|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG HINH TỈNH PHÚ YÊN Bản án số: 03/2022/HS-ST Ngày : 25-01-2022 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG HINH, TỈNH PHÚ YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bàn Thị Tiên;
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Phạm Xuân Lai;
Bà Nguyễn Thị Ái Liên.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Mạy – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Sông Hinh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Minh – Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 01 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 20/2021/TLST-HS ngày 26/11/2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2022/QĐXXST-HS ngày 07/01/2022 và Quyết định thay đổi Hội thẩm nhân dân số 01/2022/QĐ-TA ngày 21/01/2022 của Tòa án nhân dân huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên đối với các bị cáo:
Nguyễn Ngọc M (tên gọi khác: T), sinh ngày 07 tháng 10 năm 1981 tại Phú Yên; nơi cư trú: Thôn H, xã S, huyện S, tỉnh Phú Yên; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa (học vấn): Không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1954 và bà Nguyễn Thị Bích H, sinh năm 1962; có vợ: Trần Thị Thu Tr, sinh năm 1988 và con: Có 02 con sinh năm 2010 và 2013; tiền sự: Không.
Tiền án: Bản án số 80/2017/HS-ST ngày 25/4/2017 của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa áp dụng điểm a khoản 2 Điều 115 Bộ luật Hình sự xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội Giao cấu với trẻ em (chấp hành xong hình phạt ngày 03/7/2019, chưa được xóa án tích).
Nhân thân: Bản án số 25/HS-ST ngày 28/11/2003 của Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa áp dụng khoản 1 Điều 250 Bộ luật Hình sự xử phạt 06 tháng tù về tội Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có (đã được xóa án tích). Bản án số 207/2010/HS-ST ngày 30/8/2010 của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa áp dụng khoản 2 Điều 104 Bộ luật Hình sự xử phạt 36 tháng tù về tội Cố ý gây thương tích (đã được xóa án tích).
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt quả tang và tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/7/2021 đến nay. Có mặt.
Trần Thanh C (tên gọi khác: T E), sinh ngày 13 tháng 3 năm 1996 tại Phú Yên; nơi cư trú: Thôn N, xã S, huyện S, tỉnh Phú Yên; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Quang V, sinh năm 1958 (chết) và bà Phạm Thị Th, sinh năm 1967; vợ, con: Chưa có; tiền án: Không; tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 25/6/2020 bị Công an tỉnh Phú Yên xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000đ về hành vi đánh bạc (nộp phạt ngày 25/6/2020, đã được xóa xử phạt vi phạm hành chính). Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt khẩn cấp, tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/7/2021 đến nay. Có mặt.
Phùng Xuân Th, sinh ngày 24 tháng 02 năm 1992 tại Phú Yên; nơi cư trú: Thôn H, xã S, huyện S, tỉnh Phú Yên; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Phùng Xuân T, sinh năm 1956 (chết) và bà Nguyễn Thị Ch, sinh năm 1956; vợ, con: Chưa có; tiền án: Không; tiền sự: Không.
Nhân thân: Bản án số 02/2012/HS-ST ngày 12/01/2012 của Tòa án nhân dân huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum áp dụng khoản 1 Điều 257 Bộ luật Hình sự xử phạt 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội Chống người thi hành công vụ (đã được xóa án tích).
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trước đó, Trần Thanh C rủ Nguyễn Ngọc M, Phùng Xuân Th đến mỏ cát của Công ty trách nhiệm hữu hạn vận tải xây dựng H (gọi tắt là Công ty H) tại thôn H, xã S, huyện S để đặt vấn đề bảo kê lấy tiền chia nhau tiêu xài, M và Th đồng ý, C nói "việc nói chuyện để C, Th lo, còn việc đánh đấm để M lo". Sáng ngày 28/6/2021, M gọi điện cho C, Th rủ đến mỏ cát của Công ty H để đặt vấn đề bảo kê lấy tiền như đã bàn bạc thống nhất trước đó và được C, Th đồng ý. Khoảng 11 giờ 00 phút cùng ngày, M điều khiển xe mô tô hiệu Sirius, biển kiểm soát 79N1-219.20 chở C đến mỏ cát Công ty H gặp anh Trần Văn N là nhân viên quản lý mỏ cát của Công ty H yêu cầu đưa tiền bảo kê 20.000.000đ/tháng. Anh N nói "Công ty kinh doanh đang khó khăn", C nói "khó khăn là chuyện mấy ông, tiền tui lấy", rồi C hạ tiền bảo kê xuống 10.000.000đ/tháng và đưa làm 2 lần. Do lo sợ bị nhóm M đánh và sẽ ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của công ty nên N gọi điện báo cho Ban lãnh đạo công ty H và được thống nhất đưa tiền bảo kê theo yêu cầu của C, N lấy 5.000.000đ đưa cho C. Sau đó, C, M chia nhau tiêu xài cá nhân và M báo cho Th biết lần sau lấy tiền nữa sẽ chia cho Th.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[2] Về tội danh: Tại phiên tòa các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra và phù hợp với lời khai của đại diện bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi của các bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội "Cưỡng đoạt tài sản" quy định tại khoản 1 Điều 170 Bộ luật Hình sự.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Ngọc M (T), Trần Thanh C (T E), Phùng Xuân Th phạm tội "Cưỡng đoạt tài sản".
2. Về hình phạt:
Áp dụng khoản 1 Điều 170; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Ngọc M (T), xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc M (T) 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 17/7/2021.
Áp dụng khoản 1 Điều 170; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Trần Thanh C (T E) và bị cáo Phùng Xuân Th; xử phạt bị cáo Trần Thanh C (Tí Em) 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 18/7/2021; xử phạt bị cáo Phùng Xuân Th 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.
|
Nơi nhận: - TAND tỉnh Phú Yên; - VKSND tỉnh Phú Yên; - VKSND H.Sông Hinh; - Công an H.Sông Hinh; - Những người tham gia tố tụng; - Thi hành án dân sự huyện Sông Hinh; - Lưu: Hồ sơ vụ án; VPTA. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) BÀN THỊ TIÊN |
Bản án số 03/2022/HS-ST ngày 25/01/2022 của Tòa án nhân dân huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên về cưỡng đoạt tài sản
- Số bản án: 03/2022/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cưỡng đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/01/2022
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Ngọc M và đồng phạm Cương đoạt tiền của công ty khai thác cát
