Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NAM ĐÔNG
TỈNH THỪA THIÊN HUẾ


Bản án số: 03/2022/HS-ST
Ngày 31-3-2022
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM ĐÔNG, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Minh Thược.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vương Văn Vui và ông Trần Thanh Xuân Công.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Thanh Ly - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên Huế.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên Huế tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Thái - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 3 năm 2022, tại Hội trường Tòa án nhân dân huyện Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên Huế xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 01/2022/TLST-HS ngày 19/01/2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 02/2022/QĐXXST-HS ngày 18/3/2022 đối với các bị cáo:

  1. Hồ Văn Đ, sinh năm 1994 tại tỉnh Thừa Thiên Huế; nơi cư trú: Thôn 05, xã TN, huyện NĐ, tỉnh Thừa Thiên Huế; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa: Lớp 1/12, dân tộc: Cơ Tu; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hồ Văn D, sinh năm 1961 và bà Phạm Thị T R, sinh năm 1967; có vợ tên Phạm Thị Th sinh năm 1992 và 02 người con; tiền án: Không; tiền sự: Không. Bị cáo Hồ Văn Đ bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 13/7/2021 đến ngày 24/10/2021. Sau đó, bị cáo bỏ đi khỏi địa phương và bị bắt theo Lệnh truy nã và tạm giữ từ ngày 25/10/2021 cho đến nay. Có mặt.
  2. Hồ Văn Đ1, sinh năm 1998 tại tỉnh Thừa Thiên Huế; nơi cư trú: Thôn 05, xã TN, huyện NĐ, tỉnh Thừa Thiên Huế; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa: 0/12; dân tộc: Cơ Tu; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hồ Văn D, sinh năm 1961 và bà Phạm Thị T R, sinh năm 1967; có vợ tên Ta Rương T và 01 người con; tiền án: Không; tiền sự: Không. Bị cáo Hồ Văn Đ1 bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 18/02/2021 đến ngày 24/10/2021. Sau đó, bị cáo bỏ đi khỏi địa phương và bị bắt theo Lệnh truy nã và tạm giữ từ ngày 25/10/2021 cho đến nay. Có mặt.
  3. Trần Văn T, sinh năm 1994 tại tỉnh Thừa Thiên Huế; nơi cư trú: Thôn 05, xã TN, huyện NĐ, tỉnh Thừa Thiên Huế; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa: Lớp 6/12; dân tộc: Cơ Tu; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn X (Đã chết) và bà Trần Thị Tưa, sinh năm 1970; có vợ tên Trần Thị H và 01 người con; tiền án: Không; tiền sự: Không. Bị cáo Trần Văn T bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 13/7/2021 đến ngày 24/10/2021. Sau đó, bị cáo bỏ đi khỏi địa phương và bị bắt theo Lệnh truy nã và tạm giữ từ ngày 25/10/2021 cho đến nay. Có mặt.

Bị hại: Anh Nguyễn Thành R B (V), sinh năm 1989 tại tỉnh Thừa Thiên Huế; nơi cư trú: Thôn Phú Thuận, xã HX, huyện NĐ, tỉnh Thừa Thiên Huế. Có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  • Ông Đỗ Xuân L, sinh năm 1963; nơi cư trú: Thôn 6, xã TN, huyện NĐ, tỉnh Thừa Thiên Huế. Có mặt.
  • Anh Nguyễn Anh H, sinh năm 1994; nơi cư trú: Thôn 07, xã TN, huyện NĐ, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt.
  • Anh Đỗ Văn M, sinh năm 1995; nơi cư trú: Thôn 07, xã TN, huyện NĐ, tỉnh Thừa Thiên Huế. Có mặt.
  • Chị Trần Thị H, sinh năm 1993; nơi cư trú: Thôn 6, xã TN, huyện NĐ, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt.

Người làm chứng:

  • Bà Đỗ Thị L, sinh năm 1968; nơi cư trú: Thôn Phú Thuận, xã HX, huyện NĐ, tỉnh Thừa Thiên Huế. Có mặt.
  • Anh Nguyễn Minh Th, sinh năm 1989; nơi cư trú: Thôn 6, xã TN, huyện NĐ, tỉnh Thừa Thiên Huế. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 14 giờ 20 phút ngày 18/10/2020, Hồ Văn Đ đến quán sửa xe mô tô của Đỗ Văn M, sinh năm 1995, trú tại: Thôn 07, xã TN, huyện NĐ, tỉnh Thừa Thiên Huế thì gặp Trần Văn T đang sửa xe tại quán của M. Do không đồng ý việc sửa xe của M nên Đ, T cãi nhau với M; lúc này, Nguyễn Thành R B, sinh năm 1989 (anh bà con của M), trú tại: Thôn Phú Thuận, xã HX, huyện NĐ, tỉnh Thừa Thiên Huế điều khiển xe mô tô tới quán của M thì thấy Đ, T đang cãi nhau với M nên nói với Đ, T “Bây nói chi ồn rứa”, T nói lại “Anh kia, đâu có liên quan đến anh đâu” nên giữa R B, Đ và T xảy ra cãi nhau và thách thức đánh nhau. Sau đó, Đ chở T về quán nhậu của chị Trần Thị H, sinh năm 1993, trú tại: Thôn 6, xã TN, huyện NĐ, tỉnh Thừa Thiên Huế. Đến khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày, Đ quay lại quán sửa xe của M để hỏi về chiếc xe mô tô của Đ gửi sửa trước đó. Tại đây, Đ và M tiếp tục cãi nhau nên R B nói với Đ “Mi đừng ồn ào nữa, tao đập mi chừ” thì Đ nói lại “Ưa đập thì ra đập tay đôi” nên R B tiến đến dùng tay đánh vào vùng mặt của Đ, Đ bỏ chạy và lượm đá ném về phía R B, sau khi chạy về quán chị Hiệp, Đ kể mình bị đánh và rủ Trần Văn T, Hồ Văn Đ1 đi đánh lại Nguyễn Thành R B nhưng T và Đ1 không đồng ý. Sau đó, Đ thấy M điều khiển xe mô tô của mình đến trước quán chị H nên Đ ra gặp M thì T và Đ1 cũng đi theo, Đ1 và T tiến đến dùng tay đánh vào vùng mặt của M nên M bỏ chạy. Lúc này, R B nghe tin M bị đánh nên đã cầm 01 con dao và điều khiển xe mô tô đến quán chị H; thấy R B, Đ nói với Đ1 và T “Đó, thằng đó đập tao” và tiến về phía R B thì bị R B dùng tay phải cầm dao đến chém liên tục về phía Đ nên Đ bị R B chém trúng một nhát vào vai phải, Đ chụp được tay của R B hai người vật nhau; thấy vậy, Đ1 dùng chân đạp vào người R B làm R B ngã xuống đường; sau đó, R B đứng dậy chạy đến chém T nhưng không trúng nên T bỏ chạy; Đ1 lấy khúc cây khô (đùi gỗ) dài 63cm đường kính 5cm tại lề đường xông đến đánh vào người R B, R B đưa tay trái lên đỡ nên trúng vào tay. T tức giận vì bị R B chém nên hô to “Giết, đừng để cho nó sống”. Nghe vậy, R B bỏ chạy đến nhà ông Đỗ Xuân L, sinh năm 1963, trú tại: Thôn 6, xã TN, huyện NĐ, tỉnh Thừa Thiên Huế để trốn nên Đ1, Đ, T đuổi theo để đánh R B. Tại sân nhà ông L, T cầm 02 vỏ chai bia Huda (có sẵn tại sân nhà ông L) ném vào cửa nhà ông L và yêu cầu R B ra ngoài. Lúc này, nghe tin R B bị đánh nên Đỗ Văn M và Nguyễn Anh H, sinh năm 1994 (em trai R B) ở đối diện quán sửa xe của M mỗi người cầm 01 ống kim loại (tuýp bằng sắt) chạy đến nhà ông L. H dùng ống kim loại dài 102cm, đường kính 2,5cm có một đầu nhọn đánh vào hai tay của Đ làm rách tay Đ thì anh Nguyễn Minh Th, sinh năm 1989 đến can ngăn và thu lấy ống kim loại từ tay H. M dùng ống kim loại dài 55cm, đường kính 2,5cm xông đến đánh T thì được anh Th can ngăn và thu lấy ống kim loại từ tay M nên M lượm vỏ chai bia Huda ở sân nhà ông L đánh vào vùng đầu của T nên T bỏ chạy. Lúc này, R B từ trong nhà ông L chạy ra tay phải dùng dao chém hai nhát trúng vào vai trái và sau cổ của Đ1 nên Đ1 dùng khúc cây khô (đùi gỗ) đánh trúng vào tay phải của R B làm con dao rơi xuống đất. Đ chạy ra ngoài đường Tỉnh lộ 14B thì bị M đuổi đánh vào vùng đầu. T lấy 01 cây xà beng bằng kim loại dài 104cm, đường kính 2,5cm có một đầu nhọn và một đầu dẹp (ở hàng rào nhà ông L) để đánh nhau thì được ông L và anh Th vào can ngăn nên hai bên không đánh nhau nữa. Tại Cơ quan điều tra, Hồ Văn Đ1, Hồ Văn Đ và Trần Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Tại phiên tòa, các bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình, lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai trong giai đoạn điều tra, lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường, kết luận giám định pháp y và các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, có đủ cơ sở để xác định: Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 18/10/2020 tại trước quán của chị Trần Thị H, sinh năm 1993, trú tại: Thôn 6, xã TN, huyện NĐ, tỉnh Thừa Thiên Huế do có mâu thuẫn trước đó nên giữa nhóm Hồ Văn Đ, Trần Văn T, Hồ Văn Đ1 với nhóm Nguyễn Thành R B, Đỗ Văn M, Nguyễn Anh H đã sử dụng hung khí là dao, ống kim loại, khúc cây khô (đùi gỗ), vỏ chai bia Huda để đánh nhau. Hậu quả Trần Văn T bị thương tích là 3%, Hồ Văn Đ1 bị thương tích là 1%, Hồ Văn Đ bị thương tích là 3%, Nguyễn Thành R B bị thương tích là 21%, Đỗ Văn M và Nguyễn Anh H xác định tỷ lệ thương tích là 0%. Hành vi của Hồ Văn Đ1, Hồ Văn Đ, Trần Văn T gây thương tích cho Nguyễn Thành R B là 21% đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự; Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Đông đã truy tố các bị cáo Hồ Văn Đ, Hồ Văn Đ1 và Trần Văn T là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; Điều 17; điểm e, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm a khoản 1 Điều 47; Khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự; các điểm a, c khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

  1. Tuyên bố: Các bị cáo Hồ Văn Đ, Hồ Văn Đ1 và Trần Văn T phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Xử phạt:
    • Bị cáo Hồ Văn Đ 07 (Bảy) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ (Ngày 25/10/2021).
    • Bị cáo Hồ Văn Đ1 09 (Chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ (Ngày 25/10/2021).
    • Bị cáo Trần Văn T 07 (Bảy) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ (Ngày 25/10/2021).
  2. Về trách nhiệm dân sự: Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
  3. Về xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy các vật chứng gồm: 01 cây xà beng bằng kim loại màu nâu, 01 ống kim loại màu trắng xám, 01 ống kim loại màu trắng, 05 khúc cây khô màu nâu có kích thước khác nhau như đã mô tả trong biên bản giao nhận vật chứng ngày 28/02/2022.
  4. Về án phí: Buộc các bị cáo Hồ Văn Đ, Hồ Văn Đ1 và Trần Văn T mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh TT Huế;
- Sở Tư pháp tỉnh TT Huế;
- VKSND tỉnh TT Huế;
- VKSND huyện Nam Đông;
- CQĐT Công an huyện Nam Đông;
- CQTHAHS Công an huyện Nam Đông;
- Chi cục THADS huyện Nam Đông;
- Bị cáo, bị hại; người có QL, NVLQ;
- Lưu hồ sơ vụ án; án văn.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA





Hồ Minh Thược
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 03/2022/HS-ST ngày 31/03/2022 của Tòa án nhân dân huyện Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên Huế về cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 03/2022/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/03/2022
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên Huế
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 18/10/2020 tại trước quán của chị Trần Thị H, sinh năm 1993, trú tại: Thôn 6, xã TN, huyện NĐ, tỉnh Thừa Thiên Huế do có mâu thuẫn trước đó nên giữa nhóm Hồ Văn Đ, Trần Văn T, Hồ Văn Đ1 với nhóm Nguyễn Thành R B, Đỗ Văn M, Nguyễn Anh H đã sử dụng hung khí là dao, ống kim loại, khúc cây khô (đùi gỗ), vỏ chai bia Huda để đánh nhau. Hậu quả Trần Văn T bị thương tích là 3%, Hồ Văn Đ1 bị thương tích là 1%, Hồ Văn Đ bị thương tích là 3%, Nguyễn Thành R B bị thương tích là 21%, Đỗ Văn M và Nguyễn Anh H xác định tỷ lệ thương tích là 0%.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger