|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
|
|
Bản án số: 03/2024/HS-PT Ngày: 08-01-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Minh Tuấn.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Thành; ông Nguyễn Lê Phương
Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thu Vân – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoàn - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 124/2023/TLPT-HS ngày 03 tháng 11 năm 2023 đối với các bị cáo Lại Hoài P, Nguyễn Đức C, Trần Trung H do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 101/2023/HS-ST ngày 01 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Nam.
Các bị cáo có kháng cáo:
- Trần Trung H, sinh năm 1994, tại Bình Thuận, tên gọi khác: Hiếu H1. Giới tính: Nam. Nơi đăng kí hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: thôn M, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Làm nông. Trình độ học vấn: 10/12. Tiền án: (Không có). Tiền sự: Ngày 18/7/2022, bị Công an huyện H, tỉnh Bình Thuận xử phạt hành chính số tiền 6.500.000 đồng về hành vi "Cố ý gây thương tích" theo Quyết định xử phạt hành chính số 0010634 ngày 18/7/2022 (Đã thi hành nộp phạt vào ngày 13/06/2023). Nhân thân: Ngày 27/3/2018, bị Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời hạn 18 tháng theo Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 07. Cha: Trần Văn D, sinh năm 1974, Mẹ: Đặng Thị Mai P1, sinh năm 1976. Gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con lớn trong gia đình. Vợ là Trần Thị Mỹ D1, sinh năm 1997, có 01 người con sinh năm 2014. Cùng cư trú tại thôn M, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện H từ ngày 30/11/2022 đến 14/01/2023. Từ ngày 14/01/2023, bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh. Ngày 04/6/2023, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay. (Có mặt)
-
Nguyễn Đức C, sinh năm: 1979, tại Bình Thuận. Giới tính: Nam. Nơi đăng kí hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: thôn P, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Thiên chúa. Nghề nghiệp: làm nông. Trình độ học vấn: 08/12. Cha: Nguyễn Đức K (đã chết), Mẹ: Nguyễn Thị H2, sinh năm 1934. Gia đình bị cáo có 08 anh chị em, lớn nhất sinh năm 1965, nhỏ nhất sinh năm 1982, bị cáo là con thứ bảy trong gia đình. Vợ là Trần Đình Lệ T, sinh năm 1985; có 03 người con, lớn nhất sinh năm 2011, nhỏ nhất sinh năm 2022. Cùng cư trú tại thôn P, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận. Tiền án, tiền sự: Không có. Nhân thân:
- Ngày 13/10/2005 bị Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận xử phạt 07 tháng tù về tội “Đánh bạc” theo bản án số 59/2005/HSST. Ngày 06/7/2006 chấp hành xong hình phạt tù và các quyết định khác của bản án. Đã được xóa án tích.
- Ngày 04/3/2009 bị Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận xử phạt 06 tháng tù về tội “Đánh bạc” theo bản án số 19/2009/HSST. Ngày 02/10/2009 chấp hành xong hình phạt tù và án phí. Đã được xóa án tích.
- Ngày 25/12/2012 bị Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận xử phạt 09 tháng tù về tội “Đánh bạc” theo bản án số 95/HSST. Ngày 09/11/2013 chấp hành xong hình phạt tù và án phí. Đã được xóa án tích.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện H từ ngày 24/11/2022 đến 14/01/2023. Từ ngày 14/01/2023, bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh. Ngày 04/6/2023, được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đến nay. (Có mặt)
- Lại Hoài P, sinh năm: 1985, tại Bình Thuận. Giới tính: Nam. Nơi đăng kí hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: thôn Đ, xã M, huyện H, tỉnh Bình Thuận. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: không. Nghề nghiệp: làm nông. Trình độ học vấn: 09/12. Cha: Lại Tấn S, sinh năm 1942 (đã chết); Mẹ: Nguyễn Thị L, sinh năm 1947. Gia đình bị cáo có 06 anh chị em, lớn nhất sinh năm 1966, bị cáo là con nhỏ nhất trong gia đình; Vợ: Trương Thị Mỹ L1, sinh năm 1990; Bị cáo có 02 người con, lớn sinh năm 2012, nhỏ sinh năm 2017. Tất cả cùng trú tại thôn Đ, xã M, huyện H, tỉnh Bình Thuận. Tiền án: không. Tiền sự: Ngày 28/7/2022
bị Công an huyện H, tỉnh Bình Thuận xử phạt hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc theo Quyết định xử phạt hành chính số 0019196 (đã nộp phạt ngày 01/8/2022). Nhân thân: Ngày 22/8/2005, bị Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận xử phạt 24 tháng tù cho hưởng án treo về tội “Truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy” theo bản án số 138/2005/HSST. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt và đóng án phí theo quy định của pháp luật (Đến nay đã được xóa án tích).
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 19/12/2022 đến nay (Có mặt).
- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Đức C: Luật sư Nguyễn Trung D2, Văn phòng L9, Đoàn Luật sư tỉnh B.
Địa chỉ: A - A Â, xã T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đối với hành vi của các bị cáo Đoàn Anh V, Trần Trung H, Nguyễn Đức C, Nguyễn Tấn Y, Lưu Văn B, Trần Thế V1, Nguyễn Thanh T1, Trần Khắc B1, Nguyễn Minh T2, Nguyễn V2, Lại Hoài P, Võ Minh T3, Vũ Văn G, Nguyễn Binh C1, Trần Văn Q, Thái Bình T4, Nguyễn Thị Thu H3, Nguyễn Quang H4, Thái Bình P2, Nguyễn Văn N, Nguyễn Thị L2, Huỳnh Thị L3, Thái Ngọc D3, Dương Gia H5, Nguyễn Văn L4, Nguyễn Thanh L5, Trần Viết Q1, Nguyễn Văn L6, Phạm Văn D4, Nguyễn Sơn Đ, Nguyễn Thị Ngọc P3, Nguyễn Thị H6, Nguyễn Tấn Q2, Hồ Văn N1, Phan Trần Nguyên V3, Trần Minh L7 được tóm tắt như sau:
Để có tiền tiêu xài cá nhân, Đoàn Anh V này sinh ý định tổ chức đánh bạc dưới hình thức xóc dĩa được thua bằng tiền để thu tiền xâu nên rủ Trần Trung H cùng tham gia thì H đồng ý. Cả hai thỏa thuận với nhau là sau mỗi lần tổ chức đánh bạc thì Trần Trung H được chia 20% tổng số tiền xâu thu được, phần còn lại, sau khi chi trả các khoản chi phí phục vụ cho việc đánh bạc thì Đoàn Anh V được hưởng. Cả hai đều trực tiếp quản lý, trông coi sòng bạc. Để phục vụ cho việc tổ chức đánh bạc Đ1 đã mua 25 (hai mươi lăm) cái ghế nhựa loại nhỏ màu đỏ, 01 (một) tấm bạt màu xanh, 02 (hai) chiếc chiếu, 01 (một) cái chén, 01 (một) cái đĩa để làm dụng cụ xóc đĩa và thuê 01 xe ôtô bán tải biển kiểm soát 86A-161.44 của Trần Thế V1 (sinh năm 1996, trú khu phố F, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận) để làm phương tiện đưa đón các con bạc vào sòng tham gia đánh bạc. Đoàn Anh V thuê Nguyễn Tấn Y làm nhiệm vụ điều khiển xe ôtô bán tải trên để đưa đón các con bạc vào sòng, Nguyễn Đức C làm nhiệm vụ trông coi sòng bạc và trực tiếp thu tiền xâu, Trần Khắc B1 làm nhiệm vụ xóc cái, Trần Thế V1 và Lưu
Văn B làm nhiệm vụ kiểm, đếm và giao tiền thắng thua qua lại cho các bên tại sòng và thu tiền xâu. Đoàn Anh V thống nhất sẽ trả tiền công cho mỗi người một lần tổ chức đánh bạc là 500.000 (năm trăm nghìn) đồng, riêng Trần Khắc B1 được trả tiền công là 800.000 (tám trăm nghìn) đồng.
Vào khoảng 9 giờ ngày 23/11/2022, Đoàn Anh V gọi điện cho Nguyễn Minh T2 xin mượn nhà của T2 ở thôn M, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận để tổ chức đánh bạc thì Nguyễn Minh T2 đồng ý. Khoảng 20 giờ cùng ngày, Nguyễn Tấn Y điều khiển xe bán tải biển kiểm soát 86A-161.44 đi cùng với Đoàn Anh V và Nguyễn Đức C chở theo 25 cái ghế nhựa, 02 cái chiếu, 01 tấm bạt, 01 thùng nước và các vật dụng khác đến nhà Nguyễn Minh T2. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, Trần Khắc B1, Lưu Văn B, Trần Thế V1 cũng đến nhà Nguyễn Minh T2 để phụ giúp Đoàn Anh V và Nguyễn Đức C chuẩn bị địa điểm và các vật dụng phục vụ cho việc đánh bạc. Lúc này, tại nhà của Nguyễn Minh T2 còn có Nguyễn Thanh T1 và Đinh Gia Thanh L8 (sinh năm 1987, trú thôn M, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận) đang nhậu. Đoàn Anh V nói Nguyễn Thanh T1 làm nhiệm vụ đi mua nước uống, đồ ăn để phục vụ cho các con bạc, mở cửa cho các con bạc ra vào sòng và làm nhiệm vụ cảnh giới thì Nguyễn Thanh T1 đồng ý. Sau khi chuẩn bị xong, Đoàn Anh V liên hệ với các con bạc để mời gọi đến sòng tham gia đánh bạc, V hẹn các con bạc đến trước vựa thanh long G1 thuộc thôn M, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận và trước cây xăng V4, thuộc thôn P, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận. Sau khi các con bạc tập trung tại các địa điểm trên, thì Nguyễn Tấn Y sử dụng xe ôtô bán tải biển kiểm soát 86A-161.44 chở các con bạc vào sòng, một số con bạc thì trực tiếp liên hệ với V và đến thẳng sòng bạc. Khoảng 22 giờ cùng ngày, có 27 con bạc tập trung tại nhà Nguyễn Minh T2 chơi đánh bạc bằng hình thức xóc dĩa được thua bằng tiền gồm: Phan Trần Nguyên V3, Dương Gia H5, Nguyễn Thanh L5, Nguyễn Thị L2, Thái Bình T4, Nguyễn Văn N, Thái Bình P2, Nguyễn Quang H4, Trần Minh L7, Nguyễn Binh C1, Vũ Văn G, Trần Viết Q1, Nguyễn Thị Thu H3, Nguyễn Văn L4, Nguyễn Thị H6, Trần Văn Q, Nguyễn Thị Ngọc P3, Hồ Văn N1, Nguyễn V2, Nguyễn Sơn Đ, Thái Ngọc D3, Nguyễn Văn L6, Lại Hoài P, Phạm Văn D4, Võ Minh T3, Huỳnh Thị L3 và Nguyễn Tấn Q2. Cách thức chơi như sau: sử dụng dụng cụ đánh bạc gồm 01 (một) chén, 01 (một) dĩa (đĩa) và 04 (bốn) quân vị hình tròn được cắt ra từ bộ bài Tây loại 52 lá. Sử dụng 02 (hai) chiếc chiếu và dùng băng keo dán ở giữa để chia ra làm hai, một bên là mặt chẵn, một bên là mặt lẻ. Sau khi Trần Khắc B1 xóc dĩa thì các con bạc tham gia đặt chẵn, lẽ tùy ý. Khi các con bạc đặt cược xong thì tự cân tiền hai bên chẵn lẻ, nếu chưa cân bằng thì các con bạc sẽ hỏi người mua, nếu không có người mua thì các con bạc sẽ tự sắp xếp cho rút bớt để đảm bảo cân bằng tiền hai bên chẵn lẻ. Sau khi dở chén thì Lưu Văn B và Trần Thế V1 sẽ đếm tiền của bên thua để chung qua cho bên thắng. Tiền
đặt cược của mỗi người thấp nhất là 500.000 (năm trăm nghìn) đồng một ván. Tiền xâu được tính như sau: cứ 30 phút tham gia đánh bạc thì thu mỗi người 50.000 (năm mươi nghìn) đồng. Sòng bạc hoạt động đến khoảng 00 giờ 15 phút ngày 24/11/2022, thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang.
Thu giữ các tang vật gồm:
- - 02 (hai) tấm chiếu, 25 (hai mươi lăm) cái ghế nhựa, 01 (một) bộ dụng cụ xóc dĩa gồm: dĩa xứ, chén nhựa và 04 (bốn) quân vị hình tròn;
- - Tiền VNĐ thu giữ tại chiếu bạc là 167.550.000 (một trăm sáu mươi bày triệu năm trăm năm mươi nghìn) đồng;
- - Tiền VNĐ thu giữ ngoài chiếu bạc là 5.600.000 (năm triệu sáu trăm nghìn) đồng;
- - Tiền xâu thu giữ tại sòng là 4.150.000 (bốn triệu một trăm năm mươi nghìn) đồng.
- - Tiền VNĐ thu giữ trên người các con bạc là 172.280.000 (một trăm bày mươi hai triệu hai trăm tám mươi nghìn) đồng, cụ thể: Đ1 27.000.000 (hai mươi bày triệu) đồng; Nguyễn Tấn Y 600.000 (sáu trăm nghìn) đồng; Nguyễn Đức C 300.000 (ba trăm nghìn) đồng; Trần Khắc B1 1.770.000 (một triệu bày trăm bày mươi nghìn) đồng; Trần Thế V1 100.000 (một trăm nghìn) đồng; Thái Bình T4 700.000 (bảy trăm nghìn) đồng; Nguyễn Văn N 50.000 (năm mươi nghìn) đồng; Nguyễn Thị Ngọc P3: 420.000 (bốn trăm hai mươi nghìn) đồng; Nguyễn Thị L2 3.000.000 (ba triệu) đồng; Trần Viết Q1 14.600.000 (mười bốn triệu sáu trăm nghìn) đồng; Dương Gia H5: 11.000.000 (mười một triệu) đồng; Nguyễn Binh C1 300.000 (ba trăm nghìn) đồng; Nguyễn V2 7.200.000 (bày triệu hai trăm nghìn) đồng; Thái Bình P2 150.000 (một trăm năm mươi nghìn) đồng; Trần Minh L7 15.700.000 (mười lăm triệu bảy trăm nghìn) đồng; Vũ Văn G 5.000.000 (năm triệu) đồng; Huỳnh Thị L3 60.390.000 (sáu mươi triệu ba trăm chín mươi nghìn) đồng; Nguyễn Quang H4 10.900.000 (mười triệu chín trăm nghìn) đồng; Võ Minh T3 500.000 (năm trăm nghìn) đồng; Hồ Văn N1 11.200.000 (mười một triệu hai trăm nghìn) đồng; Trần Văn Q 200.000 (hai trăm nghìn) đồng; Thái Ngọc D3 1.000.000 (một triệu) đồng; Nguyễn Thanh T1 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.
- - Thu giữ: 01 (một) xe ôtô biển kiểm soát 86A-162.54; 01 (một) xe ôtô biển kiểm soát 51H-174.24; 01 (một) xe ôtô biển kiểm soát 86C-173.62.
Đến ngày 30/11/2022, Cơ quan CSĐT Công an huyện H ra Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp và Lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với Trần Trung H.
Đối với các bị cáo Đoàn Anh V, Trần Trung H, Trần Thế V1, Nguyễn Minh T2, Nguyễn Thanh T1, Nguyễn Tấn Y, Nguyễn Đức C, Trần Khắc B1 và Lưu Văn B, quá trình điều tra đã chứng minh được hành vi và vai trò của từng bị cáo như sau:
- Đoàn Anh V: là người trực tiếp đứng ra tổ chức sòng bạc, trực tiếp chuẩn bị các công cụ, phương tiện dùng để đánh bạc, thuê các đối tượng khác cùng tham gia tổ chức đánh bạc nhằm mục đích thu tiền xâu.
- Trần Trung H: tham gia tổ chức sòng bạc cùng Đoàn Anh V với vai trò đồng phạm, là người trực tiếp trông coi sòng bạc và được chia 20% tổng số tiền xâu thu được.
- Nguyễn Minh T2: tham gia tổ chức đánh bạc với vai trò đồng phạm, là người cho Đoàn A Việt mượn nhà để tổ chức đánh bạc dưới hình thức xóc đĩa được thua bằng tiền.
- Trần Thế V1 và Lưu Văn B: tham gia tổ chức đánh bạc với vai trò đồng phạm, là người trực tiếp kiểm đếm, chung chi tiền thắng thua qua lại giữa các con bạc tại sòng và thu tiền xâu. Được Đoàn Anh V trả tiền công 500.000 đồng/lần tổ chức đánh bạc.
- Trần Khắc B1: tham gia tổ chức đánh bạc với vai trò đồng phạm, là người trực tiếp xóc cái và được Đoàn Anh V trả tiền công 800.000 đồng/lần tổ chức đánh bạc. Ngày 18/8/2020, bị cáo đã bị Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Nam xử phạt 02 năm tù cho hưởng án treo về tội "Đánh bạc" theo bản án số 55/2020/HSST, đến nay vẫn còn án tích.
- Nguyễn Đức C: tham gia tổ chức đánh bạc với vai trò đồng phạm, là người trực tiếp trông coi sòng bạc và thu tiền xâu. Được Đoàn Anh V trả tiền công 500.000 đồng/lần tổ chức đánh bạc.
- Nguyễn Tấn Y: tham gia tổ chức đánh bạc với vai trò đồng phạm, là người trực tiếp điều khiển xe bán tải biển kiểm soát 86A-16144 chở các con bạc ra vào sòng bạc. Được Đoàn Anh V trả tiền công 500.000 đồng/lần tổ chức đánh bạc.
- Nguyễn Thanh T1: tham gia tổ chức đánh bạc với vai trò đồng phạm, là người chuẩn bị nước uống, đồ ăn phục vụ cho các con bạc, mở cửa cho các con bạc ra vào sòng bạc và làm nhiệm vụ cảnh giới.
Đối với các bị cáo Phan Trần Nguyên V3, Dương Gia H5, Nguyễn Thanh L5, Nguyễn Thị L2, Thái Bình T4, Nguyễn Văn N, Thái Bình P2, Nguyễn Quang H4, Trần Minh L7, Nguyễn Binh C1, Vũ Văn G, Trần Viết Q1, Nguyễn Thị Thu H3, Nguyễn Văn L4, Nguyễn Thị H6, Trần Văn Q, Nguyễn Thị Ngọc P3, Hồ Văn N1, Nguyễn V2, Nguyễn Sơn Đ, Thái Ngọc D3, Nguyễn Văn L6, Lại Hoài P, Phạm Văn
D4, Võ Minh T3, Huỳnh Thị L3, Nguyễn Tấn Q2, quá trình điều tra xác định được các bị cáo trên chỉ tham gia đánh bạc, không có hành vi đồng phạm với Đoàn Anh V. Số tiền sử dụng để đánh bạc được các bị cáo xác định được như sau:
- Phan Trần Nguyên V3 mang theo 20.000.000 đồng để đánh bạc. Khi bị bắt quả tang V3 thua 16.500.000 đồng, còn lại 3.500.000 đồng ném xuống dưới sòng.
- Dương Gia H5 mang theo 10.050.000 đồng để đánh bạc, khi bị bắt quả tang H5 thắng được 1.000.000 đồng, quá trình đánh bạc H5 đóng 50.000 đồng tiền xâu, khi bị bắt quả tang Công an kiểm tra và tạm giữ của H5 số tiền 11.000.000 đồng.
- Nguyễn Thanh L5 mang theo 1.000.000 đồng để đánh bạc, khi bị bắt quả tang L5 thua hết số tiền trên.
- Nguyễn Thị L2 mang theo 4.500.000 đồng, sử dụng 1.500.000 đồng để đánh bạc, số tiền còn lại L2 để trong giỏ xách không sử dụng để đánh bạc. Khi bị bắt quả tang đang thua 1.000.000 đồng, L2 đóng 100.000 đồng tiền xâu, còn lại 400.000 đồng L2 bỏ dưới sòng bạc. Công an thu giữ của L2 3.000.000 đồng trong túi xách.
- Thái Bình T4 mang theo 1.820.000 đồng để đánh bạc. Khi bị bắt quả tang đang thua 1.100.000 đồng, đã nộp 20.000 đồng tiền xâu, còn lại 700.000 đồng Công an tạm giữ.
- Nguyễn Văn N mang theo 1.150.000 đồng để đánh bạc. Khi bị bắt quả tang N đang thua 1.100.000 đồng, còn lại 50.000 đồng bị Công an kiểm tra và tạm giữ.
- Thái Bình P2 mang theo 1.000.000 đồng để đánh bạc. Khi bị bắt quả tang P2 đang thua 850.000 đồng, còn lại 150.000 đồng bị Công an kiểm tra và tạm giữ.
- Nguyễn Quang H4 mang theo 20.000.000 đồng để đánh bạc. Khi vào sòng bạc H4 đã nộp 100.000 đồng tiền xâu. Khi bị bắt quả tang H4 đang thua 9.000.000 đồng, số tiền 10.900.000 đồng còn lại bị Công an kiểm tra và tạm giữ.
- Trần Minh L7 mang theo 10.750.000 đồng để đánh bạc. Khi vào sòng bạc L7 đã nộp 50.000 đồng tiền xâu. Khi bị bắt quả tang L7 đang thắng 5.000.000 đồng. Công an thu giữ của L7 15.700.000 đồng
- Nguyễn Binh C1 mang theo 4.300.000 đồng để đánh bạc. Khi bị bắt quả tang C1 đang thua 3.900.000 đồng, quá trình tham gia đánh bạc C1 đóng 100.000 đồng tiền xâu, còn lại 300.000 đồng bị Công an kiểm tra và tạm giữ.
- Vũ Văn G mang theo 8.000.000 đồng để đánh bạc. Khi bị bắt quả tang G đang thua 2.900.000 đồng, quá trình đánh bạc G đã đóng 100.000 đồng tiền xâu, còn lại 5.000.000 đồng bị Công an kiểm tra và tạm giữ.
- Trần Viết Q1 mang theo 4.500.000 đồng để đánh bạc. Khi bị bắt quả tang Q1 đang thắng 10.200.000 đồng, quá trình tham gia đánh bạc Quảng đóng 100.000 đồng tiền xâu, khi bị bắt quả tang Công an kiểm tra và tạm giữ của Q1 số tiền 14.600.000 đồng.
- Nguyễn Thị Thu H3 mang theo 1.800.000 đồng để đánh bạc. Khi bị bắt quả tang H3 vừa thua hết số tiền trên.
- Nguyễn Văn L4 mang theo 4.000.000 đồng để đánh bạc, quá trình đánh bạc L4 đã đóng 50.000 đồng tiền xâu. Khi bị bắt quả tang L4 vừa thua hết số tiền trên.
- Nguyễn Thị H6 mang theo 2.400.000 đồng để đánh bạc. Khi bị bắt quả tang H6 đang thua 2.000.000 đồng, còn lại khoảng 400.000 đồng H6 ném xuống dưới sòng.
- Trần Văn Q mang theo 1.200.000 đồng để đánh bạc. Khi bị bắt quả tang Q đang thua 1.000.000 đồng, còn 200.000 đồng bị thu giữ.
- Nguyễn Thị Ngọc P3 mang theo số tiền 3.500.000 đồng, quá trình đánh bạc P3 đã đóng 20.000 đồng tiền xâu, P3 dùng 60.000 đồng để mua đồ ăn. Số tiền còn lại là 3.420.000 đồng P3 sử dụng để đánh bạc. Khi bị bắt quả tang P3 đang thua 3.000.000 đồng, còn lại 420.000 đồng bị Công an kiểm tra và tạm giữ.
- Hồ Văn N1 mang theo 12.000.000 đồng để đánh bạc. Khi bị bắt quả tang N1 đang thua 800.000 đồng, còn lại 11.200.000 đồng bị Công an kiểm tra và tạm giữ.
- Nguyễn Sơn Đ mang theo 7.000.000 đồng để đánh bạc, quá trình đánh bạc Đ đã đóng 50.000 đồng tiền xâu. Khi bị bắt quả tang Đ vừa thua hết số tiền trên.
- Nguyễn V2 mang theo 9.000.000 đồng để đánh bạc. Khi bị bắt quả tang V2 đang thua 1.800.000 đồng, còn lại 7.200.000 đồng bị Công an kiểm tra và tạm giữ.
- Thái Ngọc D3 mang theo 3.000.000 đồng để đánh bạc. Khi bị bắt quả tang D3 đang thua 1.900.000 đồng, quá trình tham gia đánh bạc D3 đóng 100.000 đồng tiền xâu, còn lại 1.000.000 đồng bị Công an kiểm tra và tạm giữ.
- Nguyễn Văn L6 mang theo 600.000 đồng để đánh bạc. Khi bị bắt quả tang L6 thua hết số tiền trên.
- Lại Hoài P mang theo 1.300.000 đồng để đánh bạc. Khi bị bắt quả tang P thua hết số tiền trên.
- Phạm Văn D4 mang theo 1.000.000 đồng để đánh bạc. Khi bị bắt quả tang D4 thua hết số tiền trên.
- Võ Minh T3 mang theo 3.600.000 đồng để đánh bạc. Khi bị bắt quả tang T3 đang thua 3.000.000 đồng, quá trình đánh bạc T3 đã đóng 100.000 đồng tiền xâu, còn lại 500.000 đồng bị Công an kiểm tra và tạm giữ.
- Huỳnh Thị L3 mang theo số tiền 60.390.000 đồng, L3 sử dụng 5.000.000 đồng để đánh bạc. Khi bị bắt quả tang L3 không thắng không thua.
- Nguyễn Tấn Q2 mang theo 3.000.000 đồng để đánh bạc. Khi bị bắt quả tang Q2 thua hết số tiền trên.
Như vậy, số tiền các bị cáo khai mang theo dùng để đánh bạc và số tiền thắng thua trong quá trình đánh bạc là không phù hợp với số tiền thực tế đã thu giữ khi bắt quả tang. Quá trình điều tra đã đấu tranh nhưng không làm rõ được vấn đề này. Do đó, căn cứ trên số tiền thực tế thu giữ tại chiếu bạc, tiền thu giữ trên người được các bị cáo xác định là tiền dùng đánh bạc, tiền đánh bạc thu giữ ngay bên ngoài chiếu, tiền xâu thu được tại chiếu bạc, xác định tổng số tiền đánh bạc dưới hình thức xóc dĩa của 27 bị cáo nêu trên tại sòng do Đoàn Anh V và Trần Trung H tổ chức tại nhà của Nguyễn Minh T2 vào tối 23 rạng sáng 24/11/2022 là: 167.550.000 đồng + 83.920.000 đồng + 5.600.000 đồng + 4.150.000 đồng = 261.220.000 (hai trăm sáu mươi mốt triệu hai trăm hai mươi nghìn) đồng.
Các bị cáo tham gia đánh bạc dưới hình thức xóc dĩa (đĩa) được thua bằng tiền, trong đó các con bạc tự cân bằng số tiền đặt cược hai bên chẵn lẻ, nhóm tổ chức sòng bạc của Đoàn A Việt chỉ có nhiệm vụ xóc bài, kiểm - đếm - lấy tiền từ bên thua chuyển sang cho bên thắng. Do đó, đây là hình thức đánh bạc nhiều người chơi với nhau, nên buộc các bị cáo phải chịu trách nhiệm về tổng số tiền sử dụng để đánh bạc là 261.220.000 (hai trăm sáu mươi mốt triệu hai trăm hai mươi nghìn) đồng.
Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã làm rõ và trả lại xe ôtô biển kiểm soát 86A-162.54 cho Phan Trần Nguyên V3, trả lại xe ôtô biển kiểm soát 51H-174.24 cho Lâm Thành T5 (sinh năm 1982, trú phường A, quận H, thành phố Hồ Chí Minh), trả lại xe ôtô biển kiểm soát 86C-173.62 cho Huỳnh Văn T6 (sinh năm 1987, trú khu phố G, phường Đ, thành phố P, tỉnh Bình Thuận).
Đối với các vật chứng gồm: 02 (hai) tấm chiếu, 25 (hai mươi lăm) chiếc ghế nhựa, 01 (một) bộ dụng cụ xóc dĩa (đĩa) gồm: 01 (một) dĩa (đĩa) xứ, 01 (một) chén nhựa và 04 (bốn) quân vị hình tròn. Đây là những dụng cụ được sử dụng cho
việc đánh bạc, không có giá trị sử dụng, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Nam đã chuyển đến Chi cục THADS huyện H bảo quản để đảm bảo việc xử lý.
Đối với tổng số tiền 349.580.000 (ba trăm bốn mươi chín triệu năm trăm tám mươi nghìn) đồng đã thu giữ tại sòng bạc và trên người các bị cáo. Số tiền này hiện đang tạm gửi tại tài khoản số [...].00000 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận tại Kho bạc Nhà nước huyện H.
Đối với 01 (một) xe ô tô bán tải biển kiểm soát 86A-16144 mà bị cáo Đoàn Anh V dùng để chở các con bạc. Quá trình điều tra xác định được xe ô tô trên là tài sản của Trần Thế V1 (sinh năm 1996, trú khu phố F, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận), bị cáo V thuê xe ô tô trên của V1 để sử dụng làm phương tiện đi lại. Vào tối ngày 23/11/2022, sau khi chở các con bạc vào sòng bạc thì Đoàn Anh V đã trả lại xe ôtô trên cho Trần Thế V1. Việc bị cáo Đoàn Anh V sử dụng xe ôtô trên để tổ chức đánh bạc thì Trần Thế V1 hoàn toàn không biết. Do đó, Cơ quan điều tra không thu giữ xe ô tô biển kiểm soát 86A-16144 nên không đề cập xử lý; đồng thời Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với Trần Thế V1 trong vai trò đồng phạm với Đoàn Anh V về tội “Tổ chức đánh bạc” là có căn cứ.
Ngoài ra, quá trình điều tra các bị cáo Đoàn Anh V, Trần Trung H, Trần Thế V1, Nguyễn Minh T2, Nguyễn Thanh T1, Nguyễn Tấn Y, Nguyễn Đức C, Trần Khắc B1 và Lưu Văn B còn khai nhận: vào trưa ngày 23/11/2022, các bị cáo đã cùng nhau tổ chức đánh bạc dưới hình thức xóc dĩa tại khu vực Hồ Đ, thuộc xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận. Tuy nhiên, không đủ căn cứ để xác định số người đã tham gia đánh bạc tại sòng do Đoàn Anh V và các đồng phạm vào trưa ngày 23/11/2022 cùng số tiền dùng để đánh bạc. Nên không đủ cơ sở để buộc các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự đối với lần tổ chức đánh bạc này. Tuy nhiên, đối với số tiền các bị cáo đã thu lợi bất chính trong lần tổ chức đánh bạc này gồm: Trần Trung H 2.500.000 đồng, Trần Thế V1 500.000 đồng, Lưu Văn B 500.000 đồng, Trần Khắc B1 800.000 đồng, Nguyễn Tấn Y 600.000 đồng, Nguyễn Đức C 500.000 đồng, Đoàn A Việt 3.000.000 đồng (tổng cộng 8.400.000 đồng), cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước theo quy định.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 101/2023/HS-ST ngày 01 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Nam quyết định:
Tuyên bố: Các bị cáo Đoàn Anh V, Trần Trung H, Trần Khắc B1, Nguyễn Minh T2, Nguyễn Đức C, Nguyễn Tấn Y, Lưu Văn B, Trần Thế V1, Nguyễn Thanh T1 phạm tội: “Tổ chức đánh bạc".
Các bị cáo Nguyễn V2, Lại Hoài P, Võ Minh T3, Vũ Văn G, Nguyễn Binh C1, Trần Văn Q, Thái Bình T4, Nguyễn Thị Thu H3, Nguyễn Quang H4, Thái Bình P2, Nguyễn Văn N, Nguyễn Thị L2, Huỳnh Thị L3, Thái Ngọc D3, Dương Gia H5,
Nguyễn Văn L4, Nguyễn Thanh L5, Trần Viết Q1, Nguyễn Văn L6, Phạm Văn D4, Nguyễn Sơn Đ, Nguyễn Thị Ngọc P3, Nguyễn Thị H6, Nguyễn Tấn Q2, Hồ Văn N1, Phan Trần Nguyên V3, Trần Minh L7 phạm tội “Đánh bạc”.
-
Căn cứ điểm a, d khoản 1, khoản 3 Điều 322, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, Điều 58, Điều 65 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Đoàn Anh V 03 (Ba) năm tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 05 (năm) năm, tính từ ngày tuyên án (ngày 01/8/2023).
Phạt bổ sung: Bị cáo Đoàn Anh V phải nộp 50.000.000 (Năm mươi triệu) đồng vào ngân sách Nhà nước.
-
Căn cứ điểm a, d khoản 1 Điều 322, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Trần Trung H 02 (Hai) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án; được khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/11/2022 đến ngày 14/01/2023.
Xử phạt: bị cáo Nguyễn Đức C 02 (Hai) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án; được khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/11/2022 đến ngày 14/01/2023.
-
Căn cứ điểm a, d khoản 1 Điều 322, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Lưu Văn B 02 (Hai) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 03/7/2023; được khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/11/2022 đến ngày 16/01/2023.
-
Căn cứ điểm a, d, đ khoản 1 Điều 322, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, Điều 58, Điều 38, Điều 56 và khoản 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Trần Khắc B1 02 (H7) năm tù về tội “Tổ chức đánh bạc". Tổng hợp hình phạt 02 (H7) năm tù về tội “Đánh bạc” tại bản án số 55/2020/HS-ST ngày 18/8/2020 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 04 (B2) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 24/11/2022; được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 05/02/2020 đến ngày 14/02/2020.
-
Căn cứ Điểm a, d khoản 1 Điều 322, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, Điều 58, Điều 65 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Tấn Y 02 (Hai) năm tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 04 (Bốn) năm, tính từ ngày tuyên án (ngày 01/8/2023).
Xử phạt: Bị cáo Trần Thế V1 02 (Hai) năm tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 04 (Bốn) năm, tính từ ngày tuyên án (ngày 01/8/2023).
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Minh T2 01 (một) năm 06 (S1) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 03 (Ba) năm, tính từ ngày tuyên án (ngày 01/8/2023).
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thanh T1 01 (một) năm 06 (S1) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 03 (Ba) năm, tính từ ngày tuyên án (ngày 01/8/2023).
-
Căn cứ: điểm b khoản 2 Điều 321, điểm s, u khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, khoản 1 Điều 54, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn V2 01 (Một) năm 06 (S1) tháng năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án, được khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/11/2022 đến ngày 14/01/2023.
-
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Lại Hoài P 02 (Hai) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.
-
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 321, điểm u, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Võ Minh T3 01 (Một) năm 06 (S1) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05/7/2023.
-
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, Điều 58, khoản 1 Điều 54, Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn N 02 (Hai) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 03/7/2023.
-
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58, khoản 1 Điều 54, Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Thu H3 02 (Hai) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 03/7/2023.
Xử phạt: Bị cáo Thái Bình T4 02 (Hai) năm 06 (S1) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 03/7/2023.
-
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, Điều 58, khoản 1 Điều 54, Điều 65 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Binh C1 02 (Hai) năm tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 04 (Bốn) năm, tính từ ngày tuyên án (ngày 01/8/2023).
Xử phạt: Bị cáo Trần Văn Q 02 (Hai) năm tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 04 (Bốn) năm, tính từ ngày tuyên án (ngày 01/8/2023).
Xử phạt: Bị cáo Thái Bình P2 02 (Hai) năm tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 04 (Bốn) năm, tính từ ngày tuyên án (ngày 01/8/2023).
Xử phạt: Bị cáo Vũ Văn G 02 (Hai) năm tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 04 (Bốn) năm, tính từ ngày tuyên án (ngày 01/8/2023).
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Quang H4 02 (Hai) năm tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 04 (Bốn) năm, tính từ ngày tuyên án (ngày 01/8/2023).
Xử phạt: Bị cáo Huỳnh Thị L3 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 (Hai) năm 06 (sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án (ngày 01/8/2023).
Xử phạt: Bị cáo Thái Ngọc D3 01 (Một) năm 06 (S1) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 03 (Ba) năm, tính từ ngày tuyên án (ngày 01/8/2023).
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn L4 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 (Hai) năm 06 (sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án (ngày 01/8/2023).
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn L6 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 (Hai) năm 06 (sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án (ngày 01/8/2023).
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Sơn Đ 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 (Hai) năm 06 (sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án (ngày 01/8/2023).
Xử phạt: Bị cáo Dương Gia H5 01 (Một) năm tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 (Hai) năm, tính từ ngày tuyên án (ngày 01/8/2023).
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị L2 01 (Một) năm tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 (Hai) năm, tính từ ngày tuyên án (ngày 01/8/2023).
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thanh L5 01 (Một) năm tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 (Hai) năm, tính từ ngày tuyên án (ngày 01/8/2023).
Xử phạt: Bị cáo Trần Viết Q1 01 (Một) năm tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 (Hai) năm, tính từ ngày tuyên án (ngày 01/8/2023).
Xử phạt: bị cáo Phạm Văn D4 01 (Một) năm tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 02 (Hai) năm. Thời gian được tính từ ngày tuyên án ngày 01/8/2023.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Tấn Q2 01 (Một) năm 06 (S1) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 03 (Ba) năm, tính từ ngày tuyên án (ngày 01/8/2023).
Xử phạt: Bị cáo Phan Trần Nguyên V3 01 (Một) năm 06 (S1) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 03 (Ba) năm, tính từ ngày tuyên án (ngày 01/8/2023).
-
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự; Điều 58 Bộ luật Hình sự, Điều 65 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị H6 01 (Một) năm 06 (S1) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 03 (Ba) năm, tính từ ngày tuyên án (ngày 01/8/2023).
Xử phạt: Bị cáo Hồ Văn N1 01 (Một) năm 06 (S1) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 03 (Ba) năm, tính từ ngày tuyên án (ngày 01/8/2023).
Xử phạt: Bị cáo Trần Minh L7 01 (Một) năm 06 (S1) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 03 (Ba) năm, tính từ ngày tuyên án (ngày 01/8/2023).
-
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 321, điểm s, n khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 54, Điều 58, Điều 65 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Ngọc P3 01 (Một) năm tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 (Hai) năm, tính từ ngày tuyên án (ngày 01/8/2023).
Giao bị cáo Nguyễn Thị Ngọc P3, Nguyễn Thị H6 cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Giao bị cáo Nguyễn Tấn Y cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện T, tỉnh Bình Thuận giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Giao bị cáo Trần Thế V1, Đoàn Anh V, Thái Bình P2, Hồ Văn N1 cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Giao bị cáo Nguyễn Minh T2, Nguyễn Thanh T1 cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Giao bị cáo Nguyễn Binh C1, Trần Văn Q, Nguyễn Văn L6, Trần Viết Q1, Nguyễn Thanh L5, Phạm Văn D4 cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Hà Nam giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Giao bị cáo Vũ Văn G cho Ủy ban nhân dân xã M, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Giao bị cáo Nguyễn Quang H4 cho Ủy ban nhân dân phường T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Giao bị cáo Huỳnh Thị L3 cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Giao bị cáo Thái Ngọc D3, Nguyễn Tấn Q2 cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Giao bị cáo Nguyễn Văn L4 cho Ủy ban nhân dân phường T, thành phố P, tỉnh Hà Nam giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Giao bị cáo Nguyễn Sơn Đ cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Giao bị cáo Nguyễn Thị L2, Phan Trần Nguyên V3 cho Ủy ban nhân dân xã M, huyện H, tỉnh Bình Thuận giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Giao bị cáo Trần Minh L7 cho Ủy ban nhân dân xã S, huyện H, tỉnh Bình Thuận giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Giao bị cáo Dương Gia H5 cho Ủy ban nhân dân xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Gia đình các bị cáo bị kết án cho hưởng án treo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo trong thời gian thử thách án treo.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự năm 2019.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 09 tháng 8 năm 2023, Nguyễn Đức C có đơn kháng cáo, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt. Bị cáo Lại Hoài P có đơn kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho hưởng án treo.
Ngày 10 tháng 8 năm 2023, bị cáo Trần Trung H có đơn kháng cáo, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xin giảm nhẹ mức hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Các Nguyễn Đức C, Trần Trung H đều giữ nguyên kháng cáo và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt. Bị cáo Lại Hoài P thay đổi nội dung kháng cáo chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
- Luật sư bào chữa cho bị cáo Nguyễn Đức C: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo vì bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, tham gia với vai trò thứ yếu, có hoàn cảnh gia đình khó khăn, có 03 người con còn nhỏ tuổi.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án như sau: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo Nguyễn Đức C, Trần Trung H về tội “Tổ chức đánh bạc” theo khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự, xét xử bị cáo Lại Hoài P về tội “Đánh bạc” theo khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội. Trên cơ sở đó, Tòa án sơ thẩm tuyên phạt mỗi bị cáo 02 năm tù là phù hợp. Xét thấy các bị cáo Nguyễn Đức C, Trần Trung H, Lại Hoài P đều có hoàn cảnh gia đình khó khăn, có tình tiết giảm nhẹ mới, đủ điều kiện được xem xét giảm án nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của 03 bị cáo này để giảm cho các bị cáo một phần hình phạt. Đề nghị giảm cho bị cáo Nguyễn Đức C từ 06 đến 12 tháng tù; giảm cho bị cáo Trần Trung H từ 03 đến 06 tháng tù; giảm cho bị cáo Lại Hoài P từ 03 đến 6 tháng tù.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của các bị cáo Lại Hoài P, Nguyễn Đức C, Trần Trung H được làm trong thời hạn và đúng quy định pháp luật nên vụ án được xem xét theo trình tự thủ tục phúc thẩm.
[2] Xét kháng cáo của các bị cáo: Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Nguyễn Đức C, Trần Trung H, Lại Hoài P đều khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và thừa nhận Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo về tội danh, khung hình phạt là đúng theo quy định của Bộ luật hình sự, không oan. Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng, Tòa án cấp sơ thẩm khi xét xử đã căn cứ vào tội danh, tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của từng bị cáo và tuyên phạt mỗi bị cáo mức án 02 năm tù là phù hợp với quy định của pháp luật hình sự.
Các bị cáo giữ nguyên kháng cáo và cho rằng, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên phạt mỗi bị cáo mức án 02 năm tù là quá nghiêm khắc nên đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét cho các bị cáo được giảm nhẹ hình phạt để sớm về với xã hội, chăm lo cho gia đình, làm người công dân lương thiện. Cùng với việc kháng cáo, bị cáo Nguyễn Đức C, Trần Trung H, Lại Hoài P xuất trình được những tài liệu, chứng cứ mới thể hiện 03 bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn có xác nhận của Uỷ ban nhân dân địa phương nơi cư trú. Bị cáo H có người thân được tặng giấy khen vì đã có thành tích xuất sắc trong phong trào quần chúng bảo vệ an ninh tổ quốc; bị cáo Lại Hoài P được Công an xã H xác nhận đã tích cực hợp tác giúp Công an xã H triệt phá tụ điểm đánh bạc vào ngày 28/12/2023. Đây là tình tiết giảm nhẹ mới quy định tại điểm u khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[3] Các bị cáo Nguyễn Đức C, Trần Trung H, Lại Hoài P đều thể hiện sự ăn năn, hối cải và cung cấp được những tài liệu, chứng cứ mới là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự chưa được Tòa sơ thẩm xem xét nên Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét những tài liệu trên là tình tiết giảm nhẹ mới để giảm nhẹ cho các bị cáo một phần hình phạt là phù hợp, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật. Vì vậy, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của 03 bị cáo Nguyễn Đức C, Trần Trung H, Lại Hoài P như ý kiến đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận tại phiên tòa và trên cơ sở xem xét vai trò, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của từng bị cáo trong vụ án để giảm nhẹ cho từng bị cáo một mức hình phạt tương xứng, phù hợp, giúp các bị cáo nhận thức được mức độ hành vi phạm tội của mình nhằm tự cải tạo để trở thành những công dân chấp hành tốt pháp luật. Do vậy, sửa bản án hình sự sơ thẩm về mức hình phạt đối với các bị cáo Nguyễn Đức C, Trần Trung H, Lại Hoài P. Giảm cho bị cáo Nguyễn Đức C 08 tháng tù, giảm cho bị cáo Trần Trung H 06 tháng
tù, giảm cho bị cáo Lại Hoài P 06 tháng tù.
[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị nên Tòa án phúc thẩm không xem xét trong bản án này.
[5] Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Đức C, Trần Trung H, Lại Hoài P được chấp nhận nên căn cứ điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa XIV thì các bị cáo không phải chịu án phí phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điểm b khoản 1 Điều 355 và Điểm c Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự. Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Đức C, Trần Trung H, Lại Hoài P. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 101/2023/HS-ST ngày 01 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Nam.
-
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s, u khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Lại Hoài P, phạm tội “Đánh bạc"
Xử phạt: Bị cáo Lại Hoài P 01 năm 6 tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.
-
Căn cứ điểm a, d khoản 1 Điều 322, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Đức C, Trần Trung H, phạm tội “Tổ chức đánh bạc".
Xử phạt: Bị cáo Trần Trung H 01 năm 6 tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án; được khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/11/2022 đến ngày 14/01/2023.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đức C 01 năm 4 tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án; được khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/11/2022 đến ngày 14/01/2023.
- Về án phí phúc thẩm: Căn cứ điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa XIV thì các bị cáo Nguyễn Đức C, Trần Trung H, Lại Hoài P không phải chịu án phí phúc thẩm.
4. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (ngày 08/01/2024)./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Lê Minh Tuấn |
Bản án số 03/2024/HS-PT ngày 08/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN về hình sự phúc thẩm về tội tổ chức đánh bạc và đánh bạc
- Số bản án: 03/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm về tội Tổ chức đánh bạc và Đánh bạc
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 08/01/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Để có tiền tiêu xài cá nhân, Đoàn Anh V nảy sinh ý định tổ chức đánh bạc dưới hình thức xóc dĩa được thua bằng tiền để thu tiền xâu nên rủ Trần Trung H cùng tham gia thì H đồng ý. Cả hai thỏa thuận với nhau là sau mỗi lần tổ chức đánh bạc thì Trần Trung H được chia 20% tổng số tiền xâu thu được, phần còn lại, sau khi chi trả các khoản chi phí phục vụ cho việc đánh bạc thì Đoàn Anh V được hưởng. Cả hai đều trực tiếp quản lý, trông coi sòng bạc. Để phục vụ cho việc tổ chức đánh bạc Đ1 đã mua 25 (hai mươi lăm) cái ghế nhựa loại nhỏ màu đỏ, 01 (một) tấm bạt màu xanh, 02 (hai) chiếc chiếu, 01 (một) cái chén, 01 (một) cái đĩa để làm dụng cụ xóc đĩa và thuê 01 xe ôtô bán tải biển kiểm soát 86A-161.44 của Trần Thế V1 (sinh năm 1996, trú khu phố F, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận) để làm phương tiện đưa đón các con bạc vào sòng tham gia đánh bạc. Đoàn Anh V thuê Nguyễn Tấn Y làm nhiệm vụ điều khiển xe ôtô bán tải trên để đưa đón các con bạc vào sòng, Nguyễn Đức C làm nhiệm vụ trông coi sòng bạc và trực tiếp thu tiền xâu, Trần Khắc B1 làm nhiệm vụ xóc cái, Trần Thế V1 và Lưu Văn B làm nhiệm vụ kiểm, đếm và giao tiền thắng thua qua lại cho các bên tại sòng và thu tiền xâu. Đoàn Anh V thống nhất sẽ trả tiền công cho mỗi người một lần tổ chức đánh bạc là 500.000 (năm trăm nghìn) đồng, riêng Trần Khắc B1 được trả tiền công là 800.000 (tám trăm nghìn) đồng.
