|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 03/2024/HNGĐ-ST Ngày: 29/11/2024 V/v: Tranh chấp hôn nhân và gia đình |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Minh.
Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Minh Phương.
Ông Nguyễn Văn Kỹ.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Bình - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân nhân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa:
Ông Đặng Thanh Minh - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 61/2024/TLST-HNGĐ ngày 29/02/2024 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 92A/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 30/9/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 75/2024/QĐST-HNGĐ ngày 30/10/2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh Nguyễn Mạnh T, sinh năm 1981. HKTT: Khu K, phường K, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh.
- Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn (theo giấy ủy quyền ngày 22/02/2024):
- Anh Vũ Văn X, sinh năm 1979. Nơi thường trú: Khu P, phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh.
- Anh Trần Tuấn L, sinh năm 1999. Nơi thường trú: Khu B, phường S, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh.
- Chị Nguyễn Thị Thùy D, sinh năm 2001. Nơi thường trú: Khu T, phường N, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh.
- Chị Cao Thị Ngọc M, sinh năm 2002. Nơi thường trú: Đường N, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh.
(Đều vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt)
Bị đơn: Chị Nguyễn Thị T1, sinh năm 1982. HKTT: Khu K, phường K, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. Hiện trú tại: Đài Loan (Trung Quốc). Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn anh Nguyễn Mạnh T trình bày: Trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu, anh và chị Nguyễn Thị T1 đã kết hôn và đăng ký kết hôn vào ngày 20/11/2003 tại UBND xã K, huyện Q (nay là phường K, thành phố B), tỉnh Bắc Ninh. Sau khi kết hôn thời gian đầu vợ chồng hạnh phúc, do kinh tế khó khăn nên anh T và chị T1 đều đi xuất khẩu lao động ở nước ngoài. Những năm gần đây, do khoảng cách địa lý xa cách nhau nên phát sinh mâu thuẫn, không tìm được tiếng nói chung, hiện nay chị T1 đang ở Đài Loan (Trung Quốc), vợ chồng không còn liên lạc, không quan tâm đến nhau nữa. Anh T xác định không còn tình cảm vợ chồng và đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh giải quyết cho anh được ly hôn với chị T1.
Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng anh T, chị T1 có 02 con chung là cháu Nguyễn Thị Trà M1, sinh ngày 21/12/2004 và cháu Nguyễn Tuấn V, sinh ngày 02/11/2010. Cháu Trà M1 đã trưởng thành, việc ở với ai do cháu tự quyết định; khi ly hôn anh xin trực tiếp nuôi cháu V và không yêu cầu chị T1 phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, công nợ: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Anh T đề nghị không hòa giải và xin xét xử vắng mặt.
Bị đơn chị Nguyễn Thị T1 đã được Tòa án thông báo, triệu tập và làm việc với người thân của chị T1 nhiều lần, nhưng chị T1 không gửi văn bản và không cung cấp địa chỉ cụ thể ở nước ngoài cho Tòa án.
Tòa án đã tiến hành làm việc với anh Nguyễn Văn T2 là anh ruột của chị T1, anh T2 trình bày: Anh là anh trai ruột của Nguyễn Thị T1, anh được biết em T1 và Nguyễn Mạnh T có kết hôn (năm nào anh không nhớ). Quá trình chung sống, vợ chồng em T1 và em T có 02 con chung là cháu Nguyễn Thị Trà M1, sinh năm 2004 và cháu Nguyễn Tuấn V, sinh ngày 02/11/2010. Em gái anh hiện đang ở Đài Loan (Trung Quốc), vẫn thường xuyên liên lạc với anh bằng điện thoại. Anh T2 không biết địa chỉ cụ thể của T1 ở Đài Loan (Trung Quốc), anh có hỏi nhưng T1 không nói, anh đã thông báo cho em T1 việc Tòa án thụ lý yêu cầu của T xin ly hôn với em T1 thì em T1 có nhờ tôi nhận hộ các văn bản, giấy tờ của Tòa án. Anh T2 đồng ý nhận thay giấy tờ của Tòa án gửi cho Nguyễn Thị T1 và cam kết giao lại ngay trong ngày nhận được.
Tại phiên toà nguyên đơn là anh T vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn chị T1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa mà không có lý do chính đáng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa; việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng từ khi thụ lý vụ án đến trước khi nghị án là đảm bảo đúng quy định của pháp luật tố tụng.
Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh T, xử cho anh Nguyễn Mạnh T được ly hôn chị Nguyễn Thị T1. Về con chung: đề nghị giao cháu Nguyễn Tuấn V, sinh ngày 02/11/2010 cho anh Nguyễn Mạnh T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi cháu V đủ 18 tuổi. Về cấp dưỡng, tài sản chung, công nợ: Không đặt ra giải quyết.
Về án phí: Anh T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện lời trình bày của các đương sự, kết quả tranh tụng tại phiên tòa và ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1]. Về thủ tục tố tụng:
Về quan hệ tranh chấp: Theo đơn xin ly hôn, anh Nguyễn Mạnh T xin ly hôn với chị Nguyễn Thị T1 và đề nghị giao 01 con chung cho anh trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự thì quan hệ tranh chấp trong vụ án được xác định là “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”.
Về thẩm quyền giải quyết: Anh Nguyễn Mạnh T trình bày bị đơn là chị Nguyễn Thị T1 có hộ khẩu thường trú tại: Khu K, phường K, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. Hiện đang trú ở: Đài Loan (Trung Quốc). Căn cứ Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự thì tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.
Việc tham gia tố tụng của các đương sự: Bị đơn chị Nguyễn Thị T1 trong suốt quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án đã làm việc, yêu cầu người thân thích cung cấp địa chỉ cụ thể ở nước ngoài của chị T1 nhưng đều không cung cấp mặc dù chị T1 thường xuyên liên lạc về cho gia đình. Tòa án đã tiến hành tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng theo quy định pháp luật.
[2]. Về nội dung vụ án:
[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Mạnh T và chị Nguyễn Thị T1 có đủ điều kiện kết hôn, khi kết hôn anh chị được tự do tìm hiểu và đăng ký kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình nên là hôn nhân hợp pháp cần được xem xét giải quyết theo quy định pháp luật.
Sau khi kết hôn, theo anh T trình bày thời gian đầu vợ chồng hạnh phúc, sau đó vợ chồng phải đi xuất khẩu lao động ở nước ngoài, dẫn đến phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm; hiện nay anh T và chị T1 không còn liên lạc, không quan tâm đến nhau nữa. Hội đồng xét xử nhận thấy, tình trạng mâu thuẫn vợ chồng anh T, chị T1 đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Yêu cầu xin ly hôn của anh T là có căn cứ, cần chấp nhận, xử cho anh Nguyễn Mạnh T được ly hôn chị Nguyễn Thị T1.
[2.2]. Về con chung: Anh T, chị T1 có 02 con chung là cháu Nguyễn Thị Trà M1, sinh ngày 21/12/2004 và cháu Nguyễn Tuấn V, sinh ngày 02/11/2010. Cháu Trà M1 đã trưởng thành, việc ở với ai do cháu tự quyết định. Anh T có nguyện vọng nuôi cháu V, cháu V cũng có nguyện vọng ở với anh, do vậy để đảm bảo sự phát triển ổn định, tránh những xáo trộn không cần thiết, cần giao cháu Nguyễn Tuấn V cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc.
Về cấp dưỡng nuôi con: Anh T không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về tài sản chung, công nợ chung: Anh T trình bày không có nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[3]. Về án phí: Anh Nguyễn Mạnh T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 28, 35, 37, 38, 146, 147, 227, 228, 271, 273, 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án, xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Nguyễn Mạnh T.
- Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Mạnh T được ly hôn chị Nguyễn Thị T1.
- Về con chung: Anh T, chị T1 có 02 con chung là cháu Nguyễn Thị Trà M1, sinh ngày 21/12/2004 và cháu Nguyễn Tuấn V, sinh ngày 02/11/2010. Cháu Trà M1 đã trưởng thành, việc ở với ai do cháu tự quyết định.
Giao là cháu Nguyễn Tuấn V cho anh Nguyễn Mạnh T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc đến khi cháu V đủ 18 tuổi hoặc cho đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Sau ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con, không ai được cản trở.
Về cấp dưỡng, tài sản chung, công nợ: Không xem xét giải quyết.
- Về án phí: Anh Nguyễn Mạnh T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Xác nhận anh T đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng số 0000117 ngày 27/02/2024 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh.
- Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật. Bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hữu Minh |
Bản án số 03/2024/HNGĐ-ST ngày 29/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 03/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/11/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Anh Nguyễn Mạnh T được ly hôn chị Nguyễn Thị T
