TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 3 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án: 03/2024/HS-ST Ngày: 10-01-2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 3 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Huệ Chi
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Xuyến
- Bà Đặng Thị Ngọc Hằng
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Dung – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận 3, TP. Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nghiệp – Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 01năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 3 Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 105/2023/TLST-HS ngày 03 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 116/2023/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo: Đỗ Châu T; sinh năm 1988; tại TP .; nơi thường trú: số D đường C, Phường B, Quận C, TP .; nghề nghiệp: buôn bán; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Văn T1 và bà Châu Thị Kim L; tiền án: Ngày 31/01/2008, bị Toà án nhân dân Quận 3 xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 03 năm (Bản án số 22/2008/HSST). Ngày 30/9/2008, bị Toà án nhân dân Quận 10 xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” . Tổng hợp với bản án số 22/2008 của Toà án nhân dân Quận 3, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù chung cho cả hai bản án là 02 năm 06 tháng tù (Bản án số 167/2008/HSST), chưa nộp phạt số tiền 5.000.000 đồng và án phí HSST. Ngày 13/12/2011, bị Tòa án nhân dân Quận 10 xử phạt 03 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” (Bản án số 172/2011/HSST) và chưa nộp phạt sung công quỹ Nhà nước số tiền 8.500.000 đồng và lãi suất chậm thi hành án; tiền sự: không; nhân thân: Ngày 17/6/2015, bị Toà án nhân dân quận Tân Phú xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số 103/2015/HSST), chấp hành xong hình phạt từ ngày 16/7/2018, đã đóng án phí HSST; bị tạm giữ từ ngày 22/7/2023; bị cáo có mặt
- Bị hại: Chị Lâm Nhất Chi M, sinh năm 2001 (Có đơn xin vắng mặt)
Địa chỉ: số B đường P, Phường B, quận B, TP .
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Châu Thị Kim L, sinh năm 1971 (Có mặt)
Địa chỉ: số D đường C, Phường B, Quận C, TP .
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ ngày 21/07/2023, bị cáo Đỗ Châu T đi xe máy hiệu Honda Vision màu đỏ, biển số 59F2-034.81 đến cửa hàng bán ba lô M.O.L địa chỉ số G đường T, Phường H, Quận C do chị Lâm Nhất Chi M làm chủ để mua ba lô. Sau khi xem một số mẫu hàng đang trưng bày, T thấy có 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 màu tím để bên cạnh máy tính tại quầy tính tiền nên T nảy sinh ý định trộm cắp. T giả vờ nói chị M cho xem sản phẩm mới nên chị M vào kho để lấy ba lô cho T xem. Lợi dụng sơ hở của chị M, T đến quầy thu ngân lấy trộm chiếc điện thoại của chị M cất vào túi quần bên phải rồi lên xe chạy đi. Trên đường đi, T thấy có số điện thoại gọi vào điện thoại của chị M 02 lần nên T bấm tắt và cúp nguồn điện thoại rồi đi về nhà. Đến 13 giờ 30 phút cùng ngày, bị cáo T đi bộ và đem điện thoại đến khu vực công viên L cho một người đàn ông không rõ lai lịch đang tập thể dục tại đây được 650.000 đồng. Khoảng 14 giờ 35 phút cùng ngày, chị M đến Công an PQuận Ctrình báo vụ việc.
Qua điều tra truy xét, xác định bị cáo Đỗ Châu T là người đã sử dụng xe máy hiệu Honda Vision màu đỏ, biển số 59F2-034.81 nên Cơ quan Cảnh sát điều tra -Công an Qtiến hành mời T về trụ sở làm việc thì T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 72/KL-HĐĐGTS-TTHS ngày 27/7/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Quận C: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone 11 màu tím, dung lượng 64Gb vào thời điểm tháng 7/2023 có giá là 6.046.000 đồng.
Vật chứng thu giữ:
- 01 áo khoác dài tay màu đen có sọc trắng ngang vai, 01 quần dài màu đen, 01 mũ bảo hiểm màu đen, 01 áo thun xanh đen thu giữ của bị cáo T, đã nhập kho vật chứng.
- 01 xe máy hiện Honda Vision màu đỏ, biển số 59F2-043.81, số khung RLHJF5810GY831684, số máy JF66E-0573352. Xe do bà Châu Thị Kim L là mẹ của bị cáo T đứng tên chủ sở hữu cho T mượn xe sử dụng, không biết bị cáo thực hiện hành vi phạm tội. Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an Qđã trả lại xe cho bà L1
Về trách nhiệm dân sự: Chị Lâm Nhất Chi M yêu cầu bị cáo T bồi thường số tiền 6.046.000 đồng.
Tại Cáo trạng số 97/CT-VKS-HS ngày 30/10/2023, Viện kiểm sát nhân dân Quận 3 truy tố bị cáo Đỗ Châu T về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
- Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng đã nêu. Lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 3 giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g khoản 2; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo từ 02 (hai năm) 06 (sáu) tháng đến 03 (ba) năm tù. Xử lý vật chứng theo qui định pháp luật.
- Bị hại: Yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 6.046.000 đồng và ngoài ra không yêu cầu gì thêm.
NHẬN THẤY CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an QĐiều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 3, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp
[2] Căn cứ lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, lời khai bị hại, nguời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; Kết luận định giá tài sản số 72/KL-HĐĐGTS-TTHS ngày 27/7/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Quận C và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đã có đầy đủ cơ sở kết luận:
Ngày 21/7/2023, tại số G đường T, Phường H, Quận C, TP ., Đỗ Châu T đã lén lút lấy trộm 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone 11 màu tím, dung lượng 64Gb có giá trị 6.046.000 đồng của chị Lâm Nhất Chi M. Bị cáo T là đối tượng chưa được xóa án tích, nay lại tiếp tục phạm tội do cố ý nên lần này thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm. Hành vi trên đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
[3] Xét hành vi do bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ mà còn gây mất trật tự trị an ở địa phương nên cần có mức án nghiêm mới đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo đồng thời cũng để răn đe góp phần phòng ngừa chung cho xã hội.
[4] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho bị cáo.
[5] Về vật chứng vụ án: Đối với 01 áo khoác dài tay màu đen có sọc trắng ngang vai; 01 quần dài màu đen; 01 mũ bảo hiểm màu đen, 01 áo thun xanh đen thu giữ của T, không có giá trị sử dụng nên tịch thu, tiêu hủy.
[6] Trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa, bị cáo đồng ý bồi thường như yêu cầu của bị hại nên ghi nhận sự tự nguyện bồi thường của bị cáo.
[7] Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng Điều 50; điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Đỗ Châu T đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt: Bị cáo Đỗ Châu T 03 (ba) năm tù. Thời gian tù tính từ ngày 22/7/2023
Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu, tiêu hủy 01 áo khoác dài tay màu đen có sọc trắng ngang vai; 01 quần dài màu đen; 01 mũ bảo hiểm màu đen, 01 áo thun xanh đen thu giữ của Đỗ Châu T, đã được niêm phong có cữ viết, chữ ký của T và dấu mộc của Công an P, Quận C
(Tang vậy tịch thu, tiêu hủy được ghi trong Quyết định chuyển vật chứng số 82/QĐ-VKS-HS ngày 01/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 3)
Áp dụng khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự và Điều 589 Bộ luật Dân sự.
Buộc bị cáo bồi thường cho chị Lâm Nhất Chi M số tiền 6.046.000 đồng. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm; Án phí dân sự sơ thẩm bị cáo phải chịu là 302.300 đồng.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Áp dụng các Điều 331, 333, 336 và Điều 337 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại được quyền kháng cáo trong trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án, hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Nơi nhận:
| T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Huệ Chi |
Bản án số 03/2024/HS-ST ngày 10/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 3 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản (tội phạm hình sự)
- Số bản án: 03/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Tội phạm hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/01/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 3 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đỗ Châu T - Trộm cắp tài sản
