TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 03/2024/HS-ST Ngày: 04-01-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Linh Sương
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Đoàn Hồng Hải
- Bà Trần Thị Tuyết
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Tùng Lâm - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Quang Đẩu - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 01 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai Vụ án hình sự thụ lý số 110/2023/TLST-HS ngày 28 tháng 11 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 130/2023/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:
Phạm Ngọc H ngày 27 tháng 01 năm 1985 tại: Thành phố H khẩu thường trú: D L, Phường I, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh chỗ ở: Không nơi ở nhất định nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 06/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Phạm Văn T, sinh năm 1965 và bà Lê Kim C; không có anh, chị, em ruột; không có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/8/2023, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an Q; bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Bà Nguyễn Thị Bích P, sinh năm 1978; nơi cư trú: 5 N, Phường I, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt).
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Diễm T1, sinh năm 1987; nơi cư trú: 5 N, Phường I, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Với mục đích trộm cắp tài sản bán lấy tiền tiêu xài, khoảng 00 giờ ngày 16/8/2023, Phạm Ngọc H1 sống lang thang tại khu vực gầm cầu vượt C, Quận F bắt xe ôm truyền thống (H1 không nhớ rõ biển số xe của người chạy xe ôm) đi đến khu vực đường N, Phường I, Quận E tìm tài nơi có tài sản sơ hở để trộm cắp. Khi đi, H1 mang theo một cái kìm cộng lực (H1 mua của 01 người không rõ lai lịch tại khu vực Quận F) làm công cụ để cắt khóa trộm cắp tài sản. Khoảng 01 giờ 15 phút cùng ngày, khi đến chùa G, địa chỉ 5 N, Phường I, Quận E, H1 thấy cửa cổng chùa bị khóa. Lúc này, H1 trèo qua cửa sắt cổng chùa vào bên trong sân chùa. Khi vào trong sân chùa, H1 kéo then cài cửa sắt phía bên trái (bên hông) của chùa và đi vào bên trong, đi lòng vòng để tìm tài sản trộm cắp nhưng không tìm thấy tài sản gì. H1 dùng kìm cộng lực cắt ổ khóa cửa sắt nối bên hông chùa để vào bên trong chánh điện. Khi vào trong H1 thấy có chiếc xe mô tô Honda Vision, màu đỏ, biển số 71B4-072.17 đang dựng gần cửa chính (không khóa cổ xe và không có chìa khóa xe). Lúc này H1 đẩy xe mô tô ra khu vực cửa bên hông của chùa (lối đi H1 đã cắt ổ khóa cửa để vào bên trong chùa) với dự định sẽ dắt theo cửa bên hông để lấy trộm xe ra khỏi chùa thì lúc này chị Nguyễn Thị Bích P là ni sư của chùa “Giác Thanh” phát hiện nên H1 bỏ lại chiếc xe mô tô đã lấy trộm và đi ra phía cổng sắt của chùa dùng kìm cộng lực cắt ổ khóa cửa sắt rồi đi ra phía trước chùa nằm đợi nếu không còn ai để ý sẽ tiếp tục quay lại lấy trộm chiếc xe mô tô trên. Lúc này chị P báo cho anh Nguyễn Đăng V (nhà gần bên chùa G) để báo Công an P1, Quận E đến chùa G tiến hành mời H1 về trụ sở làm việc.
Theo Kết luận định giá tài sản số 70/KL-HĐĐGTS ngày 17/8/2023 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân Quận E kết luận xe gắn máy nhãn hiệu Honda Vision, màu đỏ, (giấy đăng ký xe mô tô, xe máy số 223559), biển số 71B4-072.17, đã qua sử dụng, tỷ lệ mới 60% trị giá 9.500.000 đồng.
Vật chứng: 01 (một) xe mô tô Honda Vision, màu đỏ, biển số 71B4-072.17 (không thu giữ); 01 (một) ổ khóa màu vàng có dấu bị cắt, thân khóa có chữ “M”, tình trạng ổ khóa bị hư hỏng, có nhiều vết trầy, đã qua sử dụng; 01 (một) ổ khóa màu đen có dấu bị cắt, giữa thân khóa có miếng kim loại màu xám, tình trạng ổ khóa bị hư hỏng, đã qua sử dụng; 01 (một) áo thun ngắn tay màu đen có hoa văn chữ màu trắng; 01 (một) quần vải dài màu xanh dương đậm; 01 (một) nón vải dạng nón kết màu xanh dương; 01 (một) khẩu trang màu trắng; 01(một) chiếc điện thoại di động hiệu Realme, số IMEI 1: 869566041564451, số IMEI2: 869566041564444; 01 (một) kìm cộng lực ASAKI AK0619 Japan model YQ12A.
Về phần trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường nào.
Tại Bản cáo trạng số 105/CT-VKS ngày 22/11/2023, Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Phạm Ngọc H1 về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa,
Bị cáo Phạm Ngọc H1 khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Quận 5 đã truy tố; bị cáo thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải, thống nhất với tội danh và khung hình phạt như cáo trạng đã nêu, thừa nhận việc truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan sai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5 giữ quyền công tố luận tội và tranh luận như sau: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố Phạm Ngọc H1 về tội “Trộm cắp tài sản”; quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; từ những phân tích trên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Phạm Ngọc H1 hình phạt tù với mức án từ 12 (mười hai) đến 18 (mười tám) tháng tù. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo phạm tội chưa thu lợi bất chính, không có nghề nghiệp, không có thu nhập nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không có yêu cầu bồi thường nên đề nghị không xem xét thêm. Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy: 01 (một) áo thun ngắn tay màu đen có hoa văn chữ màu trắng; 01 (một) quần vải dài màu xanh dương đậm; 01 (một) nón vải dạng nón kết màu xanh dương; 01 (một) khẩu trang màu trắng, 01 (một) xe mô tô Honda Vision, màu đỏ, biển số 71B4-072.17; 01 (một) ổ khóa màu vàng có dấu bị cắt, thân khóa có chữ “M”; 01 (một) ổ khóa màu đen có dấu bị cắt, giữa thân khóa có miếng kim loại màu xám; trả lại cho bị cáo 01 (một) điện thoại di động hiệu Realme, số IMEI1: 869566041564451, số IMEI2: 869566041564444; tịch thu sung công quỹ 01 (một) kìm cộng lực ASAKI AK0619 Japan model YQ12A;
Bị cáo không tranh luận và nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để sớm quay về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
[2] Đối với sự vắng mặt của bị hại là bà Nguyễn Thị Bích P, bà Nguyễn Thị Diễm T1 tại phiên tòa, xét thấy: Tại giai đoạn điều tra, bà P, bà T1 đã được Cơ quan điều tra lấy lời khai theo đúng trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì trong vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì trong vụ án; do đó sự vắng mặt của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không ảnh hưởng đến việc xét xử tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định tại Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
[3] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Căn cứ vào lời khai nhận tội của bị cáo Phạm Ngọc H1 tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa công khai, qua xét hỏi bị cáo Phạm Ngọc H1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo phù hợp lời khai của bị hại, người biết việc, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Vào ngày 16/8/2023, tại chùa G, địa chỉ số E N, Phường I, Quận E, bị cáo Phạm Ngọc H1 đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 (một) xe mô tô biển số 71B4-072.17 của bà Nguyễn Thị Bích P. Theo Kết luận định giá tài sản số 70/KL-HĐĐGTS ngày 17/8/2023 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân Quận E kết luận: Xe gắn máy nhãn hiệu Honda Vision, màu đỏ, (giấy đăng ký xe mô tô, xe máy số 223559), biển số 71B4-072.17, đã qua sử dụng, tỷ lệ mới 60% trị giá 9.500.000 đồng.
Như vậy, hành vi của bị cáo Phạm Ngọc H1 đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Về tình tiết định khung hình phạt: Hành vi của bị cáo không vi phạm các tình tiết định khung tăng nặng khác nên chỉ bị xét xử ở khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[4] Về đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:
Hành vi của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ; gây mất trật tự, an toàn xã hội ở địa phương, gây tâm lý lo lắng cho người dân. Bị cáo là người đã thành niên, có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, đủ nhận thức để biết được hành vi xâm phạm quyền sở hữu của người khác là vi phạm pháp luật, bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vì muốn chiếm đoạt tài sản của người khác nên vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, cần phải áp dụng mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện.
[5] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo:
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, là tình tiết giảm nhẹ theo điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo tỏ ra thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải, là tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; tài sản chiếm đoạt đã thu hồi xem như gây thiệt hại không lớn, là tình tiết giảm nhẹ theo điểm h khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, do đó cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ nêu trên để giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[6] Về hình phạt áp dụng đối với bị cáo: Qua đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy cần phải có một mức án nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo nhằm mục đích giáo dục, cải tạo bị cáo, đồng thời có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung. Căn cứ Điều 38 và Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù với một thời gian nhất định để có thể cải tạo bị cáo thành người có ích cho xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Theo khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định “người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng” do đó, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, xét tính chất mức độ, hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, nhận thấy bị cáo phạm tội nhưng tài sản đã được thu hồi, bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập, không có khả năng thi hành hình phạt tiền. Căn cứ khoản 2 Điều 50 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[7] Về xử lý vật chứng thu giữ:
- + 01 (một) ổ khóa màu vàng có dấu bị cắt, thân khóa có chữ “M”, tình trạng ổ khóa bị hư hỏng, có nhiều vết trầy, đã qua sử dụng; 01 (một) ổ khóa màu đen có dấu bị cắt, giữa thân khóa có miếng kim loại màu xám, tình trạng ổ khóa bị hư hỏng, đã qua sử dụng. Hai ổ khóa trên là của chùa G bị Phạm Ngọc H1 dùng kìm cộng lực cắt khi đột nhập vào chùa để trộm cắp tài sản. Qúa trình điều tra, đại diện chùa G không cung cấp được hóa đơn chứng từ, không xác định được nhãn hiệu xác định nguồn gốc xuất xứ nên không có cơ sở để định giá tài sản đồng thời không có yêu cầu nhận lại hoặc bồi thường đối với các vật chứng nêu trên. Xét các vật chứng nêu trên không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu và tiêu hủy theo điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2021.
- + 01 (một) áo thun ngắn tay màu đen có hoa văn chữ màu trắng; 01 (một) quần vải dài màu xanh dương đậm; 01 (một) nón vải dạng nón kết màu xanh dương; 01 (một) khẩu trang màu trắng. Các vật chứng trên là của bị cáo Phạm Ngọc H1 sử dụng tại thời điểm thực hiện hành vi trộm cắp tài sản tại chùa G; không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu và tiêu hủy theo điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2021.
- + 01 (một) chiếc điện thoại di động hiệu Realme, số IMEI1: 869566041564451, số IMEI2: 869566041564444, là tài sản cá nhân của bị cáo, không dùng vào việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo.
- + 01 (một) kìm cộng lực ASAKI AK0619 Japan model YQ12A, là tài sản cá nhân của bị cáo, dùng làm công cụ phạm tội, cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
[8] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[9] Về án phí: Người bị kết án phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[10] Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xét xử và đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo cũng như các vấn đề xử lý vật chứng, giải quyết phần dân sự là có cơ sở pháp luật, đúng người, đúng tội, đúng quy định nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điều 38, Điều 50; điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017,
Xử phạt bị cáo Phạm Ngọc H1 01 (một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Thời hạn tù tính từ ngày 16 tháng 8 năm 2023.
- Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015,
- - Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) ổ khóa màu vàng có dấu bị cắt, thân khóa có chữ “M”; 01 (một) ổ khóa màu đen có dấu bị cắt, giữa thân khóa có miếng kim loại màu xám; 01 (một) áo thun ngắn tay màu đen có hoa văn chữ màu trắng; 01 (một) quần vải dài màu xanh dương đậm; 01 (một) nón vải dạng nón kết màu xanh dương; 01 (một) khẩu trang màu trắng;
- - Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 01 (một) kìm cộng lực ASAKI AK0619 Japan model YQ12A;
- - Trả lại cho bị cáo Phạm Ngọc H1: 01 (một) chiếc điện thoại di động hiệu Realme, số IMEI1: 869566041564451, số IMEI2: 869566041564444.
(Tình trạng giao nhận các vật chứng nêu trên như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 24/11/2023 giữa Công an Q và Chi cục Thi hành án dân sự Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh).
- Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Buộc bị cáo Phạm Ngọc H1 phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015,
Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Linh Sương |
Bản án số 03/2024/HS-ST ngày 04/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản (vụ án hình sự)
- Số bản án: 03/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Vụ án hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/01/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: xét xử vụ án trộm cắp tài sản
