|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 03/2024/DS-PT
Ngày: 04 – 01 – 2024
V/v: “Tranh chấp nợ hụi”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Văn Luông.
Các Thẩm phán: Ông Võ Thái Sơn.
Bà Võ Thị Phượng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Minh Nhựt – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang: Bà Đặng Kim Quang - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 04 tháng 01 năm 2024, tại phòng xét xử Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 152/2023/TLPT-DS ngày 06 tháng 11 năm 2023 về “Tranh chấp nợ hụi”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 47/2023/DS-ST, ngày 19 tháng 7 năm 2023 của Toà án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 179/2023/QĐ-PT ngày 20 tháng 11 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 132/2023/QĐ-PT ngày 14 tháng 12 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lê Thị B; Sinh năm 1963; Địa chỉ ấp A, thị trấn B, huyện C, tỉnh H(Vắng mặt).
- Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Chị Phạm N D; Sinh năm 1980; Địa chỉ ấp Phú Bình, thị trấn Mái Dầm, huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang (Có mặt).
- Bị đơn: Chị Nguyễn N T; Sinh năm 1990; Địa chỉ ấp A, thị trấn B, huyện C, tỉnh H(Vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Đặng T T; Sinh năm 1963; Địa chỉ ấp A, thị trấn B, huyện C, tỉnh H(Vắng mặt).
2
- Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Lê Thị B.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại Bản án sơ thẩm và các tài liệu có trong hồ sơ thì nội dung vụ án như sau:
Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn và các lời khai có trong hồ sơ vụ án, đồng thời tại phiên tòa đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Năm 2013 nguyên đơn tổ chức hụi và làm chủ hụi có bị đơn Nguyễn N T tham gia 2 chân hụi, cụ thể như sau:
Chân hụi thứ nhất:
Loại hụi tháng 5.000.000 đồng, mở ngày 10/02/2013 (âl) gồm có 25 phần, bị đơn tham gia 01 phần đóng được 3 lần hụi sống, đến ngày 13/5/2013 (âl), bị đơn kêu giá bao nhiêu không nhớ nhưng hốt hụi được 70.680.000 đồng, lúc nhận tiền hụi có làm biên nhận cho nguyên đơn. Sau khi hốt bị đơn có đóng hụi chết đến ngày 10/12/2013 (âl). Hiện bị đơn còn nợ hụi chết là 16 lần số tiền 80.000.000 đồng.
Chân hụi thứ hai:
Loại hụi tháng 3.000.000 đồng, mở ngày 25/5/2013 (âl), có 25 phần, bị đơn tham gia 01 phần, đến ngày 28/7/2013 bị đơn Nguyễn N T kêu hốt giá bao nhiêu không nhớ nhưng hốt hụi được 48.500.000 đồng, có làm biên nhận cho nguyên đơn. Sau khi hốt bị đơn có đóng hụi chết được 6 lần tính đến ngày 25/12/2013 (âl). Hiện còn lại 19 lần hụi chết là 57.000.000 đồng. Tại thời điểm này nguyên đơn bị bể hụi nên không có tiền đóng tạm ứng án phí. Nay nguyên đơn khởi kiện bị đơn trả 137.000.000 đồng tiền nợ hụi và yêu cầu tính lãi suất từ ngày 25/12/2013 đến nay là là 08 năm với số tiền lãi suất là 68.390.000 đồng. Quá trình tố tụng tại cấp sơ thẩm nguyên đơn rút lại yêu cầu tính lãi suất.
Quá trình tố tụng bị đơn Nguyễn N T trình bày:
Bị đơn không có tham gia chơi hụi của nguyên đơn Lê Thị B, người tham gia chơi hụi là mẹ của bị đơn là bà Đặng T T. Bị đơn có nhận tiền hụi giúp cho bà Đặng T T lúc hốt hụi được khoảng 70.000.000 đồng, do lúc đó bà Thắm đi mua bán bưởi, sau đó bị đơn đưa tiền lại cho bà Thắm. Lúc nhận tiền có ký vô giấy nhận tiền của nguyên đơn, sau đó thì bỏ giấy nhận tiền do hụi đã hốt xong. Bà Thắm đã đóng lại tất cả các lần hụi chết đầy đủ. Bị đơn cho rằng chữ ký trong giấy giao kèo chơi hụi do nguyên đơn cung cấp không phải là chữ ký của bị đơn.
3
Quá trình tố tụng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đặng T T trình bày:
Bà là người trực tiếp chơi hụi với nguyên đơn Lê Thị B, bà có hốt hụi và đã đóng lại đầy đủ, hụi đã mãn từ lâu và bà cũng không còn chơi hụi với bà B. Khi nguyên đơn giao tiền hụi con gái bà là bị đơn Nguyễn N T có nhận giúp bà và có làm biên nhận với nguyên đơn về Thùy đã đưa tiền hụi lại cho bà, do con gái bà ở chung gia đình với bà và phụ giúp bà buôn bán trái cây.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 47/2023/DS-ST ngày 19 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang đã tuyên xử như sau:
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Lê Thị B đối với bị đơn Nguyễn N T để đòi số tiền 137.000.000 đồng.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 01/8/2023, bà Lê Thị B có đơn kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn giữ nguyên việc rút yêu cầu tính lãi ở cấp sơ thẩm, đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ đối với yêu cầu này. Ngoài ra phía người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn nguyên đơn rút lại một phần yêu cầu khởi kiện đối với số tiền 5.000.000 đồng hụi chết do nguyên đơn tính nhầm, chỉ yêu cầu bị đơn trả số tiền hụi chết tổng cộng là 132.000.000 đồng.
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm: Quá trình thụ lý và giải quyết vụ án, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và các đương sự đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng.
Về nội dung: Nguyên đơn rút yêu cầu tính lãi ở cấp sơ thẩm nhưng cấp sơ thẩm không đình chỉ. Tại phiên tòa phúc thẩm phía người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn rút lại một phần yêu cầu khởi kiện đối với số tiền 5.000.000 đồng hụi chết do nguyên đơn tính nhầm, chỉ yêu cầu bị đơn trả số tiền hụi chết tổng cộng là 132.000.000 đồng. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận việc nguyên đơn tự nguyện rút yêu cầu đối với phần tiền lãi và 5.000.000 đồng tiền hụi chết do nguyên đơn tính toán nhầm và đình chỉ đối với các yêu cầu này. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, buộc bị đơn Nguyễn N T trả cho nguyên đơn 132.000.000 đồng tiền hụi chết còn nợ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
4
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Quan hệ tranh chấp và thẩm quyền: Nguyên đơn bà Lê Thị B khởi kiện chị Nguyễn N T yêu cầu trả số tiền hụi chết còn nợ, nên cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật “tranh chấp nợ (hụi)” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án là có cơ sở, phù hợp với quy định của pháp luật.
[1.2] Bị đơn Nguyễn N T và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đặng T T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt, không thuộc trường hợp bất khả kháng, nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 tiến hành xét xử vắng mặt.
[1.3] Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 01 tháng 8 năm 2023, nguyên đơn bà Lê Thị B có đơn kháng cáo là còn trong thời hạn và đúng quy định tại các Điều 271, 272, 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 nên được Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về nội dung:
Xét sự xác lập giao dịch hụi giữa nguyên đơn và bị đơn: Trong quá trình tố tụng, nguyên đơn trình bày năm 2013 có đứng ra tổ chức làm chủ hụi cho bị đơn chị Nguyễn N T chơi hai chân hụi và cung cấp được hai “Giấy giao kèo chơi hụi” có ký tên Nguyễn N T theo quy định khoản 1 Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2.1] Bị đơn cho rằng thực chất người chơi hụi với nguyên đơn là mẹ của bị đơn là bà Đặng T T, bị đơn chỉ là người kêu hốt hụi và nhận tiền hụi, làm biên nhận tiền hụi là dùm cho mẹ bị đơn là bà Đặng T T, vì lúc đó bà Thắm đi mua bán vắng nhà. Đối với chữ viết và chữ ký trong hai văn bản nguyên đơn cung cấp cho Tòa án không phải là của bị đơn nhưng cũng không đưa ra được tài liệu, chứng cứ nào để chứng minh hay yêu cầu giám định chữ ký, chữ viết đó không phải là của mình làm căn cứ để Hội đồng xét xử xem xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Bởi lẽ, theo quy định tại khoản 2 Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự quy định: “Đương sự phản đối yêu cầu của người khác đối với mình phải thể hiện bằng văn bản và phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu chứng cứ để chứng minh cho sự phản đối đó”. Xét sự kiện giao nhận tiền hụi giữa nguyên đơn và bị đơn: Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn cho rằng bị đơn đã kêu hốt hết hai chân hụi và nguyên đơn cũng đã giao đủ số tiền hốt hụi cho bị đơn. Bị đơn cũng thừa nhận có nhận tiền hụi do nguyên đơn giao, có ký tên vào giấy nhận tiền nhưng sau đó đã bỏ giấy nhận tiền. Theo lẽ thông thường, trong giao dịch dân sự, việc giao nhận tiền giữa các bên thì bên giao tiền sẽ giữ biên nhận để làm căn cứ nếu sau này có phát sinh tranh chấp cho nên việc bị đơn
5
nói mình giữ biên nhận và đã làm mất là chưa hợp lý. Hơn nữa, bị đơn cho rằng mẹ bị đơn đã đóng hụi chết đầy đủ cho nguyên đơn, hiện các dây hụi đã mãn nhưng bị đơn không cung cấp được tài liệu chứng cứ nào để chứng minh bị đơn cũng như mẹ của bị đơn đã đóng hụi chết đầy đủ cho nguyên đơn. Tuy nhiên, do các bên đều thừa nhận nên có cơ sở để xác định việc giao nhận tiền hụi giữa hai bên là có thật và buộc bị đơn có trách nhiệm trả tiền nợ hụi chết cho nguyên đơn là có cơ sở.
[2.2] Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đặng T T cho rằng: Bà là người trực tiếp chơi hụi với nguyên đơn, khi bà đi vắng không có ở nhà thì con bà là Chị T kêu hốt hụi của nguyên đơn, ký tên nhận tiền hụi về giao tiền hụi lại cho bà là không có cơ sở. Bởi vì, trong suốt quá trình tố tụng bà Thắm không cung cấp được tài liệu chứng cứ nào để chứng minh bà có tham gia giao dịch hụi với nguyên đơn như: kêu hốt hụi, đóng hụi chết. Suốt quá trình tố tụng bà chỉ trình bày có nhận được tiền hụi đã hốt của nguyên đơn do con bà kêu và hốt về giao tiền cho bà, bà đã đóng hụi chết đầy đủ cho nguyên đơn và cũng không cung cấp giấy tờ gì để chứng minh bà là người trực tiếp tham gia giao dịch hụi với nguyên đơn, nên Hội đồng xét xử không có cơ sở xác định bà có giao dịch hụi với nguyên đơn.
[3] Xét yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn: Nguyên đơn kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bị đơn Nguyễn N T phải có trách nhiệm trả cho nguyên đơn tổng số tiền hụi còn nợ là có cơ sở.
[4] Đối với nhận định của cấp sơ thẩm cho rằng nguyên đơn khởi kiện có cung cấp chứng cứ là các biên nhận, bị đơn không thừa nhận chữ ký, chữ viết của bị đơn, nhưng nguyên đơn lại rút yêu cầu giám định nên cấp sơ thẩm không có cơ sở xác định yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, nên bác đơn khởi kiện của nguyên đơn là là không có căn cứ và chưa xem xét, đánh giá toàn diện chứng cứ của vụ án.
[5] Đối với việc nguyên đơn khởi kiện yêu cầu tính lãi suất. Quá trình tố tụng nguyên đơn rút yêu cầu này nhưng cấp sơ thẩm không đình chỉ đối với yêu cầu này là thiếu sót lớn.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn rút lại một phần yêu cầu khởi kiện đối với số tiền 5.000.000 đồng hụi chết do nguyên đơn tính nhầm, chỉ yêu cầu bị đơn trả số tiền hụi chết tổng cộng là 132.000.000 đồng là hoàn toàn trên cơ sở tự nguyện và phù hợp với quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
6
Như đã phân tích ở trên có cơ sở để xác định giữa nguyên đơn và bị đơn có phát sinh giao dịch hụi. Bị đơn không cung cấp được tài liệu, chứng cứ gì để chứng minh, đóng hụi chết không còn nợ nguyên đơn, nên có căn cứ để Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn và buộc bị đơn phải có trách nhiệm trả tiền hụi chết còn nợ cho nguyên đơn.
Xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang tại phiên tòa là có cơ sở và phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận.
Án phí dân sự sơ thẩm và phúc thẩm các đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 91, 227, 228, 271, 272, 273, khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Nghị định số 144/2006/NĐ-CP ngày 27/11/2006 của Chính phủ quy định về họ, hụi, biêu, phường; Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ quy định về họ, hụi, biêu, phường.
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về quy định mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Lê Thị B.
Sửa bản án dân sự sơ thẩm số: 47/2023/DS-ST ngày 19 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị B đối với bị đơn chị Nguyễn N T.
Buộc bị đơn chị Nguyễn N T có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn Lê Thị B số tiền hai dây hụi là 132.000.000 đồng (Một trăm ba mươi bảy triệu đồng).
Đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu tính tiền lãi và yêu cầu trả 5.000.000 đồng tiền hụi chết của nguyên đơn bà Lê Thị B đối với chị Nguyễn N T.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bị đơn chị Nguyễn N T phải chịu 6.600.000 đồng (Sáu triệu sáu trăm nghìn đồng) nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang.
7
Nguyên đơn bà Lê Thị B được nhận lại số tiền 3.425.000 đồng (Ba triệu bốn trăm hai mươi lăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0010674 ngày 24 tháng 10 năm 2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang.
Án phí dân sự phúc thẩm: Không ai phải chịu. Nguyên đơn bà Lê Thị B được nhận lại số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0011339 ngày 01 tháng 8 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án dân sự, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án, ngày 04/01/2023.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hồ Văn Luông |
Bản án số 03/2024/DS-PT ngày 04/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG về tranh chấp nợ hụi
- Số bản án: 03/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp nợ hụi
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 04/01/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị đơn kháng cáo nhưng không được Hội đồng xét xử chấp nhận
