| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG ĐIỀN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ Bản án số: 03/2022/HS-ST Ngày 18 - 01 - 2022 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG ĐIỀN, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Xuân Đàm.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thanh Tâm và bà Lê Thị Na.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Văn Chiến, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Tường - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 01 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 20/2021/TLST-HS ngày 24 tháng 11 năm 2021, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 22/2021/QĐXXST-HS ngày 21/12/2021 đối với bị cáo:
Lê Văn T, giới tính: Nam, sinh ngày 15/11/1990 tại tỉnh Thừa Thiên Huế; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn Thượng An, xã Phong An, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế; nghề nghiệp: Lái xe; học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn C (đã chết) và bà Hoàng Thị X; gia đình có 04 anh em, bị cáo là con út; vợ: Lâm Thị Thu T1, sinh năm 1993; đã có 2 con, con nhỏ sinh năm 2019; Tiền án: Có 01 tiền án về tội đánh bạc theo bản án số 07/2019/HS-ST của TAND huyện Phong Điền; chấp hành xong ngày 11/5/2020. Tiền sự: không.
Nhân thân: Sinh ra và lớn lên cùng gia đình tại địa phương cho đến ngày 14/9/2021, bị khởi tố điều tra về hành vi cho vay lãi nặng. Bị cáo được tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Chị Hoàng Thị Cẩm N, sinh năm 1983; địa chỉ: Thôn P, xã Phong An, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế, vắng mặt;
- Chị Nguyễn Thị Bích L, sinh năm 1966; địa chỉ: Thôn H, xã Phong Sơn, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế, vắng mặt;
- Chị Nguyễn Thị O, sinh năm 1969; địa chỉ: Thôn P, xã Phong An, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế, có mặt;
- Chị Phan Thị Hoài T3, sinh năm 1992; địa chỉ: Thôn P, xã Phong An, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế, có mặt;
- Chị Hồ Thị Thu H, sinh năm 1982; địa chỉ: Thôn TA 1, xã Phong An, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế, vắng mặt;
- Anh Trần Công T4, sinh năm 1976; địa chỉ: Thôn A, xã Phong Hiền, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế, vắng mặt;
- Chị Nguyễn Thị Bích V, sinh năm 1980; địa chỉ: Thôn C, xã Phong Sơn, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế, vắng mặt;
- Anh Nguyễn H, sinh năm 1968; địa chỉ: Thôn A, xã Phong Hiền, huyện Phong Điền, tỉnh TT Huế, vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt;
- Anh Trần Công Đ, sinh năm 1990; địa chỉ: Thôn TA, xã Phong An, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế, vắng mặt;
- Chị Đặng Thị S, sinh năm 1985; địa chỉ: Thôn P, xã Phong An, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế, vắng mặt;
- Anh Trần Công G, sinh năm 1994; địa chỉ: Thôn TA, xã Phong An, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế, vắng mặt;
- Anh Thái Ngọc H1, sinh năm 1978; địa chỉ: phường T, thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế, vắng mặt;
- Anh Trần Như D, sinh năm 1983; địa chỉ: Thôn TA, xã Phong An, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế, vắng mặt;
- Anh Trần Minh L, sinh năm 1984; địa chỉ: Thôn TA 1, xã Phong An, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế, có mặt;
- Anh Trần Tuấn H2, sinh năm 1990; địa chỉ: Thôn TA 2, xã Phong An, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế, vắng mặt;
- Anh Trần Văn N, sinh năm 1985; địa chỉ: Thôn P, xã Quảng Phú, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế, có mặt;
- Chị Dương Thị Lệ T5, sinh năm 1969; địa chỉ: Thôn TA, xã Phong An, huyện Phong Điền, TT Huế, vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt;
- Chị Nguyễn Thị Hồng H3, sinh năm 1983; địa chỉ: Thôn Đ, xã Phong An, huyện Phong Điền, vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt;
- Anh Nguyễn Đình H4, sinh năm 1990; địa chỉ: Tổ dân phố K, thị trấn Phong Điền, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế, vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt;
- Anh Trần Ngọc T6, sinh năm 1976; địa chỉ: Thôn TA, xã Phong An, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế, vắng mặt;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do biết được một số người có nhu cầu cần vay tiền nhanh để giải quyết việc riêng và họ sẵn sàng chấp nhận vay với mức lãi suất cao. Lê Văn T đã chuẩn bị một lượng tiền để cho vay và ấn định mức lãi suất vượt quá quy định của pháp luật nhằm thu lợi bất chính. Cụ thể: Khi cần vay tiền, người vay điện thoại cho T hoặc đến nhà T để trực tiếp bàn bạc thống nhất về số tiền vay, mức lãi suất do T ấn định và kỳ hạn trả gốc và lãi. Sau khi người vay đồng ý thì T đưa cho người vay một cuốn sổ và yêu cầu người vay tự viết vào sổ ngày tháng năm mượn tiền, số tiền mượn nhưng không ghi lãi suất và không ghi ngày trả. Sau đó người vay ký nhận rồi T lưu giữ lại để làm bằng chứng. Đến kỳ hạn thì T đi thu gốc, lãi hoặc gọi điện cho người vay đến trả.
Bằng phương thức đó, từ tháng 8 năm 2019 đến tháng 8/2021, Lê Văn T đã cho 20 người vay tiền, người thấp nhất là 5.000.000.đ và người cao nhất là 300.000.000.đ, với mức lãi suất từ 0% đến 182,5% một năm. Trong đó có 13 người vay với tổng số tiền 121.000.000.đ, lãi suất từ 101,39% đến 182,5% năm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Trong giai đoạn điều tra, truy tố, Cơ quan, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng hình sự.
[2] Hành vi phạm tội của bị cáo: Trong khoảng từ khoảng tháng 8/2019 đến tháng 8/2021, với mục đích cho những người cần tiền gấp vay để thu lãi suất cao, Lê Văn T đã cho 13 người vay, mỗi người vay từ 5.000.000.đ đến 30.000.000.đ với lãi suất từ 101,39% đến 182,5%/năm, gấp trên 05 lần so với lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự. Tổng số tiền Lê Văn T đã cho 13 người vay là 121.000.000.đ; Tổng số tiền lãi T thu về 48.500.000.đ. Trong khi đó, số tiền lãi cao nhất được pháp luật cho phép thu chỉ là 7.052.000.đ; Như vậy, số tiền lãi mà T đã thu vượt quá quy định của Bộ luật dân sự là 41.447.945.đ, là gấp 5 lần so với quy định tại khoản 1 Điều 468 của bộ luật dân sự.
[3] Hành vi của Lê Văn T không chỉ xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước về Tín dụng - Ngân hàng mà còn gây thêm khó khăn cho người vay, ảnh hưởng đến công tác quản lý hành chính, trật tự xã hội tại địa phương. Hành vi của Lê Văn T được coi là “cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” được quy định tại khoản 1 Điều 201 Bộ luật hình sự.
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 201; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 47 Bộ luật hình sự;
- Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH 14 về án phí, lệ phí tòa án;
- Nghị quyết số 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao, Tuyên bố:
1. Bị cáo Lê Văn T phạm tội: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự.
Xử phạt Lê Văn T 60.000.000.đ (sáu mươi triệu đồng) sung vào công quỹ Nhà Nước.
2. Buộc Lê Văn T phải nộp lại tổng số tiền liên quan đến tội phạm là 154.626.245.đ để sung vào công quỹ Nhà nước, gồm các khoản sau:
- Tổng số tiền gốc đã dùng để cho vay lãi nặng là 121.000.000.đ.
- Tổng số tiền lãi đã thu trong hạn mức 20% năm là 7.052.000.đ.
- Lê Văn T còn phải nộp lại để sung công là: 26.574.245.đ.
3. Buộc Lê Văn T phải trả lại cho 04 người vay số tiền lãi vượt quá 20% một năm, gồm 04 người cụ thể sau đây:
- Trả lại cho chị Nguyễn Thị O, số tiền là: 8.815.000.đ;
- Trả lại cho chị Phan Thị Hoài T2, số tiền là 1.671.000.đ;
- Trả cho chị Đặng Thị S, số tiền là 2.182.000.đ;
- Trả lại cho anh Trần Minh L, số tiền là 3.356.164.đ.
4. Về vật chứng của vụ án: Tịch thu tiêu huỷ một hộp mực dấu; Tịch thu sung công một điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus.
5. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc Lê Văn T phải nộp 200.000.đ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh TT Huế; - Sở Tư pháp TT Huế; - VKSND H. Phong Điền; - Công an H. Phong Điền; - THADS H. Phong Điền; - Bị cáo; Người có quyền lợi, Nghĩa vụ liên quan; - Lưu hồ sơ vụ án, án HS; - Lưu hồ sơ THAHS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Hồ Xuân Đàm |
Bản án số 03/2022/HS-ST ngày 18/01/2022 của Tòa án nhân dân huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Số bản án: 03/2022/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/01/2022
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê văn tình Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
