|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SA THẦY TỈNH KON TUM |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 03/2024/DS-ST. Ngày: 10/9/2024. V/v “Tranh chấp chậm thực hiện nghĩa vụ dân sự”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SA THẦY, TỈNH KON TUM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Lâm.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đăng Sao và ông Đỗ Hiền Lương.
Đại diện VKSND huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum tham gia phiên tòa: Ông Phan Hà Thi - Kiểm sát viên.
Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Khánh Lựu.
Ngày 10 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở TAND huyện Sa Thầy xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 02/2024/TLST – DS, ngày 22/01/2024 về việc “Tranh chấp chậm thực hiện nghĩa vụ dân sự” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2024/QĐXXST-DS ngày 19 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 94/2024/QĐST-DSST ngày 14-8-2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Trần Viết H, sinh năm 1958. (Có mặt)
Địa chỉ: Thôn D, thị trấn S, huyện S, tỉnh Kon Tum.
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Anh Đ, sinh năm 1958. (Vắng mặt).
Địa chỉ: Tổ D, phường N, Thành phố G, tỉnh Đăk Nông.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện đề ngày 21-01-2024, tại các Bản tự khai trong quá trình giải quyết và tại phiên tòa, nguyên đơn ông Trần Viết H trình bày:
Ngày 24 - 8 - 2023, bà Nguyễn Thị Anh Đ và ông H (Trần Viết H) đã thoả thuận ký hợp đồng kinh tế số 02/HĐKT v/v “cho thuê xe máy đào, xe ủi, xe lu san lấp mặt bằng". Nơi ký hợp đồng: Thôn B, xã S, huyện S, tỉnh Kon Tum. Theo thỏa thuận của hợp đồng, ông H đã cho bà Nguyễn Thị Anh Đ thuê thiết bị gồm:
- + 01 máy đào Hatachi:60.000.000đ /tháng.
- + 01 máy ủi D31: 40.000.000đ/tháng.
- +01 xe lu rung 14 tấn: 45.000.000 đồng tháng.
Giá trên không bao gồm xuất hoá đơn, chưa bao gồm phí nhiên liệu, phụ liệu.
Thời gian thuê: bắt đầu từ ngày 24/8/2023, dự tính thuê khoảng 3 tháng.
Địa điểm thi công: Trại heo Công ty H1- xã H, huyện S, tỉnh Kon Tum.
Đến ngày 01-10-2023, bà Đ đã viết giấy nhận nợ số tiền theo Hợp đồng số 02/HĐKT ngày 24/8/2023 xác nhận số tiền còn nợ là 145.000.000 đồng. Trong thời gian tới xin trả 60.000.000 đồng. Thời hạn cuối cùng trả là ngày 08/10/2023. Nếu quá thời hạn thì sẽ phải trả toàn bộ số tiền là 145.000.000 đồng.
Trong thời gian qua, ông H đã nhiều lần yêu cầu bà Nguyễn Thị Anh Đ1 thực hiện nghĩa vụ trả số tiền còn nợ nhưng bà Đ vẫn không hợp tác nên ông H làm đơn khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Thị Anh Đ trả cho ông H số tiền 145.000.000đ ( Một trăm bốn mươi lăm triệu đồng) đã cam kết tại giấy nhận nợ ngày 01/10/2023 và không yêu cầu tính lãi.
Tại phiên tòa, Ông H khẳng định ông không có nợ bà Đ số tiền 200.000.000 đồng theo đơn phản tố của bà Đ và ông vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
* Theo Bản lấy lời khai ngày 10-5-2024 của bị đơn bà Nguyễn Thị Anh Đ trình bày: Bà Đ thừa nhận chữ viết, chữ ký tại hợp đồng số 02 và giấy nhận nợ ngày 01/10/2023 là của bà. Giấy nhận nợ ngày 01/10/2023 là do bà trực tiếp viết, mục đích viết là để xác nhận nợ ông H số tiền 145.000.000đ.
Nội dung thể hiện tại hợp đồng số 02 đúng là nội dung mà bà đã thuận với ông H tại thời điểm ký kết, việc thỏa thuận và ký kết là hoàn toàn tự nguyện. Tại giấy nhận nợ ngày 01/10/2023 bà nhận có nợ ông H số tiền 145.000.000 đồng. Ông H đồng ý cho bà chỉ phải trả 60.000.000 đồng với điều kiện trả trước ngày 08/10/2023. Nếu quá thời hạn này mà bà không trả 60.000.000đ thì phải trả đủ số tiền 145.000.000 đồng, nhưng đến nay bà vẫn chưa trả được khoản tiền này. Bà thừa nhận đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên việc ông H khởi kiện yêu cầu bà phải trả số tiền 145.000.000 đồng, bà không phản đối. Tuy nhiên, trong thời gian thuê các loại xe của ông H, công việc làm ăn của bà không thuận lợi do mưa gió kéo dài, tiến độ thi công bị ảnh hưởng. Do vậy bà có nguyện vọng được trả cho ông H số tiền 60.000.000đ. Trường hợp ông H không đồng ý thì bà yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án theo quy định pháp luật.
- Tại đơn yêu cầu phản tố ngày 10-5-2024 của bị đơn có nội dung như sau: Trong quá trình làm ăn giữa bà Đ và ông H còn có một số công nợ chưa đối chiếu, cấn trừ. Khoảng cuối năm 2023, sau khi đối chiếu công nợ, ông H thừa nhận còn nợ bà Đ là 200.000.000đ. Vì vậy bà Đ làm đơn phản tố yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông H phải hoàn trả số tiền 200.000.000 đồng cho bà.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sa Thầy có ý kiến về việc giải quyết vụ án:
1. Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, HĐXX và thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm HĐXX nghị án:
+ Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng việc thụ lý vụ án về trình tự, thủ tục, thẩm quyền, xác định đúng tư cách tham gia tố tụng của các đương sự và quan hệ tranh chấp, thu thập chứng cứ theo đúng quy định tại Điều 28; Điều 35, Điều 68, Điều 97 Bộ luật tố tụng dân sự. Tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ theo quy định, việc cấp, gửi và tống đạt các văn bản tố tụng cho đương sự và Viện kiểm sát đầy đủ. Thời hạn giải quyết, quyết định đưa vụ án ra xét xử. Hoạt động giải quyết của Thẩm phán đảm bảo đúng quy định tại Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- Việc tuân thủ pháp luật của Hội đồng xét xử tại phiên tòa: HĐXX đã tuân thủ theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 về việc xét xử sơ thẩm vụ án.
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Nguyên đơn thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình theo đúng quy định tại Điều 70, 71, 72 BLTTDS. Bị đơn đã được Tòa án nhân dân huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt nên đề nghị HĐXX, căn cứ vào Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 xét xử vắng mặt đối với bị đơn theo quy định pháp luật.
2. Quan điểm giải quyết vụ án:
Căn cứ vào các Điều 274, Điều 275, Điều 278, Điều 280, Điều 385, Điều 401, Điều 472, Điều 481 Bộ luật dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Đề nghị HĐXX: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn trả 145.000.000 đồng.
Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng và áp dụng luật: Căn cứ theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, vụ án có quan hệ pháp luật là “Tranh chấp chậm thực hiện nghĩa vụ dân sự”. Theo Điều 6 của Hợp đồng số 02/HĐKT ngày 24-8-2023 giữa ông Trần Viết H và bà Nguyễn Thị Anh Đ có thỏa thuận: “...Trường hợp một bên hoặc các bên không thể tự thương lượng được sẽ do Toà án nhân dân huyện Sa Thầy giải quyết...”. Do vậy, đây là tranh chấp chậm thực hiện nghĩa vụ dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a, khoản 1 Điều 35 và điểm b khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Bị đơn bà Nguyễn Thị Anh Đ đã được Tòa án nhân dân huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum triệu tập hợp lệ để giải quyết vụ án, cũng như tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt.
[2] Đơn yêu cầu phản tố ngày 10-5-2024 của bà Nguyễn Thị Anh Đ trình bày: Trong quá trình làm ăn giữa bà Đ và ông H còn có một số công nợ chưa đối chiếu, cấn trừ. Khoảng năm 2023, sau khi đối chiếu công nợ, ông H còn nợ bà Đ là 200.000.000đ. Do đó, bà Đ yêu cầu ông Trần Viết H phải hoàn trả cho bà Đ.
Sau khi nhận được đơn phản tố, Tòa án nhân dân huyện Sa Thầy đã xem xét và ra thông báo sửa, chữa bổ sung đơn phản tố. Theo đó, Tòa án yêu cầu bà Nguyễn Thị Anh Đ cung cấp các tài liệu để chứng minh ông H có nợ bà 200.000.000 đồng nhưng hết thời hạn mà bà Đ không cung cấp tài liệu nào nên Tòa án đã tiến hành trả lại đơn phản tố cho bà Nguyễn Thị Anh Đ là có căn cứ.
[3] Về nội dung vụ án:
Ngày 24-8-2023, bà Nguyễn Thị Anh Đ và ông Trần Viết H đã thoả thuận và ký hợp đồng kinh tế số 02/HĐKT về việc “Cho thuê xe máy đào, xe ủi, xe lu san lấp mặt bằng". Theo đó, ông H đã cho bà Nguyễn Thị Anh Đ thuê trang thiết bị và tiến hành san lấp ở Trại heo Công ty H1 tại xã H, huyện S, tỉnh Kon Tum, thời gian thực hiện trong vòng 03 tháng, kể từ ngày 24-8-2023. Do đẩy nhanh quá trình thực hiện, ông H đã hoàn thành công việc trong 01 tháng nên ông H yêu cầu bà Đ phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng. Bà Đ không thanh toán số tiền 145.000.000 đồng cho ông H nên bà đã tự viết và ký vào Giấy nhận nợ ngày 01-10-2023. Theo đó, ông H đồng ý cho bà chỉ phải trả 60.000.000 đồng với điều kiện phải trả trước ngày 08-10-2023 nhưng nếu quá thời hạn nêu trên thì bà Đ phải trả đủ số tiền 145.000.000 đồng.
Hội đồng xét xử xét thấy: Ông Trần Viết H và bà Nguyễn Thị Anh Đ giao kết hợp đồng là tự nguyện, nội dung giao kết hợp đồng không trái với các quy định của pháp luật nên Hợp đồng kinh tế số 02/HĐKT, ngày 24-8-2023 về việc: “Cho thuê xe máy đào, xe ủi, xe lu san lấp mặt bằng" và Giấy nhận nợ ngày 01-10-2023 là hợp pháp, từ đó các bên phải có trách nhiệm thực hiện các thỏa thuận đã ký kết. Trong quá trình chuẩn bị xét xử, bà Đ cũng thừa nhận mình đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán và đề nghị trả cho ông H 60.000.000 đồng. Trường hợp ông H không đồng ý thì bà yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án theo quy định pháp luật. Tuy nhiên, tại phiên tòa, ông H khẳng định ông không có nợ bà Đ số tiền 200.000.000 đồng theo như đơn phản tố của bà Đ và ông H vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện buộc bà Đ phải thanh toán cho ông H số tiền 145.000.000 đồng và không yêu cầu tính lãi. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu khởi kiện của ông H là có căn cứ, cần được chấp nhận.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn có căn cứ chấp nhận nên bị đơn bà Nguyễn Thị Anh Đ phải nộp án phí dân sự sơ thẩm là (145.000.000.000đx5% = 7.250.000 đồng). Ông Trần Viết H không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26; Khoản 1 Điều 35; Điều 39; Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 272 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Áp dụng Điều 274, Điều 275, Điều 278, Điều 280, khoản 1 Điều 351, Điều 353, Điều 385 và Điều 401 Bộ luật dân sự của Bộ luật Dân sự 2015;
Xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Trần Viết H về việc “Tranh chấp chậm thực hiện nghĩa vụ dân sự” đề ngày 21-01-2024.
Buộc bà Nguyễn Thị Anh Đ phải trả cho ông Trần Viết H số tiền 145.000.000 đồng (Một trăm bốn mươi lăm triệu đồng).
- Về nghĩa vụ chậm thi hành án: Căn cứ khoản 2 Điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và ông Trần Viết H có đơn yêu cầu thi hành mà bà Nguyễn Thị Anh Đ chậm trả số tiền nêu trên thì phải trả lãi đối với số tiền gốc chậm trả theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015, cho đến khi thi hành án xong số tiền nói trên.
- Về án phí sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Căn cứ Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bà Nguyễn Thị Anh Đ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 7.250.000 (Bảy triệu, hai trăm năm mươi nghìn) đồng (145.000.000.000đx5% = 7.250.000 đồng)
- Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (10-9-2024), nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án theo trình tự phúc thẩm. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Văn Lâm |
Bản án số 03/2024/DS-ST ngày 10/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SA THẦY, TỈNH KON TUM về tranh chấp chậm thực hiện nghĩa vụ dân sự
- Số bản án: 03/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp chậm thực hiện nghĩa vụ dân sự
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SA THẦY, TỈNH KON TUM
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Trần Viết H về việc “Tranh chấp chậm thực hiện nghĩa vụ dân sự” đề ngày 21-01-2024. Buộc bà Nguyễn Thị Anh Đ phải trả cho ông Trần Viết H số tiền 145.000.000 đồng (Một trăm bốn mươi lăm triệu đồng).
