Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN Ô MÔN

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Bản án số: 03/2023/HNGĐ-ST

Ngày: 05 - 01 - 2024

Về việc “Tranh chấp ly hôn và

nuôi con”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN Ô MÔN, THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Trần Thanh Thế.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Văn Triệu.
  2. Bà Bùi Thị Thanh Thảo.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Như Ngọc – Thư ký Tòa án nhân dân quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ.

- Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân quận Ô Môn tham gia phiên tòa: Bà Trần Cẩm Tú.

Trong ngày 05 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 285/2023/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp ly hôn và nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 127/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 11 năm 2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Trương Văn Th, sinh năm 1985. (có mặt)

Địa chỉ: Khu vực P, phường A, quận M, thành phố Cần Thơ.

Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Trúc P, sinh năm 1990. (vắng mặt)

Địa chỉ: Khu vực P, phường A, quận M, thành phố Cần Thơ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện ngày 28/9/2023 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Trương Văn Th trình bày:

Vào năm 2007, sau một thời gian tìm hiểu, anh và chị Nguyễn Thị Trúc P đã tự nguyện tiến tới hôn nhân, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Thới An vào ngày 24/5/2013. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến khoảng năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do chị P bỏ nhà đi nhiều lần, một thời gian thì quay về, không bao lâu thì chị P lại tiếp tục bỏ đi. Vào khoảng tháng 6/2023, do con bị bệnh nên chị P có quay về chăm sóc con được vài ngày thì lại bỏ đi. Trước khi đi, chị P có để lại cho con 01 cái điện thoại để sử dụng, trong đó có nhiều hình ảnh chị P chụp cùng với người đàn ông khác. Theo anh, chị P đã không còn muốn sống chung với anh nữa nên anh yêu cầu ly hôn với chị P.

- Về con chung: Có 03 con chung tên Trương Đăng H (nam, sinh ngày 16/3/2008), Trương Văn K (nam, sinh ngày 13/02/2013) và Trương Văn B (nam, sinh ngày 01/5/2019). anh Th yêu cầu được nuôi dưỡng cháu H, cháu K và cháu B đến trưởng thành, không yêu cầu chị P cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, chị P nhiều lần vắng mặt không có lý do, vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được nên được đưa ra xét xử công khai.

Tại phiên tòa,

- Nguyên đơn anh Trương Văn Th vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện ly hôn với chị P, yêu cầu được nuôi dưỡng 03 con chung đến trưởng thành, không yêu cầu chị P cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết.

- Bị đơn chị Nguyễn Thị Trúc P vắng mặt không có lý do.

- Kiểm sát viên phát biểu quan điểm:

+ Về tố tụng: Tòa án thụ lý vụ án, xác định quan hệ pháp luật, xác định tư cách đương sự và tiến hành thu thập chứng cứ đúng quy định.

+ Về nội dung: Áp dụng Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật: Anh Trương Văn Th và chị Nguyễn Thị Trúc P tự nguyện tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn nên xác định đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và điều chỉnh. Quá trình chung sống, có phát sinh mâu thuẫn, anh Th khởi kiện ly hôn và yêu cầu giải quyết việc nuôi dưỡng con chưa thành niên nên quan hệ pháp luật được xác định là “Tranh chấp ly hôn và nuôi con”, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn chị Nguyễn Thị Trúc P vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai mà không có lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều 227 và Khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[3] Xét quan hệ hôn nhân: anh Th và chị P là vợ chồng, có đăng ký kết hôn vào ngày 24/5/2013. anh Th cho rằng vợ chồng chung sống có phát sinh mâu thuẫn do chị P vô cớ bỏ nhà đi nhiều lần, sau đó quay về chung sống không được bao lâu thì chị P tiếp tục bỏ đi. Trước đây, mỗi lần chị P đi rồi quay về thì anh cũng đồng ý bỏ qua mọi chuyện để vợ chồng tiếp tục chung sống lo cho các con nhưng chị P không thay đổi, vẫn tiếp tục bỏ đi, ngoài ra, theo anh thì chị P có quan hệ tình cảm với người khác nên anh không thể tiếp tục chung sống với chị P, anh yêu cầu được ly hôn.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành các thủ tục thông báo cho chị P đúng trình tự luật định để tham gia tố tụng tại tòa nhưng phía chị P nhiều lần vắng mặt không có lý do. Tại phiên tòa, anh Th khẳng định không thể tiếp tục sống chung với chị P. Như vậy, cho đến nay mâu thuẫn giữa anh Th và chị P vẫn không giải quyết được. Điều này cho thấy mâu thuẫn giữa các đương sự đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu ly hôn của anh Th đối với chị P là có cơ sở chấp nhận.

[4] Về con chung: Trong thời gian chung sống, anh Th và chị P có 03 con chung tên Trương Đăng H (nam, sinh ngày 16/3/2008), Trương Văn K (nam, sinh ngày 13/02/2013) và Trương Văn B (nam, sinh ngày 01/5/2019). anh Th yêu cầu được nuôi dưỡng cháu H, cháu K và cháu B đến trưởng thành, không yêu cầu chị P cấp dưỡng nuôi con.

Hội đồng xét xử xét thấy, hiện anh Th là người đang trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cho cháu H, cháu K và cháu B; đồng thời cháu H và cháu K có nguyện vọng được tiếp tục sống chung với anh Th. Do đó, nhằm tránh làm xáo trộn cuộc sống của trẻ, Hội đồng xét xét xử thiết nghĩ cần giao cháu K, cháu H và cháu B cho anh Th nuôi dưỡng đến trưởng thành là phù hợp quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình.

chị P được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung; không ai được ngăn cản chị P thực hiện quyền này.

Về việc cấp dưỡng nuôi con, do anh Th không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử ghi nhận và không đặt ra xem xét giải quyết.

[5] Về tài sản chung và nợ chung: Do chị P vắng mặt nên chưa xác định được phần tài sản chung và nợ chung. anh Th không có yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết tài sản chung và nợ chung, trường hợp sau này có phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết thành vụ án khác.

[6] Về án phí dân sự sơ thẩm: anh Th phải chịu án phí không có giá ngạch là 300.000 đồng theo quy định tại Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • Khoản 1 Điều 28; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 266; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
  • Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
  • Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Trương Văn Th.

1/ Về quan hệ hôn nhân: Anh Trương Văn Th được ly hôn với chị Nguyễn Thị Trúc P.

2/ Về con chung: Giao cháu Trương Đăng H (nam, sinh ngày 16/3/2008), cháu Trương Văn K (nam, sinh ngày 13/02/2013) và cháu Trương Văn B (nam, sinh ngày 01/5/2019) cho anh Trương Văn Th nuôi dưỡng đến trưởng thành, chị Nguyễn Thị Trúc P không cấp dưỡng nuôi con. Đồng thời, cháu H và cháu K có nguyện vọng được sống chung với anh Th.

chị P được quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được ngăn cản chị P thực hiện quyền này.

3/ Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét giải quyết, trường hợp sau này có phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết thành vụ án khác.

- Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Trương Văn Th phải nộp số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Chuyển số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) anh Th đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0002334 ngày 12/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ thành án phí.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự có mặt được quyền kháng cáo. Đối với đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND TP. Cần Thơ;
  • - VKSND Q. Ô Môn;
  • - Chi cục THADS Q. Ô Môn;
  • - UBND P. Thới An;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Bùi Trần Thanh Thế

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 03/2023/HNGĐ-ST ngày 05/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN Ô MÔN, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp ly hôn và nuôi con

  • Số bản án: 03/2023/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn và nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/01/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN Ô MÔN, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Trương Văn Th. 1/ Về quan hệ hôn nhân: Anh Trương Văn Th được ly hôn với chị Nguyễn Thị Trúc P. 2/ Về con chung: Giao cháu Trương Đăng H (nam, sinh ngày 16/3/2008), cháu Trương Văn K (nam, sinh ngày 13/02/2013) và cháu Trương Văn B (nam, sinh ngày 01/5/2019) cho anh Trương Văn Th nuôi dưỡng đến trưởng thành, chị Nguyễn Thị Trúc P không cấp dưỡng nuôi con. Đồng thời, cháu H và cháu K có nguyện vọng được sống chung với anh Th. chị P được quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được ngăn cản chị P thực hiện quyền này. 3/ Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét giải quyết, trường hợp sau này có phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết thành vụ án khác.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger