Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2024/DSPT

Ngày: 20/11/2024

V/v: Tranh chấp hợp đồng

vay tài sản

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH

- Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Bình

Các Thẩm phán: Ông Hoàng Ngọc Sơn; Ông Đỗ Thế Bình

- Thư ký phiên tòa: Bà Lưu Thị Tuyết Nhung - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Huy Quang - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 01/2024/TLPT-DS ngày 07/10/2024 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số: 30/2024/DS-ST ngày 31/7/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Từ Sơn bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 05/2024/QĐ-PT ngày 22/10/2024 giữa các đương sự:

  • Nguyên đơn: Ông Nguyễn Quảng Q, sinh năm 1950; Địa chỉ: Khu phố Đ, phường H, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh (có mặt).
  • Bị đơn: Bà Ngô Thị Y, sinh năm 1964; Địa chỉ: Khu phố Đ, phường H, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh (có mặt).
  • Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Hữu C, sinh năm 1965; Địa chỉ: Khu phố Đ, phường H, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh (có mặt).

Người kháng cáo: Bà Ngô Thị Y.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản án sơ thẩm và các tài liệu có trong hồ sơ thì vụ án có nội dung như sau: Nguyên đơn ông Nguyễn Quảng Q trình bày: Ông Q và bà Ngô Thị Y, có quan hệ họ hàng và cùng sinh sống tại khu phố Đ, phường H. Gia đình ông Q và gia đình bà Y cùng kinh doanh gỗ mỹ nghệ tại nhà. Vì vậy, khi bà Y cần tiền trả tiền gỗ có hỏi vay tiền của ông Q. Cụ thể ngày 19/3/2011 (âm lịch) ông Q có cho bà Y vay số tiền 500.000.000 đồng. Khi vay hai bên có thỏa thuận lãi suất tiền vay là 2%/tháng, không thỏa thuận thời hạn thanh toán cụ thể, bà Y chỉ nói khi nào bán được gỗ thì trả tiền. Sau khi bà Y nhận tiền tại nhà ông Q, bà Y đã viết giấy xác nhận vay tiền với nội dung “Ngày 19/3/2011 em: Ngô Thị Y vay của ông Q số tiền là: 500.000.000₫ Năm trăm triệu đồng chẵn”. Trong giấy vay nợ bà Y không ghi lãi suất, ông Q cũng không có ý kiến gì. Khoảng một năm sau bà Y thanh toán được số tiền gốc 250.000.000 đồng và tiền lãi của số nợ gốc đã vay theo thỏa thuận. Bà Y có nói với ông Q số tiền gốc còn lại 250.000.000 đồng ông Nguyễn Hữu C (ông C là em trai chồng bà Y) sẽ thanh toán. Vì ông C và bà Y buôn bán chung. Ông Q cũng đồng ý (nhưng không lập thành văn bản), những tháng tiếp sau ông C trực tiếp mang tiền lãi sang trả cho ông Q. Ông C đã trả ông Q được 10 tháng tiền lãi mỗi tháng 2.000.000 đồng. Sau đó ông C nói là ai vay người đó trả nên không trả cho ông Q. Ông Q có quay lại đòi bà Y nhưng bà Y nói là đòi ông C và không chịu trả tiền. Ông Q còn phải nhờ ông Nguyễn Hữu V là chú của ông C bà Y can thiệp giúp nhưng cũng không có kết quả. Thời gian cứ trôi đi, ông Q không thu được tiền lãi, tiền gốc. Ông Q yêu cầu Tòa án buộc bà Y phải trả số nợ gốc 250.000.000 đồng, tiền lãi theo mức lãi suất thỏa thuận 2%/tháng từ ngày 19/3/2013 đến nay.

Bị đơn bà Ngô Thị Y trình bày: Bà Y và ông Q có quan hệ họ hàng và sinh sống tại khu phố Đ, phường H. Do cùng là người kinh doanh gỗ, ngày 19/3/2011 (âm lịch) bà Y có hỏi vay nóng tiền (vay vài ngày trả ngay) của ông Q để thanh toán tiền mua gỗ. Ông Q đã đồng ý cho bà Y vay số tiền 500.000.000 đồng. Vì là vay nóng nên hai bên không thỏa thuận lãi suất, không thỏa thuận thời hạn thanh toán Sau khi nhận tiền của ông Q tại nhà ông Q, bà Y có viết cho ông Q một giấy xác nhận vay tiền với nội dung “Ngày 19/3/2011 Em: Ngô Thị Y vay của ông Q số tiền là: 500.000.000đ Năm trăm triệu đồng chẵn”. Thời điểm này bà Y và em trai chồng bà Y là ông Nguyễn Hữu C cùng làm ăn chung nên khoảng 05 ngày sau bà Y cầm số tiền 250.000.000 đồng sang nhà trả cho ông Q và thống nhất với ông Q số tiền 250.000.000 đồng còn lại sẽ do ông C trả thay, ông Q đồng ý. Việc bà Y trả tiền và thỏa thuận chuyển giao số nợ 250.000.000 đồng cho ông C với ông Q nhưng không được lập thành văn bản, chỉ thỏa thuận miệng. Sau đó ông C đã trả cho ông Q trong vòng 02 năm hết số nợ trên nhưng ông Q lại cho rằng đó là tiền lãi, chưa trả gốc. Bà Y khẳng định vay tiền của ông Q không có thỏa thuận vay lãi. Sau đó, ông Q vẫn đến đòi tiền ông C nhưng ông C nói không có trách nhiệm thanh toán vì ông C không vay nợ ông Q. Thời gian sau đó ông Q cũng không đòi tiền bà Y. Đến nay ông Q khởi kiện, yêu cầu bà Y phải thanh toán số tiền vay 500.000.000 đồng gốc và tiền lãi theo thỏa thuận 20%/năm là 1.300.000.000 đồng, tổng cộng cả gốc và lãi là 1.800.000.000 đồng, bà Y không chấp nhận. Vì bà Y đã trực tiếp trả cho ông Q số tiền 250.000.000 đồng và ông C trả cho ông Q 250.000.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền 500.000.000 đồng bà Y vay của ông Q đã được thanh toán xong. Bà Y và ông Q không thỏa thuận vay lãi vì vậy bà Y không có nghĩa vụ trả lãi số tiền đã vay.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Hữu C trình bày: Ông C là em trai chồng bà Ngô Thị Y. Năm 2011 bà Y có nói với ông C trả cho ông Q số tiền 250.000.000 đồng. Do là anh chị em trong nhà nên ông C đồng ý trả thay bà Y. Trong vòng 02 năm, mỗi tháng ông C đã trả cho ông Q 12.000.000đồng. Các lần trả tiền ông Q ông C không yêu cầu ông Q hay vợ ông Q ký nhận. Ông C không biết việc vay nợ giữa bà Y và ông Q. Ông C đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

Với nội dung như trên, bản án sơ thẩm của TAND thành phố Từ Sơn áp dụng các Điều 357; Điều 370; Điều 463; Điều 466; khoản 2 Điều 468; Điều 469; Điều 470; Điều 688 Bộ luật dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Toà án.

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Quảng Q. Buộc bà Ngô Thị Y phải trả cho ông Nguyễn Quảng Q số tiền 237.219.000 đồng gồm 230.000.000 đồng tiền gốc và 7.219.000 đồng tiền lãi.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu, bà Ngô Thị Y tiếp tục phải chịu lãi theo lãi suất qui định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.

Ngày 07/8/2024, bà Ngô Thị Y kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, đề nghị Tòa án không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn bà Ngô Thị Y giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đề nghị không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vì bà cho rằng bà và ông C đã trả hết số tiền nợ cho ông Q. Nguyên đơn không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Trong phần tranh luận, phí bị đơn cho rằng ông C đã trả hết tiền cho ông Q và không còn nợ ông Q, tuy nhiên phía bị đơn không cung cấp được các tài liệu chứng cứ việc ông C đã trả hết tiền cho ông Q, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông C cho rằng mỗi tháng đã trả ông Q 12 triệu đồng nay bà Y không còn nợ ông Q đề nghị giải quyết theo pháp luật; phía nguyên đơn đề nghị giải quyết theo pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý phúc thẩm cho đến phần tranh luận tại phiên tòa là đảm bảo theo đúng trình tự, quy định của pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, giữ nguyên bản án sơ thẩm xử. Về án phí phúc thẩm: Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho bà Y do là người cao tuổi.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bà Ngô Thị Y nộp trong hạn luật định, đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ là kháng cáo hợp lệ nên được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Xem xét kháng cáo của bà Ngô Thị Y: Việc ông Nguyễn Quảng Q cho bà Ngô Thị Y vay tiền được xác nhận bằng giấy vay tiền với nội dung: “Ngày 19/03/2011 âm lịch, em Ngô Thị Y có vay của ông Q số tiền là: 500.000.000 đồng”. Xét thấy giữa ông Q và bà Y phát sinh quan hệ vay nợ là giao dịch dân sự được thể hiện dưới hình thức hợp đồng vay tiền, các bên khi tham gia giao dịch có đủ năng lực hành vi dân sự và tự nguyện, không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội. Do vậy, hợp đồng vay tiền là hợp pháp và làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của các bên tham gia hợp đồng. Trong hợp đồng không thoả thuận thời hạn trả nợ và lãi suất, không có căn cứ xác định có thỏa thuận lãi nên xác định là hợp đồng không kỳ hạn và không có lãi.

Trong giấy vay tiền, chỉ một mình bà Y ký vào giấy vay tiền và bà Y thừa nhận có vay của ông Q số tiền 500.000.000 đồng, bà trình bày đã trả cho ông Q số tiền 250.000.000 đồng sau 05 ngày kể từ ngày vay tiền. Ông Q cũng xác nhận bà Y đã trả được 250.000.000 đồng tiền gốc và tiền lãi một năm sau ngày nhận tiền vay. Số tiền còn lại đều được cả bên bên xác nhận còn nợ là 250.000.000 đồng. Xét thấy, ông Q và bà Y đều thống nhất đối với số tiền 250.000.000 đồng đã trả nên đây là tình tiết các đương sự đã thừa nhận phù hợp tài liệu chứng cứ nên không phải chứng minh.

Đối với số tiền nợ còn lại là 250.000.000 đồng thì bà Y cho rằng đã chuyển giao nghĩa vụ cho em trai chồng là ông Nguyễn Hữu C trả nợ cho ông Q thay mình và ông Q đã đồng ý. Nguyên đơn xác nhận chỉ nhận từ ông C mỗi tháng là 2.000.000 đồng, nhận 10 tháng, tổng cộng đã nhận 20.000.000 đồng là tiền lãi của ông C trả thay bà Y, ngoài ra không nhận bất cứ khoản tiền nào khác. Còn phía ông C trình bày đã trả mỗi tháng là 12.000.000 đồng, trong vòng 02 năm đã trả đủ là 250.000.000 đồng, đến nay không còn nợ ông Q.

Việc vay tiền phát sinh giữa ông Q và bà Y, do đó, bà Y có trách nhiệm trả số tiền vay nợ như đã ký kết với ông Q. Việc bà Y trình bày chuyển giao nghĩa vụ 250.000.000 đồng cho ông C nhưng không có tài liệu, chứng cứ chứng minh, đồng thời phía nguyên đơn không thừa nhận việc chuyển giao nghĩa vụ này. Ngoài ra, ông C cũng không xuất trình được tài liệu, chứng cứ về việc đã thanh toán cho ông Q số tiền 250.000.000 đồng. Do đó lời trình bày của bà Y về việc đã trả số tiền 250.000.000 đồng không có căn cứ chấp nhận. Như vậy chỉ có căn cứ chấp nhận khoản tiền ông C đã thanh toán 20.000.000 đồng mà ông Q thừa nhận. Như đã phân tích ở trên, quan hệ vay nợ không kỳ hạn, không lãi nên số tiền ông C đã thanh toán được trừ vào số nợ gốc 250.000.000 đồng. Vì vậy, chấp nhận một phần yêu cầu của ông Q về việc bà Y phải trả số nợ 230.000.000 đồng.

Trong giấy biên nhận vay tiền do ông Q xuất trình các bên thỏa thuận về lãi suất, nguyên đơn cho rằng có thỏa thuận miệng lãi suất nên yêu cầu tính lãi 2%/tháng từ 19/3/2013 đến nay. Tuy nhiên, bị đơn bà Y khẳng định hai bên thỏa thuận không tính lãi. Do nguyên đơn không xuất trình căn cứ nào về việc có tính lãi nên không có căn cứ để chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc tính lãi trên nợ gốc từ khi vay cho đến nay.

Do đó, xác định bà Y còn nợ ông Q số tiền là 230.000.000 đồng. Mặc dù hai bên không thỏa thuận về lãi suất nhưng căn cứ quy định tại Điều 357 BLDS, bà Y phải chịu lãi phát sinh do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền cho ông Q. Như vậy, lãi suất chậm trả được tính từ ngày ông Q có đơn yêu cầu Tòa án sơ thẩm giải quyết là ngày 08/4/2024 đến ngày xét xử sơ thẩm 31/7/2024 là 113 ngày: 230.000.000₫ x 10%/năm (360 ngày) x 113 ngày = 7.219.000 đồng. Như vậy, tổng cộng nợ gốc và tiền lãi bà Y phải thanh toán cho ông Q là 237.219.000 đồng như Tòa án cấp sơ thẩm nhận định là phù hợp và đúng quy định của pháp luật.

Tại giai đoạn chuẩn bị xét xử cũng như tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, bà Y kháng cáo toàn bộ bản án nhưng không đưa ra tài liệu, chứng cứ nào mới nên kháng cáo không có căn cứ để chấp nhận. Do đó, cần giữ nguyên bản án sơ thẩm.

[3] Các quyết định khác của bản án dân sự sơ thẩm số: 30/2024/DS-ST ngày 31/7/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Từ Sơn không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật.

[4] Về án phí: Bà Y là người cao tuổi nên được miễn toàn bộ án phí dân sự phúc thẩm theo điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 148, khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án; Xử:

  1. Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Ngô Thị Y. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 30/2024/DS-ST ngày 31/7/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Từ Sơn
  2. Về án phí phúc thẩm: Miễn toàn bộ án phí dân sự phúc thẩm cho bà Ngô Thị Y.
  3. Các quyết định khác của bản án dân sự sơ thẩm số: số: 30/2024/DS-ST ngày 31/7/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Từ Sơn không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bắc Ninh;
  • - TAND thành phố Từ Sơn;
  • - Chi cục THADS thành phố Từ Sơn;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS, TT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thanh Bình

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 03/2024/DSPT ngày 20/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 03/2024/DSPT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 20/11/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản giữa Nguyên đơn: Ông Nguyễn Quảng Quý; Bị đơn: Bà Ngô Thị Yến
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger