hồ Chí Minh đã truy tố: Nguyễn Tuấn K, Nguyễn Văn L về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1, Điều 321 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
- - Các bị cáo K, L đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như lời khai tại cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh công bố bản luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo đúng theo nội dung bản cáo trạng. Sau khi phân tích tính chất và hậu quả của vụ án đối với xã hội, bị hại sau khi nêu lên những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải) của bị cáo; đã đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng :
- - Khoản 1 Điều 321; điểm g, khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Nguyễn Tuấn K, xử phạt bị cáo: Nguyễn Tuấn K từ 7 (bảy) tháng 14 (mười bốn) ngày tù đến 09 (chín tháng) tù.
- - Khoản 1 Điều 321; điểm g, h khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Nguyễn Văn L, xử phạt bị cáo: Nguyễn Văn L từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.
Phạt tiền các bị cáo từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng.
Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp: Đề nghị Hội đồng xét xử xử lý theo quy định của pháp luật.
- - Ý kiến của bị cáo: Các bị cáo không có ý kiến tranh luận gì.
- - Lời nói sau cùng của bị cáo:
Bị cáo Nguyễn Tuấn K: Bị cáo rất hối hận về hành vi của mình, mong Hội đồng xét xử khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt.
Bị cáo Nguyễn Văn L: Bị cáo rất hối hận về hành vi của mình, mong Hội đồng xét xử khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên thu thập; do bị can, bị cáo, người tham gia tố tụng khác cung cấp đều thực hiện đúng trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về những chứng cứ, tài liệu đã thu thập, cung cấp. Do đó, những chứng cứ, tài liệu trong vụ án đều hợp pháp.
[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng như đã nêu trên. Tại các bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung bị can mà bị cáo đã trình bày nội dung lời khai là hoàn toàn tự nguyện. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[3] Nhận định hành vi và điều khoản xét xử:
Xét theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ và lời khai của các bị cáo Nguyễn Tuấn K, Nguyễn Văn L tại phiên tòa ngày hôm nay đã có đủ cơ sở để cho rằng:
Trong ngày 22/5/2023 các bị cáo đã thực hiện hành vi đánh bạc bằng hình thức ghi số đề với số tiền cụ thể là:
Bị cáo K: đài M2 là 3.024.000 đồng; đài Miền T2 là 6.552.000 đồng; đài Miền B là 8.210.000 đồng.
Số tiền dùng đánh bạc của bị cáo Nguyễn Văn L: đài M2 là 2.160.000 đồng; đài Miền T2 là 6.120.000 đồng; đài Miền B là 7.740.000 đồng.
Các bị cáo K, L thực hiện hành vi đánh đề trong đó có 02 lần đánh đề trong ngày với số tiền trên 5.000.000 đồng, cụ thể: đài Miền T2 với số tiền 6.120.000 đồng và đài M1 số tiền 7.740.000 đồng. Do đó có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Tuấn K và Nguyễn Văn L đã phạm tội : “Đánh bạc”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, ảnh hưởng đến tình hình trật tự địa phương. Do vậy hành vi phạm tội của bị cáo cần phải bị xử phạt nghiêm minh bằng luật hình với mức hình phạt tương xứng với nhân thân, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cụ thể cần thiết phải cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian nhất định để cải tạo giáo dục bị cáo.
[4] Việc áp dụng hình phạt, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:
- - Tình tiết tăng nặng: Hai bị cáo phạm tội 02 lần trở lên - là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm g, khoản 1 điều 52 Bộ Luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Bị cáo L phạm tội thuộc trường hợp “Tái phạm” - là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h, khoản 1, Điều 52 Bộ Luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
- - Tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s, khoản 1, Điều 51 Bộ Luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
[5]. Đối với Nguyễn Thị Thu N2 và Trần Thị C, chưa có tiền án, tiền sự về hành vi đánh bạc, số tiền dùng để đánh bạc chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, Công an Q đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Thi Thu N2 và Trần Thị C, là có cơ sở.
Đối với người tên O, hiện chưa rõ lai lịch, khi nào làm rõ xử lý sau.
Đối với hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự của bị cáo K chưa đủ cơ sở truy cứu trách nhiệm hình sự, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q có công văn đề nghị Ủy ban nhân dân Quận A1 ra Quyết định xử phạt hành chính đối với Nguyễn Tuấn K là đúng quy định của pháp luật.
[6] Về hình phạt bổ sung:
- - Đối với bị cáo Nguyễn Tuấn K: Xét thấy, bị cáo K tuy phạm tội lần đầu nhưng ngoài hành vi đánh bạc còn thực hiện các hành vi nguy hiểm khác tuy chưa đến mức xử lý hình sự nhưng cần áp dụng hình phạt bổ sung để mang tính chất răn đe, giáo dục; Vì vậy Hội đồng xét xử quyết định phạt bổ sung bị cáo K số tiền 10.000.000 đồng.
- - Đối với bị cáo Nguyễn Văn L: Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo không có điều kiện kinh tế nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[7] Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp khác:
Về xử lý vật chứng, đồ vật: Áp dụng điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
Tịch thu sung quỹ :
- - 01 ĐTDĐ hiệu Iphone 11 Promax - là tài sản bị cáo K sử dụng vào việc phạm tội.
- - 01 ĐTDĐ hiệu Redmi Note 11 Pro - là tài sản bị cáo L sử dụng vào việc phạm tội.
Về án phí sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Tuấn K, bị cáo Nguyễn Văn L mỗi người phải chịu án phí hình sự sơ thẩm số tiền là 200.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1/ Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Tuấn K, Nguyễn Văn L phạm tội “Đánh bạc”.
2/ Về hình phạt và điều luật áp dụng:
* Căn cứ vào khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm g, khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017)
Xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn K 07 (bảy) tháng 14 (mười bốn) ngày tù. Thời hạn tù tính từ ngày 02 tháng 6 năm 2023.
Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Tuấn K số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng).
Căn cứ Điều 328 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Trả tự do cho bị cáo Nguyễn Tuấn K ngay tại phiên tòa nếu bị cáo K không bị tạm giam về một tội phạm khác.
* Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm g, h khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017)
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 24 tháng 5 năm 2023.
3/ Xử lý vật chứng:
Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
Tịch thu nộp ngân sách nhà nước : 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax, 01 điện thoại di động hiệu Redmi Note 11 Pro.
(Tình trạng vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 23/2024 ngày 30 tháng 11 năm 2023 giữa Công an Q, Thành phố Hồ Chí Minh và Chi cục Thi hành dân sự Q1, Thành phố Hồ Chí Minh)
4/ Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Bị cáo Nguyễn Tuấn K, bị cáo Nguyễn Văn L mỗi người phải chịu án phí hình sự sơ thẩm số tiền là 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng).
5/ Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình.
Thời hạn kháng cáo là 15 ngày; đối với bị cáo tính từ ngày tuyên án; đối với bị hại vắng mặt tại phiên tòa tính từ ngày được giao hoặc ngày niêm yết bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Đức Anh |
Bản án số 03/2024/HS-ST ngày 11/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự sơ thẩm về tội đánh bạc
- Số bản án: 03/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/01/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 1/ Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Tuấn K, Nguyễn Văn L phạm tội “Đánh bạc”. 2/ Về hình phạt và điều luật áp dụng: * Căn cứ vào khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm g, khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017) Xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn K 07 (bảy) tháng 14 (mười bốn) ngày tù. Thời hạn tù tính từ ngày 02 tháng 6 năm 2023. Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Tuấn K số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng). Căn cứ Điều 328 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Trả tự do cho bị cáo Nguyễn Tuấn K ngay tại phiên tòa nếu bị cáo K không bị tạm giam về một tội phạm khác. * Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm g, h khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017) Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 24 tháng 5 năm 2023. 3/ Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu nộp ngân sách nhà nước : 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax, 01 điện thoại di động hiệu Redmi Note 11 Pro.
