|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH Bản án số: 03/2021/HNGĐ-PT. Ngày: 02-11-2021. V/v: “Ly hôn, T/c nuôi con chung, chia tài sản chung khi ly hôn” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Nghĩa
Các thẩm phán: Ông Nguyễn Thanh Tuấn
Bà Võ Thị Hồng Thu
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thảo - Thư ký TAND tỉnh Bình Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định: Bà Lữ Thị Xuân Dương - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Trong ngày 02 tháng 11 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xét xử phúc thẩm công khai vụ án Hôn nhân & gia đình thụ lý số: 27/2021/TLPT-HNGĐ ngày 30 tháng 6 năm 2021 về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung, chia tài sản chung khi ly hôn”.
Do bản án Hôn nhân & gia đình sơ thẩm số: 236/2021/HNGĐ-ST ngày 28/4/2021 của Tòa án nhân dân thị xã H, tỉnh Bình Định bị kháng cáo.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 22/2021/QĐ-PT ngày 05 tháng 10 năm 2021, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Võ Văn N, sinh năm 1992, có đơn xin xét xử vắng mặt. Cư trú tại: Khu phố T 2, phường T, thị xã H, tỉnh Bình Định.
- Bị đơn: Chị Lâm Thị S, sinh năm 1996, có mặt. Cư trú tại: Khu phố T, phường T, thị xã H, tỉnh Bình Định.
- Người kháng cáo: Bị đơn chị Lâm Thị S.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình tố tụng cũng như tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn anh Võ Văn N trình bày:
Vợ chồng tự nguyện kết hôn có đăng ký tại Ủy ban nhân dân xã T (nay là phường T) ngày 03/7/2017. Sau kết hôn vợ chồng sống chung cùng gia đình bên chồng, không hiểu lý do gì trong lúc đang mang thai mà chị S bỏ về nhà cha mẹ vợ ở từ tháng 8/2018 cho đến nay. Thời gian qua anh đã nhiều lần gọi điện bảo về, nhưng chị S không đồng ý. Nay anh thấy tình cảm vợ chồng không còn, anh yêu cầu được ly hôn. Vợ chồng có 01 con chung là cháu Võ Lâm Kha L, sinh ngày 26/4/2019, sau ly hôn anh đồng ý giao con cho chị S nuôi dưỡng và anh tự nguyện cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.500.000đ cho đến khi cháu L đủ 18 tuổi. Tài sản chung vợ chồng có 47 chỉ vàng 24k và 90.000.000đ, khi đi chị S mang theo 36 chỉ, còn lại anh cất giữ 11 chỉ và 90.000.000đ. Tài sản này vợ chồng đã tự phân chia xong, anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Bị đơn chị Lâm Thị S trình bày: Vợ chồng tự nguyện kết hôn có đăng ký tại Ủy ban nhân dân xã T (nay là phường T) ngày 03/7/2017. Sau kết hôn vợ chồng sống chung cùng gia đình bên chồng, tháng 8/2018 trong lúc đang mang thai do thai yếu nên chị bỏ về nhà cha mẹ ruột ở, sau trở về thì bị gia đình bên chồng xua đuổi, nên chị phải về nhà cha mẹ ruột ở và sinh con cho đến nay. Kể từ đó vợ chồng sống xa cách không ai quan tâm gì đến ai, nay chị thấy vợ chồng không thể sống chung với nhau được nữa, chị đồng ý ly hôn. Vợ chồng có 01 con chung là cháu Võ Lâm Kha L, sinh ngày 26/4/2019, sau ly hôn chị yêu cầu được trực tiếp nuôi con và yêu cầu anh N phải cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.500.000đ cho đến khi cháu L đủ 18 tuổi. Tài sản chung vợ chồng có 47 chỉ vàng 24k và 90.000.000đ, khi ra đi chị mang theo 36 chỉ, số vàng này chị đã chi phí vào việc sinh con và nuôi dưỡng con đã hết. Còn lại 11 chỉ và 90.000.000đ hiện anh N đang cất giữ, chị chi yêu cầu Tòa án giải quyết chia hai mỗi người nhận 5,5 chỉ và 45.000.000đ.
Bản án Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm số: 236/2021/HNGĐ-ST ngày 28/4/2021 của Tòa án nhân dân thị xã H, tỉnh Bình Định đã quyết định:
Áp dụng: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56, Điều 59, khoản 2 Điều 81, các Điều 82, 83, 84, 110, khoản 1 Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a, b khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số:326/2016/ UBTVQH14 ngày 30 ngày 12 tháng 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Anh Võ Văn N và chị Lâm Thị S được ly hôn.
- Về nuôi con chung: Giao cháu Võ Lâm Kha L, sinh ngày 26/4/2019 cho chị S trực tiếp nuôi dưỡng. Anh N phải cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.500.000đ (Một triệu năm trăm ngàn đồng) cho đến khi cháu L đủ 18 tuổi.
- Về chia tài sản: Chị Lâm Thị S được quyền sở hữu 36 chỉ vàng 24k chị đang quản lý có giá 184.320.000đ, tính trừ một phần chi phí khi chị mang thai, sinh con 12.280.000đ, còn lại 172.040.000đ. Anh Võ Văn N được quyền sở hữu 11 chỉ vàng 24k và 90.000.000đ anh đang quản lý có giá tổng cộng là 146.320.000đ, tính trừ một phần chi phí khi chị Sương mang thai, sinh con 20.000.000đ, còn lại 126.320.000đ.
- Anh Võ Văn N phải giao lại cho chị Lâm Thị S 20.000.000đ (Hai chục triệu đồng).
Ngày 07/5/2021, bị đơn chị Lâm Thị S kháng cáo về phần chia tài sản chung khi ly hôn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Kháng cáo của bị đơn chị Lâm Thị S trong hạn luật định, hình thức và nội dung đơn đúng quy định. Nguyên đơn anh Võ Văn N có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 2 Điều 296 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh Võ Văn N.
[2] Quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm, anh Võ Văn N và chị Lâm Thị S thỏa thuận thuận tình ly hôn nên cấp sơ thẩm đã quyết định công nhận sự thuận tình ly hôn của anh N và chị S. Chị S kháng cáo yêu cầu tính đầy đủ chi phí chị đã chi trong thời gian chị mang thai cho đến khi sinh con và yêu cầu xem xét lại việc cấp sơ thẩm áp dụng giá vàng tại thời điểm xét xử sơ thẩm là không phù hợp vì phần lớn số vàng chị đã bán để chi phí trong việc khám và điều trị yếu thai nhi và sinh con. Hội đồng xét xử xét thấy: Quá trình giải quyết tại cấp sơ thẩm, anh N và chị S đều thừa nhận tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân gồm có 47 chỉ vàng 24K và 90.000.000đ. Cấp sơ thẩm chia cho chị S được quyền sở hữu 36 chỉ vàng 24k chị đang quản lý có giá 184.320.000đ, tính trừ một phần chi phí khi chị mang thai, sinh con 12.280.000đ, còn lại 172.040.000đ; chia cho anh N được quyền sở hữu 11 chỉ vàng 24k và 90.000.000đ anh đang quản lý có giá tổng cộng là 146.320.000đ, tính trừ một phần chi phí khi chị S mang thai, sinh con 20.000.000đ, còn lại 126.320.000đ là phù hợp.
[3] Tại cấp phúc thẩm anh N tự nguyện chia thêm cho chị S 25.000.000đ. Mặc dù chị S không đồng ý nhận thêm 25.000.000đ từ anh N mà chị yêu cầu chia đôi số vàng và số tiền anh N đang giữ nhưng xét thấy việc anh N tự nguyện chia thêm cho chị S 25.000.000đ là hoàn toàn tự nguyện, không trái pháp luật và đạo đức xã hội nên HĐXX ghi nhận sự tự nguyện này của anh N. Như vậy tổng cộng anh N phải giao lại cho chị S là 45.000.000đ.
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 148, khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56, Điều 59, khoản 2 Điều 81, các Điều 82, 83, 84, 110, khoản 1 Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình; Điểm a, b khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều 27, khoản 2 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
- Sửa bản án Hôn nhân & gia đình sơ thẩm số: 236/2021/HNGĐ-ST ngày 28/4/2021 của Tòa án nhân dân thị xã H về phần chia tài sản chung.
- Chị Lâm Thị S được quyền sở hữu 36 chỉ vàng 24k chị đang quản lý trị giá 184.320.000đ, tính trừ một phần chi phí khi chị mang thai, sinh con 12.280.000đ, còn lại 172.040.000đ.
- Anh Võ Văn N được quyền sở hữu 11 chỉ vàng 24k và 90.000.000đ anh đang quản lý trị giá là 146.320.000đ, trừ một phần chi phí khi chị S mang thai, sinh con 20.000.000đ và anh N đồng ý chia thêm cho chị S 20.000.000đ, anh N còn lại 101.320.000đ.
- Anh Võ Văn N phải giao lại cho chị Lâm Thị S 45.000.000đ (Bốn mươi lăm triệu đồng).
- Về án phí: Anh Võ Văn N phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân và gia đình và 5.366.000đ án phí về chia tài sản. Chị Lâm Thị S phải chịu 10.852.000đ án phí về chia tài sản chung.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận: - TAND Cấp cao; - VKSND tỉnh Bình Định; - Các đương sự; - Chi cục THADS thị xã Hoài Nhơn; - TAND thị xã Hoài Nhơn; - Lưu hồ sơ. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Nghĩa |
Bản án số 03/2021/HNGĐ-PT ngày 02/11/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định về ly hôn, tranh chấp nuôi con chung, chia tài sản chung khi ly hôn
- Số bản án: 03/2021/HNGĐ-PT
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung, chia tài sản chung khi ly hôn
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 02/11/2021
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Lâm Thị S yêu cầu ly hôn anh Võ Văn N
