Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2024/DSPT

Ngày: 26/11/2024

V/v: Tranh chấp hôn nhân và gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Tuyết Mai

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Hữu Minh.

Ông Nguyễn Văn Tính.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thanh Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Huy Quang - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 01/2024/TLPT-HNGĐ ngày 02 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”.

Do bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số: 36/2024/HNGĐ-ST ngày 24 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 04/2024/QĐ-PT ngày 05 tháng 11 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Trần Thị V, sinh năm 1997; địa chỉ: Chung cư T, số B V, phường X, quận T, thành phố Hà Nội. Có mặt;

- Bị đơn: Anh Lê Văn M, sinh năm 1995; địa chỉ: Số E ngách D chợ M, khu B, phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. Có mặt;

Người kháng cáo: Bị đơn là anh Lê Văn M.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản án sơ thẩm và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thì nội dung vụ án như sau:

* Nguyên đơn chị Trần Thị V trình bày: Chị và anh Lê Văn M kết hôn năm 2019 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống cùng gia đình chồng tại khu B, phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. Quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng về quan điểm sống, anh M thường xuyên có hành vi bạo lực gia đình với chị nên cuộc sống hôn nhân không có hạnh phúc. Nhận thấy bản thân không còn tình cảm với anh M nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh M.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Lê Bảo A, sinh ngày 01/9/2019. Khi ly hôn, chị đề nghị được trực tiếp nuôi con chung, không yêu cầu anh M phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và công nợ: Không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

* Bị đơn anh Lê Văn M trình bày: Anh và chị V kết hôn năm 2019 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. Quá trình chung sống, vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm nhưng chưa trầm trọng đến mức phải ly hôn. Bản thân anh vẫn còn tình cảm với chị V nên anh không đồng ý ly hôn.

Trong trường hợp chị V vẫn cương quyết ly hôn và được Tòa án chấp nhận thì anh đề nghị được trực tiếp nuôi con chung là cháu Lê Bảo A, sinh ngày 01/9/2019. Cấp dưỡng nuôi con: Chị V có thể cấp dưỡng nuôi con theo khả năng của mình và tùy tâm, anh không yêu cầu mức cấp dưỡng nuôi con cụ thể.

Về tài sản chung và công nợ: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Với nội dung trên, bản án sơ thẩm số: 36/2024/HNGĐ-ST ngày 24 tháng 6 năm 2024 của Toà án nhân dân thành phố Bắc Ninh đã căn cứ các Điều 28, 35, 39, 235, 262, 264, 266, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí

và lệ phí Tòa án, xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là chị Trần Thị V.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị V được ly hôn anh Lê Văn M.
  2. Về con chung: Giao con chung là cháu Lê Bảo A, sinh ngày 01/9/2019 cho chị Trần Thị V trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục.

Về cấp dưỡng nuôi con: Do chị V không có yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

Anh Lê Văn M có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.

  1. Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 04/7/2024, anh Lê Văn M kháng cáo đề nghị cấp phúc thẩm giao cháu Lê Bảo A cho anh được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục.

Tại phiên tòa phúc thẩm, chị V giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, anh M giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Các đương sự không hòa giải được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án đảm bảo đúng quy định của pháp luật; việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn, bị đơn đảm bảo thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.

Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, xử: Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn là anh Lê Văn M, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 36/2024/HNGĐ-ST ngày 24 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh.

Về án phí: Anh Lê Văn M phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của anh Lê Văn M nộp trong thời hạn luật định nên được chấp nhận để xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

[2]. Xét nội dung kháng cáo của anh Lê Văn M về con chung, Hội đồng xét xử thấy:

Quá trình chung sống, chị Trần Thị V và anh Lê Văn M có 01 con chung là cháu Lê Bảo A, sinh ngày 01/9/2019. Quá trình giải quyết vụ án, chị V và anh M đều đề nghị Tòa án xem xét giao cháu Bảo A cho cá nhân anh chị được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Xét về điều kiện, môi trường sống và giáo dục của các bên thì thấy:

Bị đơn là anh Lê Văn M đang làm việc tại Công ty C với vị trí Trưởng ca sản xuất, có mức lương cơ bản là 11.100.000 đồng, cộng thêm thu nhập trợ cấp và tiền tăng ca sẽ dao động từ khoảng 16.000.000 đồng đến 18.000.000 đồng/tháng. Hiện nay, anh M đang sống cùng bố mẹ đẻ tại cụm A, khu B, phường V, thành phố B.

Còn nguyên đơn là chị Trần Thị V hiện đang làm việc tại Công ty TNHH A1 với mức lương là 8.789.800 đồng/tháng và Công ty T với mức lương là 16.090.000 đồng/tháng. Chị V đang ở nhà chị ruột là chị Trần Thị Y tại chung cư T, số B V, phường X, quận T, thành phố Hà Nội. Như vậy, xét về điều kiện thu nhập thì cả anh M và chị V đều có đủ điều kiện để đảm bảo nuôi dưỡng con chung.

Tuy nhiên, để đảm bảo quyền lợi của phụ nữ và trẻ em sau khi ly hôn. Đồng thời xét đến điều kiện, môi trường sống và thu nhập của các bên nên bản án sơ thẩm đã giao cháu Lê Bảo A cho chị V trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục là phù hợp; không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của anh Lê Văn M.

Về cấp dưỡng nuôi con: Do các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

[3]. Về án phí: Anh Lê Văn M phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 148, khoản 1 Điều 308 Bộ Luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, xử: Không chấp nhận kháng cáo của anh Lê Văn M, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

  1. Giao cháu Lê Bảo A, sinh ngày 01/9/2019 cho chị Trần Thị V trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục kể từ tháng 12/2024 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi về việc nuôi con chung.

Về cấp dưỡng nuôi con: Không xem xét, giải quyết.

Anh Lê Văn M có quyền, nghĩa vụ thăm nom và chăm sóc con chung không ai được cản trở.

  1. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị tiếp tục có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  2. Về án phí: Anh Lê Văn M phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân gia đình phúc thẩm. Xác nhận anh M đã nộp số tiền 300.000 đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000898 ngày 09/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh.
  3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bắc Ninh;
  • - TAND thành phố Bắc Ninh;
  • - Chi cục THADS thành phố Bắc Ninh;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Tuyết Mai

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Hữu Minh

Nguyễn Văn Tính

Nguyễn Tuyết Mai

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 03/2024/DSPT ngày 26/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 03/2024/DSPT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 26/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vân - Minh
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger