TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG THỦY TỈNH THỪA THIÊN HUẾ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 03/2024/DS-ST Ngày: 09 – 5 – 2024 V/v tranh chấp quyền sử dụng đất |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG THỦY, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Quý Vân.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Văn Cường.
2. Ông Lê Viết Tân.
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Hiệp - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Thủy tham gia phiên toà: Bà Dương Thị Thảo Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 05 năm 2024, tại Tòa án nhân dân thị xã Hương Thủy xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 64/2020/TLST-DS ngày 27 tháng 5 năm 2020 về “Tranh chấp quyền sử dụng đất”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2024/QĐXXST-DS ngày 20 tháng 02 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Trần Thị D, sinh năm 1962. Địa chỉ: Số C đường N, phường T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt (Đã ủy quyền).
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Bùi T, sinh năm 1983. Địa chỉ: Tổ A, phường T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế. (Theo văn bản ủy quyền ngày 13/5/2020). Có mặt.
Bị đơn: Ông Phạm Phú L, sinh năm 1955 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1958 Địa chỉ: Số B đường C, phường T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Đều có mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 05 tháng 3 năm 2020, lời khai có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Ngày 02 tháng 7 năm 2015, bà Trần Thị D nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông Phạm Phú A và bà Lê Thị T1, thuộc thửa đất số 458, tờ bản đồ số 40, tại tổ A, phường T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Tại thời điểm nhận chuyển nhượng hai bên đã tiến hành cắm 04 cột mốc bằng bê tông tại 04 điểm góc để phân định ranh giới theo đúng bản vẽ tách thửa và theo ranh giới của 02 hàng rào và các bên không có ý kiến gì. Sau khi cắm mốc một thời gian thì phía gia đình ông L và bà H có xây dựng thêm phần nhà sau, đã lấn chiếm đất của bà D. Theo bản đồ địa chính thể hiện trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại: Thửa đất số: 458, tờ bản đồ số: 40, địa chỉ: Tổ A, phường T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế có kích thước, chiều ngang mặt tiền 5,8m; chiều dài cạnh bên trái: 21,94m; chiều dài cạnh bên phải 21,08m; chiều ngang mặt hậu 5,72m. Nhưng hiện nay chiều ngang mặt hậu chỉ còn 4,1m, vì do ông Phạm Phú L và bà Nguyễn Thị H đã lấn chiếm. Sau khi được Ủy ban nhân dân phường T hòa giải nhưng không thành thì bà D gửi đơn đến Ủy ban nhân dân thị xã H. Ủy ban nhân dân thị xã H đã trả lại đơn kiến nghị. Vì vậy, bà D khởi kiện đến Tòa án, yêu cầu ông Phạm Phú L và bà Nguyễn Thị H trả lại diện tích đất ở lấn chiếm khoảng 15m², hình tam giác nhọn, cạnh chiều ngang khoảng 1,6m, chiều dài khoảng 17m thuộc thửa đất số 458, tờ bản đồ số 40, địa chỉ: Tổ A, phường T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế.
Phía người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn không chấp nhận Biên bản định giá tài sản ngày 21/12/2021 của Hội đồng định giá UBND thị xã H và bản vẽ trích đo địa chính ngày 20/6/2022, bản vẽ trích đo địa chính được ghi chú bổ sung ngày 19/20/2024 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế vì cho rằng không có căn cứ pháp lý.
Tại bản tự khai ngày 19/01/2021 và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, bị đơn là ông Phạm Phú L và bà Nguyễn Thị H trình bày:
Ông Phạm Phú L và bà Nguyễn Thị H có thửa đất số 40, tờ bản đồ số 47, diện tích 379,4 m², sử dụng ổn định từ năm 1999 đến nay, được Ủy ban nhân dân huyện H (nay là thị xã H) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 15/11/2004. Thửa đất giáp ranh liền kề với thửa đất của bà Trần Thị D. Khi bà D nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông A, bà T1, hai bên tiến hành cắm mốc, làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì ông L và bà H không biết gì. Hiện tại, diện tích thửa đất mà ông L, bà H đang sử dụng bằng diện tích được cấp trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà Nhà nước đã cấp cho ông L và bà H. Mặc khác, ngôi nhà của ông L, bà H được đã xây dựng năm 1999, tồn tại trước khi bà D nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông A, bà T1 năm 2015. Hiện nay, diện tích đất của ông L và bà H đang sử dụng không thừa so với diện tích đất mà Nhà nước đã cấp cho ông L và bà H. Do đó, ông L, bà H không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Quá trình giải quyết vụ án, căn cứ bản vẽ trích đo địa chính ngày 20/6/2022, bản vẽ trích đo địa chính được ghi chú bổ sung ngày 19/2/2024 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thị xã H, phía bị đơn ông L và bà H chấp nhận trả lại phần diện tích đất lấn chiếm 3,6 m² theo vị trí, diện tích đất được xác định tại bản vẽ trích đo địa chính.
Phía bị đơn chấp nhận Biên bản định giá tài sản ngày 21/12/2021 của Hội đồng định giá UBND thị xã H và bản vẽ trích đo địa chính ngày 20/6/2022, bản vẽ trích đo địa chính được ghi chú bổ sung ngày 19/2/2024 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và đương sự trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm đều tuân theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự
Về nội dung vụ án: Căn cứ các quy định pháp luật; đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị D. Buộc ông L, bà H phải trả cho cho bà D phần diện tích 3,6m2 như bản vẽ đã xác định, buộc nguyên đơn, bị đơn phải chịu chi phí định giá, án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp, thẩm quyền giải quyết vụ án: Theo đơn khởi kiện và lời khai của nguyên đơn trong quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án thì nguyên đơn khởi kiện bị đơn tranh chấp quyền sử dụng đất liền kề giữa hai thửa đất của bà Trần Thị D và ông Phạm Phú L, bà Nguyễn Thị H, tại phường T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Căn cứ khoản 9 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự; Tòa án xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là: Tranh chấp quyền sử dụng đất. Do bị đơn trú tại phường T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế; Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự; vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế.
Về Biên bản định giá tài sản ngày 21/12/2021 của Hội đồng định giá UBND thị xã H và bản vẽ trích đo địa chính ngày 20/6/2022, bản vẽ trích đo địa chính được ghi chú bổ sung ngày 19/2/2024 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Quá trình giải quyết, phía người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn không chấp nhận. Tòa án đã gửi văn bản thông báo cho anh Bùi T phải gửi đơn yêu cầu định giá lại tài sản, nhưng anh Bùi T không có đơn, do đó Tòa án không có cở sở pháp lý để định giá lại tài sản. Tại phiên tòa hôm nay người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn cũng không có đơn yêu cầu định giá tài sản.
[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn bà Nguyễn Thị D1 yêu cầu Hội đồng xét xử buộc bị đơn ông Phạm Phú L và bà Nguyễn Thị H phải trả lại diện tích đất ở lấn chiếm khoảng 15m², hình tam giác nhọn, cạnh chiều ngang khoảng 1,6m, chiều dài khoảng 17m, thuộc thửa đất số 458, tờ bản đồ số 40, tại địa chỉ: Tổ I, phường T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế.
Hội đồng xét xử xét thấy:
Về nguồn gốc hai thửa đất đang tranh chấp: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ do Tòa án thu thập và các đương sự xuất trình có trong hồ sơ vụ án, các biên bản xác minh tại Ủy ban nhân dân phường T, lời khai của nguyên đơn, bị đơn xác định:
Về thửa đất của nguyên đơn bà Trần Thị D đang sử dụng, có nguồn gốc do ông Phạm Phú A và bà Lê Thị T1 tạo dựng. Năm 2015 bà Trần Thị D nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông Phạm Phú A, bà Lê Thị T1 và được Ủy ban nhân dân thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất ngày 04/08/2015, thửa đất số 458, tờ bản đồ số 40, diện tích 128,2 m², trong đó: 60 m² đất ở, 68,2 m² đất trồng cây lâu năm, tại tổ A (Nay là tổ I) phường T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế, đứng tên bà Trần Thị D.
Về thửa đất ông Phạm Phú L và bà Nguyễn Thị H đang sử dụng, do ông L, bà H tạo dựng xây dựng nhà ở ổn định từ lâu, đã được được Ủy ban nhân dân huyện H (Nay là Ủy ban nhân dân thị xã H), tỉnh Thừa Thiên Huế cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất ngày 15/11/2004, thửa đất số 40, tờ bản đồ số 47, diện tích 379,4 m², trong đó: 300 m² đất ở, 79,4 m² đất trồng cây lâu năm, đứng tên ông Phạm Phú L, bà Nguyễn Thị H.
Thửa đất ông Phạm Phú L và bà Nguyễn Thị H, thửa đất bà Trần Thị D đang sử dụng nhận chuyển nhượng của ông Phạm Phú A và bà Lê Thị T1. Hai thửa đất trên đã sử dụng ổn định trước năm 1993, không có ai tranh chấp gì, nên được Nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là đúng theo quy định Luật đất đai.
Năm 2015 bà Trần Thị D nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông Phạm Phú A, bà Lê Thị T1 và được Ủy ban nhân dân thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất ngày 04/08/2015, theo lời khai của nguyên đơn, hai bên tiến hành giao nhận đất và cắm mốc theo ranh giới đất giữa thửa đất của bị đơn đúng diện tích đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất. Bà D cho rằng tại thời điểm giao đất, nhà của bị đơn chưa xây dựng thêm phần sau, đến sau này bị đơn xây dựng thêm phần nhà sau mới lấn chiếm phần diện tích trên của nguyên đơn. Về phía bị đơn cho rằng ngôi nhà của bị đơn đã xây dựng từ năm 1999 cho đến nay không thay đổi, xây dựng trước thời gian mà bà D nhận chuyển nhượng đất của ông A, bà T1, ranh giới giữa hai thửa đất có hai cột mốc hiện nay vẫn còn. Nhưng cả hai đương sự không đưa ra được chứng cứ gì. Sau khi có bản vẽ ông Phạm Phú L, bà Nguyễn Thị H chấp nhận trả lại cho bà Trần Thị D phần diện tích đất đã lấn chiếm là 3,6 m², hình tam giác có cạnh chiều ngang 0,48m, cạnh chiều dài 13,40m và 12,91m vị trí như bản vẽ đã xác định.
Tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn đã cung cấp cho Hội đồng xét xử, bản phô tô bản vẽ hiện trạng thửa đất, có xác định phần diện tích lấn chiếm giữa nguyên đơn và bị đơn. Hội đồng xét xử thấy rằng: Quá trình giải quyết vụ án, theo yêu cầu của đương sự Tòa án đã tiến hành thành lập Hội đồng định giá tài sản và đo đạc xác định diện tích sử dụng đất của nguyên đơn và bị đơn theo đúng quy định pháp luật. Sau đó Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế đã tiến hành đo đạc và cung cấp cho Tòa án bản vẽ trích đo địa chính ngày 20/6/2022 và bản vẽ trích đo địa chính được ghi chú bổ sung ngày 19/2/2024. Đây là tài liệu chứng cứ mà Tòa án thu thập đúng quy định tại Điều 97; Điều 104 Bộ luật luật tố tụng dân sự, nên có giá trị pháp lý để xem xét giải quyết vụ án.
Căn cứ bản vẽ trích đo địa chính ngày 20/6/2022 và bản vẽ trích đo địa chính được ghi chú bổ sung ngày 19/2/2024 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế, xác định: Tại vị trí phần diện tích đất đang tranh chấp có một phần diện tích đất 3,6 m², hình tam giác có cạnh chiều ngang 0,48m, cạnh chiều dài 13,40m và 12,91m mà ông Phạm Phú L, bà Nguyễn Thị H sử dụng thuộc quyền sử dụng của bà Trần Thị D. Xét nguyện vọng ong ông Phạm Phú L, bà Nguyễn Thị H chấp nhận trả lại cho bà Trần Thị D phần diện tích đất 3,6 m², hình tam giác có cạnh chiều ngang 0,48m, cạnh chiều dài 13,40m và 12,91m, vị trí như bản vẽ đã xác định. Hội đồng xét xử, xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn không có căn cứ để chấp nhận toàn bộ mà chỉ chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc ông Phạm Phú L, bà Nguyễn Thị H trả lại cho bà Nguyễn Thị D1 phần diện tích đất 3,6 m², hình tam giác có cạnh chiều ngang 0,48m, cạnh chiều dài 13,40m và 12,91m vị trí như bản vẽ trích đo địa chính ngày 20/6/2022 và bản vẽ trích đo địa chính được ghi chú bổ sung ngày 19/2/2024 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế đã xác định.
[3] Về chi phí tố tụng: Chi phí định giá tài sản hết 4.476.000đ (Bốn triệu bốn trăm bảy mươi sáu nghìn đông).
Để đảm bảo quyền lợi của nguyên đơn và bị đơn, yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận một phần, buộc bị đơn phải trả lại một phần đất lấn chiếm cho nguyên đơn nên nguyên đơn và bị đơn phải chịu chi phí định giá tài sản mỗi bên một nữa là 2.238.000 đồng (Hai triệu hai trăm ba mươi tám nghìn đồng). (4.476.000đ : 2 = 2.238.000đ). Nguyên đơn đã nộp đủ. Buộc bị đơn phải trả lại cho nguyên đơn số tiền 2.238.000 đồng (Hai triệu hai trăm ba mươi tám nghìn đồng).
[4] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu phần án phí không được chấp nhận tương ứng 11,4 m² x 11.000.00đ/m² = 125.400.000đ x 5% = 6.270.000 đồng. Bị đơn phải chịu án phí buộc trả lại phần diện tích đất cho nguyên đơn tương ứng 3,6 m² x 11.000.000đ/ m² = 39.600.000 x 5% = 1.980.000 đồng theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 164; Điều 165 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 189; Điều 190 Bộ luật Dân sự; Điều 95; Điều 97; Điều 99; Điều 101; Điều 203 Luật Đất đai; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị D. Buộc ông Phạm Phú L, bà Nguyễn Thị H phải trả lại cho bà Trần Thị D phần diện tích đất 3,6 m², hình tam giác, có cạnh chiều ngang 0,48m, cạnh chiều dài 13,40m và 12,91m, vị trí phần đất được xác định tại bản vẽ trích đo địa chính ngày 20/6/2022 và bản vẽ trích đo địa chính được ghi chú bổ sung ngày 19/2/2024 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế. (Có bản vẽ trích đo địa chính kèm theo Bản án).
- Về chi phí định giá tài sản: Nguyên đơn phải chịu 2.238.000 đồng (Hai triệu hai trăm ba mươi tám nghìn đồng). Bị đơn phải chịu chi phí định giá tài sản 2.238.000 đồng (Hai triệu hai trăm ba mươi tám nghìn đồng). Nguyên đơn đã nộp đủ tiền chi phí định giá tài sản nên buộc bị đơn phải trả lại cho nguyên đơn số tiền 2.238.000 đồng (Hai triệu hai trăm ba mươi tám nghìn đồng).
- Về án phí: Buộc bà Trần Thị D phải chịu 6.270.000 đồng (Sáu triệu hai trăm bảy mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đồng, theo biên lai thu số AA/2013/005627 ngày 27/5/2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hương Thủy. Nguyên đơn phải nộp thêm 5.970.000 đồng (Năm triệu chín trăm bảy mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Buộc ông Phạm Phú L, bà Nguyễn Thị H phải chịu 1.980.000đ (Một triệu chín trăm tám mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân
Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Quý Vân |
Bản án số 03/2024/DS-ST ngày 09/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG THỦY, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 03/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG THỦY, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: vụ án thụ lý số 64/2020/TLST-DS ngày 27 tháng 5 năm 2020 về “Tranh chấp quyền sử dụng đất” Nguyên đơn: Bà Trần Thị D Bị đơn: Ông Phạm Phú L và bà Nguyễn Thị H
