|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ CHÂU TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 03/2023/HS-ST Ngày: 13/01/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ CHÂU - TỈNH NGHỆ AN
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – chủ toạ phiên toà: Ông Hà Văn Đông.
Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Bà Lô Thị Hà.
2/ Ông Phan Bá Lịch.
- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Vi Hải Yến – Thư ký Toà án nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Lương Văn Hiếu – Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 01 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 96/2022/TLST – HS ngày 20 tháng 12 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2023/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 01 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Vi Việt A, tên gọi khác: Không.
Sinh năm: 1999 tại huyện QC, tỉnh Nghệ An; Trú tại: Bản B, xã CT, huyện QC, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Lớp 12/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Vi Văn T và bà: Lộc Thị H; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Không; Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/9/2022 đến nay. (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 26/9/2022 Vi Việt A nói với ông Vi Văn T là bố đẻ của mình cho Việt A mượn chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại Sirius biển kiểm soát 37G1-156.91 để đi chơi và được ông T đồng ý, sau khi mượn được xe Việt A điều khiển đi tìm mua ma túy với mục đích nhằm để sử dụng, khi đến ngã ba xóm HT, xã CT, huyện QC, tỉnh Nghệ An thì gặp một nam thanh niên không quen biết có đặc điểm giống người nghiện chất ma túy nên đã bắt chuyện làm quen, qua câu chuyện Việt A hỏi mua ma túy và được nam thanh niên đồng ý bán, Việt A đưa cho nam thanh niên số tiền 100.000 đồng, sau khi nhận tiền nam thanh niên giao lại cho Việt A 02 gói nilon chứa chất bột nén màu trắng (01 gói nilon màu vàng và 01 gói nilon màu hồng). Sau khi mua được ma túy Việt A cầm trên tay phải của mình và điều khiển xe đi về nhà, đến khoảng 14 giờ 00 phút trên đường về đã gặp tổ công tác của Công an huyện QC, tỉnh Nghệ An đang làm nhiệm vụ yêu cầu dừng xe kiểm tra hành chính, lo sợ bị phát hiện Việt A thả 02 gói ma túy từ trên tay phải xuống đất nơi mình đứng thì bị bắt quả tang.
Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại, lập ngày 26/9/2022 của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện QC, tỉnh Nghệ An, xác định: 01 (một) gói chất rắn màu trắng được bọc bằng mảnh bao ni lông màu vàng (nghi là ma túy – heroine), sau khi loại bỏ bao gói cân trọng lượng xác định có khối lượng là 0,065g (Kí hiệu là M1). 01 (một) gói chất rắn màu trắng được bọc bằng mảnh bao ni lông màu hồng (nghi là ma túy – heroine), sau khi loại bỏ bao gói cân trọng lượng xác định có khối lượng là 0,095g (Kí hiệu là M2). Tổng khối lượng chất rắn màu trắng của cả 02 gói là 0,16g (không phẩy mười sáu gam), đã lấy toàn bộ khối lượng chất rắn màu trắng gửi đi giám định theo quy định.
Kết luận giám định số: 1194/KL-KTHS(Đ2-MT), ngày 01/10/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận: 02 (hai) mẫu chất rắn màu trắng (ký hiệu M1 và M2) thu giữ của Vi Việt A gửi tới giám định đều là ma túy, đều là heroine (tên khoa học: Diacetylmorphine). Số chất rắn màu trắng thu giữ của Vi Việt A có tổng khối lượng là 0,16g (không phẩy mười sáu gam).
Bản cáo trạng số: 03/CT-VKS-QC ngày 19/12/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện QC, tỉnh Nghệ An, truy tố bị cáo Vi Việt A về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân giữ quyền công tố tại phiên tòa luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm c khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Vi Việt A từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù.
Buộc bị cáo Vi Việt A phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật, đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy vỏ, bao gói được niêm phong trong 01 phong bì thư theo quy định, hiện vật chứng đang được bảo quản tại chi cục Thi hành án dân sự.
Tại phần tranh luận bị cáo không có ý kiến tranh luận gì thêm. Lời nói sau cùng tại phiên tòa bị cáo nhận tội và xin xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Quỳ Châu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Những chứng cứ xác định có tội: Căn cứ những tài liệu, chứng cứ cơ quan điều tra Công an thu thập có tại hồ sơ vụ án như Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; Biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại; Kết luận giám định; Bản tự khai, biên bản hỏi cung, lấy lời khai của bị cáo và người liên quan, phù hợp với lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa, cũng như những tài liệu, chứng cứ khách quan khác thu thập có trong hồ sơ, đủ căn cứ xác định:
Vào khoảng 14 giờ 00 phút, ngày 26/9/2022 tại khu vực bản B, xã CT, huyện QC, tỉnh Nghệ An. Trong lúc tuần tra làm nhiệm vụ, lực lượng Công an huyện QC dừng xe kiểm tra hành chính, bắt quả tang Vi Việt A có hành vi thả từ trên tay phải xuống đất 02 gói ma túy (Heroine) với tổng khối lượng là 0,16g (không phẩy mười sáu gam) với mục đích đem về sử dụng. Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và mức hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, theo như truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Châu là có căn cứ, đúng pháp luật, đúng người và đúng tội.
[3] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất gây nghiện, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, an ninh xã hội tại địa phương, bởi ma túy là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội khác. Bản thân bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi, trách nhiệm hình sự, nhận thức được tác hại của chất ma túy, nhưng vẫn cố ý phạm tội, nên cần lên cho bị cáo mức án nghiêm nhằm cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, để bị cáo có thời gian sửa chữa lỗi lầm để cải tạo, giáo dục trở thành người công dân tốt, sống có ích cho xã hội và răn đe giáo dục phòng ngừa chung.
Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đó là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[4] Bị cáo khai nhận, gói ma túy thu giữ được có nguồn gốc mua từ một thanh niên không quen biết, không rõ tên, tuổi, địa chỉ gặp lần đầu tại ngã ba HT, xã CT, huyện QC, nên Cơ quan điều tra Công an không có căn cứ để xác minh, điều tra xử lý theo quy định.
[5] Theo lời khai của bị cáo, bị cáo mượn chiếc xe mô tô của ông Vi Văn T bố đẻ của bị cáo đi mua ma túy, quá trình điều tra đã làm rõ bản thân ông T không biết, bị cáo cũng không cho ông T biết mục đích của mình là nhằm đi mua ma túy sử dụng, nên không xem xét trách nhiệm đối với ông T.
[6] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự, bị cáo có thể bị áp dụng thêm hình phạt bổ sung. Tuy nhiên theo tài liệu, chứng cứ thu thập có trong hồ sơ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy, bị cáo là lao động tự do, hiện đang bị tạm giam và không có tài sản riêng để nhằm đảm bảo cho việc thi hành án, nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[7] Về vật chứng: Khối lượng ma túy (heroine) 0,16 g (không phẩy mười sáu gam) đã được gửi mẫu đưa đi giám định hết. Số vật chứng còn lại gồm mảnh bao nilon màu vàng, màu hồng cùng vỏ bao gói phong bì niêm phong là những vật không có giá trị nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại Sirius biển kiểm soát 37G1-156.91 quá trình điều tra, xác minh đã làm rõ là tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của ông Vi Văn T, ông T không có lỗi trong việc bị cáo đưa xe đi mua ma túy, tại giai đoạn điều tra Công an huyện Quỳ Châu ra quyết định xử lý vật chứng trả lại xe cho ông T là đúng quy định, nên Hội đồng xét xử không xem xét thêm.
[8] Về án phí: Buộc bị cáo chịu tiền án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự 2015.
Xử phạt bị cáo Vi Việt A 01 (một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam 26/9/2022.
2. Về vật chứng: Căn cứ vào khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy mảnh bao nilon màu vàng, mảnh bao nilon màu hồng, cùng toàn bộ vỏ bao niêm phong cũ được bỏ vào 01 (một) phong bì thư.
(Vật chứng có đặc điểm chi tiết theo biên bản giao nhận vật chứng, lập ngày 19/12/2022 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An).
3. Án phí: Căn cứ vào Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Vi Việt A chịu án phí Hình sự sơ thẩm 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Hà Văn Đông |
Bản án số 03/2023/HS-ST ngày 13/01/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ CHÂU - TỈNH NGHỆ AN về tàng trữ trái phép chất ma túy (illegal possession of narcotics)
- Số bản án: 03/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Illegal possession of narcotics)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/01/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ CHÂU - TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vi Việt A có hành vi tàng trữ 0,16 gam ma túy (Heroine) với mục đích để sử dụng bị bắt quả tang.
