Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2024/HNGĐ-PT.

Ngày 10/01/2024.

V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Hải Hường

Các Thẩm phán: Bà Hoàng Thị Thu Hiền

Ông Nguyễn Trung Thông

- Thư ký phiên toà: Ông Tôn Trọng Hưng - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết - Kiểm sát viên trung cấp.

Trong ngày 10/01/2024 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 64/2023/TLPT-HNGĐ ngày 21/11/2023 về việc: “Ly hôn, con chung, chia tài sản” do Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 49/2023/HNGĐ-ST ngày 11/8/2023 của Toà án nhân dân huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 65/2023/QĐ-PT ngày 22/12/2023 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Chị Bùi Thị B, sinh năm 1979 (Có mặt)

Địa chỉ: Thôn H, xã T, huyện V, tỉnh Bắc Giang

* Bị đơn: Anh Dương Văn B1, sinh năm 1973 (Có mặt)

Địa chỉ: Thôn H, xã T, huyện V, tỉnh Bắc Giang

* Người kháng cáo: Bị đơn anh Dương Văn B1.

Ngoài ra trong vụ án còn có 9 người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan nhưng không có kháng cáo, không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án cấp phúc thẩm không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện và các lời khai chị Bùi Thị B trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Sau quá trình tìm hiểu chị kết hôn cùng anh Dương Văn B1 vào năm 1996 có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện V, tỉnh Bắc Giang. Quá trình chung sống khoảng hai năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do hai bên tính cách không hợp, hai bên gia đình đã nhiều lần khuyên bảo nhưng vợ chồng tiếp tục phát sinh mâu thuẫn do vậy đến tháng 01 năm 2022 chị đã về nhà ngoại ở từ đó đến nay. Nay tình cảm vợ chồng không còn chị xin ly hôn anh Dương Văn B1.

Về con chung: vợ chồng chị có bốn con chung là: Dương Thị N, sinh năm 1998, Dương Thị N1, sinh năm 2000; Dương Văn N2, sinh ngày 30/7/2005; Dương Văn N3, sinh ngày 04/3/2015, các con đang ở cùng anh B1, sau ly hôn chị có nguyện vọng được nuôi con Dương Văn N3, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Vợ chồng chị có các tài sản chung sau: Diện tích đất 106m² đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 023578, ngày 09/12/2005, thửa số 224, tờ bản đồ số 23, thôn H, xã T, huyện V, tỉnh Bắc Giang trên đất có nhà hai tầng diện tích 140m² làm năm 2006 trị giá hiện tại khoảng 200.000.000đ; Diện tích đất nông nghiệp 192m² ở thôn H, xã T; 240m² đất đồi ở thôn H, xã T; 01 con bò và các vật dụng theo biên bản định giá hội đồng đã định giá. Sau khi ly hôn chị đề nghị chia đôi tài sản chung: Chị có nguyện vọng giao tài sản cho anh B1 quản lý, anh B1 chia cho chị 500.000.000đ.

Công nợ vợ chồng chị có nợ Ngân hàng chính sách xã hội phòng giao dịch huyện V số tiền còn nợ lại là 30.000.000đ.

* Tại biên bản ghi lời khai anh Dương Văn B1 trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh kết hôn cùng chị B năm 1997 có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện V, tỉnh Bắc Giang vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm về kinh tế, gia đình hai bên động viên nhiều lần nhưng không được, vợ chồng anh sống ly thân từ đầu năm 2022 đến nay, nay tình cảm vợ chồng vẫn còn, anh không đồng ý ly hôn với chị B. Quá trình Tòa án sơ thẩm giải quyết do chị Biên cương q yêu cầu ly hôn nên anh đồng ý

Về con chung: vợ chồng anh có 04 con chung là Dương Thị N, sinh năm 1998, Dương Thị N1, sinh năm 2000; Dương Văn N2, sinh ngày 30/7/2005; Dương Văn N3, sinh ngày 04/3/2015, các con đang ở cùng anh B1, sau ly hôn anh có nguyện vọng được nuôi con Dương Văn N3 anh không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, quyền sử dụng đất chung: Diện tích đất 106m² đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 023578, ngày 09/12/2005, thửa số 224, tờ bản đồ số 23, thôn H, xã T, huyện V, tỉnh Bắc Giang trên đất có nhà hai tầng diện tích 140m² làm năm 2006; Diện tích đất nông nghiệp 192m² ở thôn H, xã T; 240m² đất đồi ở thôn H, xã T; 01 con bê đã bán cho ông L ở cùng làng tháng 3/2022 trị giá 25.000.000đồng; ngoài ra vợ chồng anh còn có số tiền gửi Ngân hàng N4 là 90.000.000đồng, sau đó năm 2017 hoặc 2018 có gửi Ngân hàng 110.000.000đồng, tổng cộng là 200.000.000đồng.

Năm 2018 vợ chồng anh có đưa tiền nhờ ông Bùi Văn K mua giúp mảnh đất của bà T, ở thôn D, xã T trị giá 800.000.000đồng.

Về công nợ: vợ chồng anh nợ Ngân hàng C - Phòng giao dịch huyện V số tiền 30.000.000đồng. Đến nay phía chị B yêu cầu trích chia số tiền 500.000.000đồng anh đồng ý trả chị B 300.000.000đồng.

* Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trình bày:

- Bà Nguyễn Thị X: Vợ chồng bà có mua thửa đất của bà Đoàn Thị T1, sinh năm 1955 tại D, xã T vào ngày 23/12/2019 số tiền là 870.000.000đồng, đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Bùi Văn K, Nguyễn Thị X.

- Ông Bùi Văn K: Vợ chồng ông có mua thửa đất của bà Đoàn Thị T1, sinh năm 1955 tại D, xã T vào ngày 23/12/2019 số tiền là 870.000.000đồng, đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Bùi Văn K, Nguyễn Thị X thửa số 398, tờ bản đồ số 71, diện tích 97,3m², đây là diện tích do ông mua và của ông, ông không mua hộ ai.

- Chị Dương Thị N: Chị là con ông Dương Văn B1 và bà Bùi Thị B, từ nhỏ sống cùng bố mẹ tại H, xã T, huyện V, tỉnh Bắc Giang, đến năm 18 tuổi đi làm, khi đi làm chị mua được chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Lead biển số 98B3 – 038.04, chị xác định đây là tài sản của chị không phải là tài sản của bà B, ông B1, các tài sản khác của bà B, ông B1 chị không yêu cầu gì.

- Chị Dương Thị N1: Chị là con ông Dương Văn B1 và bà Bùi Thị B, từ nhỏ sống cùng bố mẹ tại H, xã T, huyện V, tỉnh Bắc Giang, đến năm 22 tuổi đi lấy chồng về thị trấn N, huyện V trong quá trình chung sống chị không đóng góp gì vào tài sản chung của gia đình nay bà B, ông B1 ly hôn chia tài sản chung chị không yêu cầu gì.

- Ngân hàng chính sách xã hội tỉnh C, Phòng giao dịch huyện V: Chị Bùi Thị B và anh Dương Văn B1 có vay của Phòng giao dịch huyện V số tiền 50.000.000đ thuộc chương trình cho vay hộ nghèo vay ngày 16/5/2018, hạn trả nợ cuối cùng ngày 16/5/2023, đến ngày 03/12/2022 anh B1 chị B còn nợ số tiền gốc là 30.000.000đồng và tiền lãi phát sinh là 168.164đồng, do đó Phòng giao dịch Ngân hàng chính sách xã hội huyện C đề nghị buộc chị B, anh B1 phải thanh toán trả số tiền 30.000.000đồng và lãi phát sinh.

- UBND xã T, huyện V trình bày: Diện tích đất nông nghiệp anh B1 làm nhà và các công trình khác chưa được cấp giấy chứng nhận cho anh B1, chị B. Việc anh Dương Văn B1 xây dựng nhà và công trình khác có một phần trên đất nông nghiệp thời gian đã lâu, quá trình anh Bộ S đã tự ý xây dựng dần dần, mỗi năm làm thêm một ít, đất nông nghiệp liền kề với diện tích đất ở của gia đình anh B1 nên việc phát hiện khó khăn dẫn đến việc anh Dương Văn B1 xây dựng UBND xã không phát hiện kịp thời nên chưa xử lý. Do chưa hoàn thiện hồ sơ xử lý nên đề nghị tiếp tục giao cho gia đình anh B1 sử dụng, thời gian tới UBND xã sẽ tiến hành xác minh, hoàn thiện hồ sơ xử lý sau. Nguồn gốc đất trồng sắn diện tích 340,2m² tại thửa số 655 tờ bản đồ 42 của gia đình anh B1 đang sử dụng là đất công ích do tập thể giao cho hộ các hộ trong thôn sản suất kinh tế phụ (để trồng sắn).

* Với nội dung nêu trên, Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 49/2023/HNGĐ-ST ngày 11/8/2023 của Toà án nhân dân huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang đã quyết định:

Căn cứ vào: Điều 33, Điều 37, Điều 51, Điều 55, Điều 57, Điều 58, Điều 59, Điều 62, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Điều 213, Điều 219, Điều 357 Điều 468; 463, Điều 466 Bộ luật dân sự. Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010. Điều 28, Điều 35, Điều 143, Điều 144, Điều 147, Điều 157, Điều 165, Điều 166, Điều 217, Điều 218, Điều 235, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự. Điểm a, điểm b khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/21016. Xử:

Quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Bùi Thị B và anh Dương Văn B1.

Về con chung: Giao con chung là Dương Văn N3, sinh ngày 04/3/2015 cho chị Bùi Thị B chăm sóc nuôi dưỡng. Chị B không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung. Sau khi ly hôn anh Dương Văn B1 có quyền và nghĩa vụ thăm nom con, không ai được cản trở anh B1 thực hiện quyền này.

Về tài sản: Giao cho anh Dương v Bộ quản lý sử dụng diện tích đất 106m² đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 023578, ngày 09/12/2005, thửa số 224, tờ bản đồ số 23, thôn H, xã T, huyện V trị giá 636.000.000đ; Đất nông nghiệp 366,3m² trị giá 18.315.000đ; tài sản trên đất gồm: 01 nhà 02 tầng cấp ba loại ba diện tích sàn là 131,6m² trị giá còn lại 116.597.600đ, bếp và nhà ăn diện tích 39,2m² trị giá 29.909.600đ, 01 nhà vệ sinh diện tích 10,03m² trị giá 10.531.500đ, 01 sân gạch diện tích 78,5m² trị giá 9.891.000đ, 01 nhà kho diện tích 13,6m² trị giá 4.080.000đ; 01 cổng sắt, và tường bao trị giá 840.000đ, Tường bao xung quanh nhà diện tích 60m² trị giá còn lại là 2.580.000đ. (Có sơ đồ kèm theo bản án).

Tài sản trong nhà: 01 bàn thờ mua năm 2021 trị giá 8.000.000đ, 01 kệ tivi gỗ lim mua năm 2017 trị giá 7.000.000đ, 01 bộ bàn ghế gỗ nhãn mua năm 2016 trị giá 4.000.000đ, 04 giường gỗ tạp trị giá 1.000.000đ, 01 tivi 48 inch nhãn hiệu Sony trị giá 2.000.000đ, 01 máy khâu + vắt sổ trị giá 5.000.000đ; 02 Điều hòa nhãn hiệu Hòa phát mua năm 2020 trị giá 5.000.000đ, 01 tủ lạnh Aqua mua năm 2018 trị giá 4.000.000đ, 01 máy giặt nhãn hiệu LG mua năm 2018 giá trị 4.000.00đ; 01 xe máy Wave biển kiểm soát 99H5 - 8044 trị giá 1.000.000đ; số tiền anh B1 bán bê là 25.000.000đ, tổng giá trị tài sản là 894.744.700đ.

Anh B1 có trách nhiệm trích chia cho chị B số tiền 370.000.000; Tổng giá trị tài sản anh B1 được nhận sau khi đã trừ đi số tiền đã trích chia cho chị B là 524.744.700đ.

Giao cho chị Bùi Thị B: 01 Điện thoại Oppo mua năm 2010 trị giá 1.000.000đ, 01 xe máy nhãn hiệu Honda RSX biển kiểm soát 98K1 – 02300 mang tên Bùi Thị B mua năm 2012 trị giá 10.000.000đ và được nhận số tiền trích chia từ anh B1 là 370.000.000đ; Tổng giá trị tài sản chị B được nhận là 381.000.000đ.

Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của chị B yêu cầu chia thửa đất lâm nghiệp diện tích 340,2m² tại thôn H, xã T, huyện V, tỉnh Bắc Giang.

Đình chỉ yêu cầu độc lập của Ngân hàng C, Phòng giao dịch huyện V về yêu cầu chị B, anh B1 trả số tiền nợ là 30.000.000đ.

Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, quyền thi hành án và quyền kháng cáo cho các đương sự.

* Ngày 26/8/2023 bị đơn là anh Dương Văn B1 có đơn kháng cáo đề nghị được nuôi con chung là cháu Dương Văn N3.

* Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn không rút đơn khởi kiện, bị đơn không rút đơn kháng cáo. Các đương sự không tự thỏa thuận được với nhau về giải quyết vụ án.

- Anh Dương Văn B1 trình bày: Chị B không đủ điều kiện nuôi con vì chị B có mối quan hệ nam nữ với nhiều người đàn ông khác, anh không biết đọc nhưng có biết viết những từ đơn giản, anh có thu nhập để nuôi cháu ổn định. Anh đề nghị giao cháu N3 cho anh nuôi dưỡng và chị B cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh nhưng anh không đưa ra được số tiền cụ thể đề nghị Hội đồng xét xử xem xét. Anh đề nghị số tiền 370.000.000đồng anh trích chia chênh lệch sản cho chị B, do anh không có tiền trả nên anh đề nghị trả dần cho chị mỗi tháng 500.000đồng cho đến khi hết số tiền.

- Chị Bùi Thị B trình bày: Chị không đồng ý với phần trình bày của anh, hiện nay chị làm công ty mỗi tháng 20 ngày thu nhập 10.000.000đồng/1 tháng ngoài ra chị có nghề phun săm thẩm mỹ nên thu nhập của chị đảm bảo nuôi cháu N3 phát triển tốt về mọi mặt, chị đang làm nhà riêng trên đất của mẹ chị, 02 con của chị là cháu N1 và cháu N2 đang ở cùng chị nên các cháu có thể hỗ trợ cho chị trong việc chăm sóc dậy bảo cháu N3. Trường hợp được nuôi cháu N3 chị không yêu cầu anh cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị. Đối với đề nghị của anh tra dần cho chị số tiền 370.000.000đồng mỗi tháng 500.000đồng cho đến khi hết số tiền chị không đồng ý. Chị yêu cầu anh phải trả hết cho chị như bản án sơ thẩm đã xét xử.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang phát biểu ý kiến:

- Việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp phúc thẩm của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã được đảm bảo đúng quy định của pháp luật.

- Về nội dung: Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của anh Dương Văn B1, giữ nguyên Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 49/2023/HNGĐ-ST ngày 11/8/2023 của Toà án nhân dân huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang về con chung.

Giao con chung là Dương Văn N3, sinh ngày 04/3/2015 cho chị Bùi Thị B chăm sóc nuôi dưỡng. Chị B không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung. Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom con, không ai được cản trở anh B1 thực hiện quyền này.

Về án phí phúc thẩm: Anh Dương Văn B1 phải chịu án phí phúc thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án, căn cứ tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh luận tại phiên tòa, nghe ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, sau khi thảo luận nghị án, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:

[1]. Về quan hệ hôn nhân, chia tài sản chung và công nợ: Bản án sơ thẩm công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Bùi Thị B và anh Dương Văn B1 và phân chia tài sản chung, công nợ giữa chị B và anh B1. Nội dung này các đương sự đều không kháng cáo, Viện kiểm sát không kháng nghị nên đã có hiệu lực pháp luật, HĐXX không xem xét giải quyết.

[2]. Xét nội dung kháng cáo của anh Dương Văn B1 được nuôi cháu Dương Văn N3, HĐXX thấy:

Vợ chồng chị B, anh B1 có bốn con chung là: Dương Thị N, sinh năm 1998, Dương Thị N1, sinh năm 2000; Dương Văn N2, sinh ngày 30/7/2005; Dương Văn N3, sinh ngày 04/3/2015, hiện nay các cháu N, N1, N2 đã trên 18 tuổi tại phiên tòa chị B, anh B1 không đề nghị giải quyết. chị B, anh B1 cùng có nguyện vọng nuôi cháu Dương Văn N3. Tòa án cấp sơ thẩm giao cho chị B nuôi dưỡng cháu N3 và anh B1 kháng cáo đề nghị được nuôi dưỡng cháu N3. HĐXX xét thấy: Nguyện vọng được nuôi con chung của chị B và anh B1 là chính đáng, thể hiện trách nhiệm của người làm cha, làm mẹ đối với con cái. Cả anh B1 và chị B hiện nay đều đang có việc làm và thu nhập ổn định nên có đủ điều kiện để nuôi con. Tuy nhiên, anh B1 không biết đọc và chỉ viết được những từ đơn giản nên việc chăm sóc và dậy dỗ cháu N3 đang ở độ tuổi học tiểu học là không đảm bảo. Hiện nay hai cháu lớn là cháu N1 và cháu N2 đang ở cùng chị B có thể hỗ trợ cùng chị trong trong việc dậy dỗ, chăm sóc cháu N3. Do vậy, để đảm bảo sự phát triển và học tập của cháu N3 Tòa án cấp sơ thẩm giao cháu N3 cho chị B là đảm bảo quyền lợi cho cháu N3. Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của anh B1, giao cháu Dương Văn N3 cho chị B nuôi dưỡng là phù hợp, đảm bảo cho cháu N3 được phát triển tốt về mọi mặt, phù hợp với quy định tại Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình. Về việc cấp dưỡng nuôi con chung do chị B không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.

Tại phiên tòa anh B1 đề nghị số tiền Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên buộc anh phải chia công sức cho chị B 370.000.000đồng, do anh không có tiền trả một lần cho chị B nên anh đề nghị cho anh được trả dần mỗi tháng 500.000đồng cho đến khi hết số tiền nhưng chị B không đồng ý do vậy Hội đồng xét xử không có căn cứ chấp nhận đề nghị của anh.

[3]. Từ những nội dung trên HĐXX căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của anh Dương Văn B1, giữ nguyên Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 49/2023/HNGĐ-ST ngày 11/8/2023 của Toà án nhân dân huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang về con chung.

[4]. Về án phí phúc thẩm: Căn cứ khoản 1 Điều 148 BLTTDS và khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, do kháng cáo của anh Dương Văn B1 không được chấp nhận nên anh anh B1 phải chịu án phí phúc thẩm.

[5]. Các nội dung khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị HĐXX không đặt ra xem xét giải quyết.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 308, khoản 1 Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Xử:

1. Không chấp nhận kháng cáo của anh Dương Văn B1. Giữ nguyên Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 49/2023/HNGĐ-ST ngày 11/8/2023 của Toà án nhân dân huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang về con chung.

Giao con chung là Dương Văn N3, sinh ngày 04/3/2015 cho chị Bùi Thị B trực tiếp nuôi dưỡng giáo dục đến khi đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Về việc cấp dưỡng nuôi con chung không đặt ra giải quyết.

Sau khi ly hôn, anh Dương Văn B1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở theo quy định tại Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình.

2. Án phí phúc thẩm: Anh Dương Văn B1 phải chịu 300.000đồng án phí phúc thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000đồng tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu số 0007107 ngày 28 tháng 8 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - TAND huyện Việt Yên;
  • - Chi cục THADS huyện Việt Yên;
  • - Cổng thông tin điện tử ;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, HCTP.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Thị Hải Hường

THÀNH VIÊN

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Thị Thu Hiền

Nguyễn Trung Thông

Hoàng Thị Hải Hường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 03/2024/HNGĐ-PT ngày 10/01/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 03/2024/HNGĐ-PT
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 10/01/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Biên ly hôn Bộ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger