|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ - TP. ĐÀ NẴNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 03/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 11-01-2024
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Văn Cương
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Trình
Ông Trần Đức Hiếu
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Thoảng – Thư ký Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Thị Xuân Lành – Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình sơ thẩm thụ lý số 312/2024/TLST – HNGĐ ngày 09/10/2023 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 193/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 10 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Ngô Diệu L ngày 19/01/1992; Địa chỉ: K đường V, tổ A, phường H, quận C, TP Đà Nẵng; Có mặt.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn D, sinh ngày 09/9/1985; Địa chỉ: K đường V, phường H, quận C, TP Đà Nẵng. Có đơn xin giải quyết vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 29/8/2023 và bản tự khai ngày 13/1/2023 và tại phiên tòa nguyên đơn bà Ngô Thị D1 L1 trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Nguyễn Văn D kết hôn với nhau vào năm 2021, có đăng ký kết hôn tại UBND phường H, TP Đà Nẵng(theo giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 39/2021 ngày 17/5/2021), hôn nhân trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn vợ chồng bà chung sống tại K đường V, tổ A, phường H, quận C, TP Đà Nẵng. Qúa trình chung sống đến tháng 12 năm 2022 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng không hòa hợp, không có tiếng nói chung trong cuộc sống hôn nhân, ông D2 trách nhiệm với gia đình, vợ con. Từ tháng 12/2022 cho đến nay vợ chồng bà đã sống ly thân, không còn quan tâm, chăm sóc nhau. Hiện nay bà L1 không còn tình cảm yêu thương gì với ông D. Do đó, bà Ngô D1 L1 đề nghị Tòa án giải cho bà được ly hôn với ông Nguyễn Văn D.
- Về con chung: Bà Ngô D1 L1 xác định vợ chồng bà có 01 con chung tên Nguyễn Ngô Tuệ M, sinh ngày 25/6/2022. Ly hôn bà L1 đề nghị Tòa án giải quyết giao con chung Tuệ Mẫn cho bà trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi các con đủ 18 tuổi, không yêu cầu ông Nguyễn Văn D cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung: Bà Ngô D1 L1 xác định vợ chồng không có tài sản chung.
- Về nợ chung: Bà Ngô D1 L1 xác định vợ chồng bà không có nợ chung.
Tại bản tự khai ngày 14/12/2023 và đơn xin giải quyết vắng mặt ngày 14/12/2023 bị đơn ông Nguyễn Văn D trình bày:
-Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Văn D thống nhất với trình bày của bà Ngô D1 L1 về thời gian, điều kiện kết hôn. Quá trình chung sống, vợ chồng ông có xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do không cùng quan điểm sống. Nay bà Ngô D1 L1 làm đơn ly hôn với ông, ông D3 ý ly hôn theo nguyện vọng của bà L1
-Về con chung: Ông Nguyễn Văn D4 nhất với trình bày của bà L1 xác định vợ chồng ông có Nguyễn Ngô Tuệ M, sinh ngày 25/6/2022. Do con còn nhỏ nên khi ly hôn ông D3 ý giao con cho bà L1 trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi con đủ 18 tuổi. Về phần cấp dưỡng do bà L1 không yêu cầu nên ông D5 tự nguyện cấp dưỡng nuôi con theo khả năng của bản thân.
-Về tài sản chung: Ông D xác định vợ chồng ông không có tài sản chung.
-Về nợ chung: Ông D xác định vợ chồng ông không có nợ chung.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, HĐXX, thư ký phiên tòa: Qúa trình thụ lý giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án theo quy định tại các Điều từ Điều 239 đến Điều 243; Điều 247; Điều 249 đến Điều 252; Điều 258 và Điều 260 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
Việc tuyên thủ pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng: Các đương sự đã tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật.
Về nội dung vụ án: Xét thấy mâu thuẫn giữa vợ chồng bà Ngô D1 L1 và ông Nguyễn Văn D6 thực sự trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Bản thân ông D7 đồng ý ly hôn theo yêu cầu của bà L1 Do đó, Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Ngô Diệu L2, xử cho bà L2 được ly hôn ông D.
Về con chung: Đề nghị giao con chung Nguyễn Ngô Tuệ M cho bà Ngô D1 L1 trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi; Về cấp dưỡng do bà L1 không yêu cầu nên không xem xét.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà L1 ông D thống nhất xác định không có nên không xem xét.
Về án phí: nguyên đơn bà Ngô D1 L1 phải chịu án phí Hôn nhân gia đình theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh luận tại phiên tòa và những tình tiết của vụ án, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về thẩm quyền giải quyết: Đây là vụ án hôn nhân gia đình “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” bị đơn là ông Nguyễn Văn D có địa chỉ nơi cư trú tại: tổ A, phường H, quận C, TP Đà Nẵng. Do đó, Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng thụ lý giải quyết vụ án là đúng về thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2] Về sự vắng mặt của bị đơn: Tại phiên tòa bị đơn ông Nguyễn Văn D8 mặt, tuy nhiên ông D6 có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án vắng mặt bị đơn theo quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung: Xét yêu cầu của các đương sự, trên cơ sở xem xét các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, ý kiến trình bày, nguyện vọng của các bên và ý kiến đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử thấy rằng:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Ngô Diệu L2 và ông Nguyễn Văn D9 hôn với nhau vào năm 2021, có đăng ký kết hôn tại UBND phường H, TP Đà Nẵng(theo giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 39/2021 ngày 17/5/2021), hôn nhân trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn vợ chồng bà chung sống tại K đường V, tổ A, phường H, quận C, TP Đà Nẵng. Qúa trình chung sống đến tháng 12 năm 2022 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng không hòa hợp, không có tiếng nói chung trong cuộc sống hôn nhân, ông D2 trách nhiệm với gia đình vợ con. Từ tháng 12 năm 2022 vợ chồng bà đã sống ly thân với nhau, không còn quan tâm, chăm sóc nhau. Hiện nay bà L1 không còn tình cảm yêu thương gì với ông D Do đó, bà Ngô D1 L1 đề nghị Tòa án giải cho bà được ly hôn với ông Nguyễn Văn D. Bị đơn ông Nguyễn Văn D10 định vợ chồng có mâu thuẫn và ông đồng ý ly hôn theo nguyện vọng của bà L1
Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn giữa vợ chồng bà L1 ông D đã đến mức trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Ngô Diệu L2, xử cho bà L2 được ly hôn với ông Nguyễn Văn D.
[3] Về quan hệ con chung: Bà Ngô D1 L1 và ông Nguyễn Văn D4 nhất xác định vợ chồng bà có 01 con chung tên Nguyễn Ngô Tuệ M, sinh ngày 25/6/2022. Ly hôn bà L1 đề nghị Tòa án giải quyết giao con chung Tuệ Mẫn cho bà trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi các con đủ 18 tuổi, không yêu cầu ông Nguyễn Văn D cấp dưỡng nuôi con chung. Ông D3 ý với nguyện vọng của bà L2, mặt khác cháu T M hiện nay chưa đủ 36 tháng tuổi. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà L2 giao cháu Nguyễn Ngô Tuệ M cho bà L2 trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi. Về cấp dưỡng nuôi con chung, do đương sự không yêu cầu nên không xem xét.
[4] Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Bà Ngô D1 L1 ông Nguyễn Văn D4 nhất xác định không có nên không xem xét.
[5] Về án phí: Bà Ngô D1 L1 phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ:
Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Các Điều 147, 227, 228, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân gia đình năm 2014;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án;
- Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Ngô Diệu L2 đối với ông Nguyễn Văn D về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”.
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho bà Ngô D1 L1 được ly hôn với ông Nguyễn Văn D.
- Về con chung: Giao con chung Nguyễn Ngô Tuệ M, sinh ngày 25/6/2022 cho bà Ngô D1 L1 trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.
Bên không nuôi con có quyền đi lại, thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được quyền cản trở. Khi cần thiết vì lợi ích con chung, các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn hoặc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Bà L1 ông D thống nhất xác định không có nên không xem xét.
- Về nợ chung: Bà L1 ông D thống nhất xác định không có nên không xem xét.
- Về án phí: Bà Ngô D1 L1 phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp tại biên lai thu số 0001850 ngày 05/10/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Cẩm Lệ (như vậy bà L2 đã nộp đủ án phí).
- Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà Phan Văn Cương |
Bản án số 03/2024/HNGĐ-ST ngày 11/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 03/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/01/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án Hôn nhân gia đình giữa các đương sự Ngô Diệu L, Nguyễn Văn D
