Hệ thống pháp luật
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÂN LẠC
TỈNH HOÀ BÌNH


Bản án số: 03/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 26/3/2021.
V/v Ly hôn;
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN LẠC

Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Đình Dũng;

Hội thẩm nhân dân: Bà Bùi Thị Liên, Ông Bùi Thanh Xuân;

Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Tăng Thị Hồng – Thư ký Tòa án;

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tân Lạc tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thu Hiền - Kiểm sát viên;

Ngày 26/3/2021, tại trụ sở Toà án huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình mở phiên toà công khai xét xử sơ thẩm vụ án Dân sự - Hôn nhân gia đình: Ly hôn thụ lý số 02/2021/TLST-HNGĐ ngày 11/01/2021, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2021/QĐXX-HNGĐ ngày 09/3/2021 giữa các đương sự sau:

  1. Nguyên đơn: Chị Phạm Thị T, sinh năm 1983;
    ĐKHKTT: Xóm B, xã Th, huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình;
    Hiện ở: Xóm T, xã Th, huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình;
  2. Bị đơn: Anh Bùi Văn L, sinh năm 1981;
    Địa chỉ: Xóm B, xã Th, huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình;
  3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
    Ngân hàng chính sách xã hội chi nhánh Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình
    Người đại diện: Ông Nguyễn Tuấn Ng, Giám đốc (Vắng);
    Địa chỉ: Khu M, thị trấn M, huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

{1} Theo đơn khởi kiện và quá trình cung cấp chứng cứ, Nguyên đơn chị Phạm Thị T cho rằng:

* Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Bùi Văn L là vợ chồng; anh chị quen và yêu nhau, có thời gian tìm hiểu và kết hôn trên cơ sở hôn nhân tự nguyện, có tổ chức cưới hỏi theo phong tục, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Th, huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình ngày 13/12/2004. Quá trình từ khi chung sống vợ chồng hạnh phúc bình thường được khoảng hơn mười năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn lúc đầu chỉ nhỏ nhặt từ những sinh hoạt, đời sống thường ngày nhưng anh L đã chửi bới và xúc phạm chị. Càng về sau thì việc chửi bới, đánh đập, xúc phạm chị lại được tăng thêm. Chị không biết nguyên do từ đâu nhưng vì con cái, chị cố nhẫn nhịn nhưng càng chịu đựng thì anh L càng được đà lấn tới. Chị xin đi làm để chủ động về kinh tế và có điều kiện chăm lo cho bố mẹ hơn thì anh L không cho đi. Anh L lại thường xuyên ghen tuông vô cớ rồi chửi bới, đánh đập chị. Chị đã khuyên giải nhiều lần nhưng không thay đổi. Anh L còn sinh ra rượu chè bê tha, không chăm lo cho gia đình. Chị đã nhiều lần bỏ về nhà ngoại nhưng vì gia đình khuyên can nên lại quay về. Đến nay mâu thuẫn đã lên đỉnh điểm, chị không thể chấp nhận thêm việc sống chung nên làm đơn xin ly hôn.

* Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Bùi Diệu L, sinh ngày 15/5/2005 và Bùi Tiến D, sinh ngày 24/01/2009. Khi ly hôn chị xin được nuôi dưỡng cả hai cháu và không yêu cầu anh L phải cấp dưỡng nuôi con chung.

* Về tài sản chung: Có nhà xây trị giá khoảng 200.000.000đ, đất vườn có 25 gốc bưởi, 01 con bò mẹ trị giá khoảng 15.000.000đ; 01 xe máy trị giá khoảng 10.000.000đ và toàn bộ vật dụng gia đình, chị giao cho anh L sử dụng toàn bộ và có trách nhiệm trả nợ số nợ chung 25.000.000đ tiền chăn nuôi và 8.000.000đ tiền xóa đói giảm nghèo tại Ngân hàng chính sách xã hội huyện Tân Lạc.

{2} Bị đơn anh Bùi Văn L cho rằng: Về cơ bản anh đồng ý với ý kiến của chị T, anh thừa nhận có lúc chưa chịu khó làm ăn và có rượu chè, chửi bới chị T. Tuy nhiên anh cho rằng mâu thuẫn chưa đến mức phải ly hôn, anh muốn đoàn tụ để lo cho các con nên không đồng ý ly hôn. Về con chung và tài sản, anh nhất trí như ý kiến của chị T.

{3} Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (Ngân hàng chính sách xã hội) cho rằng: Số nợ chung là 33.000.000đ. Đề nghị Tòa buộc vợ chồng phải thanh toán trả trước 10.000.000đ; còn 23.000.000đ đề nghị buộc người ở lại nhà phải có trách nhiệm thanh toán.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ thu thập được, thấy rằng: Quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh L là hợp pháp. Tuy nhiên quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Xét thấy tình trạng của chị T và anh L đã trầm trọng, không còn khả năng hàn gắn nên chấp nhận đơn xin ly hôn của chị T là phù hợp.

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng các điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án, tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Phạm Thị T được ly hôn với anh Bùi Văn L.
  2. Về con chung: Giao cả hai cháu Bùi Diệu L và Bùi Tiến D cho anh Bùi Văn L trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục. Chấp nhận sự tự nguyện của chị T đóng góp cấp dưỡng nuôi con cho anh L với mức 2.000.000 đ/tháng cho đến khi cháu D trưởng thành.
  3. Về tài sản chung: Chấp nhận sự tự nguyện của chị Phạm Thị T giao nhà xây, đất vườn và toàn bộ vật dụng gia đình cho anh Bùi Văn L sử dụng. Buộc anh Bùi Văn L phải có trách nhiệm thanh toán số công nợ chung tại Ngân hàng chính sách xã hội huyện Tân Lạc với tổng số tiền gốc là 33.000.000đ và lãi suất phát sinh.
  4. Về án phí: Chị Phạm Thị T phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm, đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0005054 ngày 11/01/2021.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Hòa Bình;
- VKSND huyện Tân Lạc, T. Hòa Bình;
- Chi cục THADS huyện Tân Lạc;
- UBND xã Thi, H. Tân Lạc;
- Đương sự;
- Lưu HS + VT + LT.
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán - Chủ Tọa phiên tòa

(Đã ký)



Bùi Đình Dũng
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 03/2021/HNGĐ-ST ngày 26/03/2021 của Toà án nhân dân huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình về ly hôn

  • Số bản án: 03/2021/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/03/2021
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: Toà án nhân dân huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Do mâu thuẫn gia đình chị T khởi kiện xin ly hôn anh L
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger