Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH CAO BẰNG

Bản án số: 03/2021/HNGĐ-PT
Ngày 17-3-2021
V/v ly hôn
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CAO BẰNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Như

Các thẩm phán: Ông Nông Hà Nam

Ông Ngôn Ngọc Viên

- Thư ký phiên tòa: Bà Nông Thu Hương – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cao Bằng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa: Bà Triệu Thị Đào – Kiểm sát viên.

Trong ngày 17 tháng 3 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cao Bằng, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 10/2020/TLPT-HNGĐ ngày 24 tháng 12 năm 2020 về việc: “ly hôn”,

Do Bản án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm số: 161/2020/HNGĐ-ST ngày 30 tháng 9 năm 2020 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 09/2021/QĐ-PT ngày 01 tháng 3 năm 2021 giữa các đương sự:

  • Nguyên đơn: Hoàng Trung P, sinh năm 1962; có mặt
    Địa chỉ: Tổ 08, phường Đ, thành phố C, tỉnh Cao Bằng;
  • Bị đơn: Lý Thị Ph, sinh năm: 1958; có mặt
    Địa chỉ: Tổ 07, phường G, thành phố C, tỉnh Cao Bằng.
  • Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn: Luật sư Đinh Thị H thuộc văn phòng luật sư Đinh Thị H – Đoàn luật sư tỉnh Cao Bằng; có mặt.
  • Người kháng cáo: Nguyên đơn Hoàng Trung P.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 23 tháng 6 năm 2020, Bản tự khai ngày 30 tháng 7 năm 2020, tại biên bản hòa giải và tại phiên tòa ông Hoàng Trung P trình bày: Tôi và bà Lý Thị Ph kết hôn với nhau vào năm 2006, hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, có được tìm hiểu, có tổ chức lễ cưới ở hai bên gia đình. Chúng tôi có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường G, thành phố C, tỉnh Cao Bằng vào ngày 14/12/2006.

Về quá trình chung sống vợ chồng: Sau khi cưới vợ chồng chung sống hòa thuận hạnh phúc sau đó thì phát sinh mâu thuẫn. Bà Ph tự kiếm chuyện rồi bỏ nhà đi. Sau đó tôi có đi đón gọi lại về chung sống với nhau. Tuy nhiên đến khoảng tháng 12/2018 bà Ph lại mâu thuẫn với các con của tôi và lại tiếp tục bỏ nhà đi. Từ đó đến nay vợ chồng không còn liên lạc, không còn quan tâm chăm sóc đến nhau nữa. Tại tòa tôi xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã đến mức trầm trọng và yêu cầu được ly hôn.

Về con chung ông P trình bày: trong quá trình chung sống vợ chồng không có con chung nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

Về tài sản chung: ông P xác định tài sản chung không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết;

Về nợ chung, nợ riêng: ông P xác định nợ chung, nợ riêng không có và không yêu cầu tòa án giải quyết.

Tại Bản tự khai, biên bản hòa giải và tại phiên tòa bà Lý Thị Ph trình bày: Về thời gian điều kiện kết hôn như ông P trình bày là đúng, tôi không bổ sung gì thêm. Về quá trình chung sống vợ chồng như ông P trình bày là hoàn toàn không đúng. Bản thân tôi không tự ý bỏ nhà ra đi mà là do các con của ông P và ông P cùng vào hùa với nhau để đuổi tôi ra khỏi nhà. Con của ông P cũng có các lời lẽ xúc phạm tôi. Tại tòa tôi xác nhận tình cảm vợ chồng không còn. Tôi nhất trí ly hôn, tôi không yêu cầu đoàn tụ.

Về con chung bà Ph xác nhận và trình bày: trong quá trình chung sống vợ chồng không có con chung nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

Về tài sản chung: bà Ph xác định tài sản chung không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết;

Về nợ chung, nợ riêng: bà Ph xác định nợ chung, nợ riêng không có và không yêu cầu tòa án giải quyết.

Tuy nhiên bà Ph có yêu cầu phản tố. Cụ thể tại đơn phản tố ngày 29/7/2020 bà Ph yêu cầu ông P thanh toán cho bà Ph tiền công sức đóng góp với gia đình nhà chồng trong 12 năm là 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng chẵn). Đến ngày 25/9/2020 bà Ph có đơn xin sửa đổi, bổ sung đơn phản tố và đưa ra yêu cầu ông P phải có trách nhiệm thanh toán tiền công sức đóng góp với gia đình nhà chồng trong 12 năm là với số tiền là 100.000.000đ (một trăm triệu đồng). Vì bà Ph cho rằng bà có công sức trông nom mẹ già ốm đau, lo cho các con của ông P từ khi đang học cấp 2 đến khi học xong đại học, lo dựng vợ gả chồng cho cả 02 con của ông P. Trong khi đó ông P đi công tác tại B 05 năm một mình tôi phải gánh vác, lo toan việc gia đình, con cái, phụng dưỡng mẹ già, việc làng xóm…

Ý kiến của ông P: không nhất trí với yêu cầu của bà Ph. Vì trước đây hai bên đến với nhau là hoàn toàn tự nguyện, bà Ph biết rõ hoàn cảnh của tôi nhưng vẫn chấp nhận. Tôi có nói là hai bên về ở với nhau để cùng làm ăn. Lương của tôi phải lo cho cả gia đình nên cũng chỉ đủ chi tiêu sinh hoạt chung. Nay tôi không nhất trí thanh toán số tiền 100.000.000đ (một trăm triệu đồng) cho bà Ph.

Ý kiến của bà Ph: Tôi là người lo ruộng vườn, nuôi lợn….trong thời gian ông P đi công tác xa nhà. Khi các con ông P đi học tôi có được bán ngô, gạo, lợn…để có tiền gửi cho các con ông P ăn học. Ngoài ra tôi còn lo mai táng cho mẹ già, việc làng xóm tôi đều đứng ra lo và trong thời kỳ hôn nhân tôi và ông P có mua sắm được một số vật dụng cho gia đình, sửa chữa nhà cửa, mua sắm xe máy, máy tính vv…

Ý kiến ông P: Trước đây tôi có góp tiền đủ để mua 01 cây vàng. Tôi có đưa cho bà Ph cầm. Đến khi cưới tôi có hỏi thì bà Ph nói đã tiêu hết. Ngoài ra tôi còn đưa tiền cho bà Ph để mua 01 chiếc xe máy dream. Khi bà bỏ nhà đi có đem theo chiếc xe này. Hiện nay chiếc xe máy này bà Ph có còn sử dụng hay không tôi không nắm được. Tôi xác định trong thời kỳ hôn nhân có mua sắm những tài sản như bà Ph trình bày nhưng đó là từ tiền lương của tôi, bà Ph không có đóng góp gì.

Ý kiến bà Ph: Việc ông P trình bày là không có căn cứ. Xe máy là do tôi bán đàn lợn tôi nuôi để có tiền mua xe. Tôi vẫn giữ nguyên yêu cầu ông P thanh toán tiền công sức đóng góp cho tôi là 100 triệu đồng. Đề nghị Tòa án xác minh về công sức đóng góp của tôi. Bà Ph trình bày thêm: Vào ngày 08/12/2018 tôi có viết một đơn trình bày gửi Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tuy nhiên tôi khẳng định thời điểm đó tôi chưa nộp đơn đến Tòa án để yêu cầu Tòa giải quyết. Khi đó do tôi bị ông P đuổi ra khỏi nhà nên tôi quá uất ức và hụt hẫng mới làm đơn trình bày này. Tuy nhiên tôi chưa nộp đơn này đến Tòa. Sau khi nhận được thông báo ông P yêu cầu Tòa giải quyết ly hôn tôi mới nộp bổ sung đơn này kèm đơn phản tố của tôi cho Tòa. Tôi đề nghị Tòa án tiến hành xác minh đối với những người đã xác nhận cho tôi Đơn trình bày đề ngày 08/12/2018.

Ý kiến ông P: Việc bà Ph yêu cầu tôi không nhất trí. Vì thực tế các bên tự nguyện đến với nhau để làm ăn. Việc làm ruộng, vườn tôi cũng không thuê mướn gì bà Ph. Để duy trì cuộc sống tôi nghĩ bà Ph cũng phải làm việc thì mới có tiền trang trải sinh hoạt hàng ngày. Nên tôi vẫn giữ nguyên ý kiến do không hợp nhau và cả hai đều đã có tuổi nên ly hôn để cả hai bên cùng về sinh sống với con cái riêng của mình, để ổn định cuộc sống.

Ngày 28/8/2020 Tòa án đã tiến hành xác minh nơi cư trú của ông P và bà Ph về tình trạng hôn nhân của ông bà. Qua việc xác minh được biết: Ông P và bà Ph chưa nhờ đến tổ dân phố và chính quyền địa phương can thiệp hòa giải lần nào. Do đó, về mâu thuẫn giữa ông P và bà Ph tổ dân phố không nắm được. Tuy nhiên, tổ dân phố cho biết từ khoảng năm 2018 bà Ph đã không còn thường xuyên sinh sống tại tổ, lúc đi lúc về. Hiện nay bà Ph không còn sinh sống tại tổ dân phố.

Đồng thời vào ngày 28/8/2020, tòa án cũng tiến hành xác minh với tổ dân phố và những người có tên trong Đơn trình bày của bà Phắn đề ngày 08/12/2018 để xác minh làm rõ công sức đóng góp của bà Ph với gia đình ông P. Qua việc xác minh đối với các ông Hoàng Văn H, ông Đoàn Trọng P1, ông Hoàng Trung V, ông Đoàn Ngọc T1 nội dung kết quả xác minh được tóm tắt lại như sau: Bà Lý Thị Ph đã về chung sống với ông Hoàng Trung P được hơn chục năm nay. Bà Ph có công sức đóng góp rất lớn với gia đình ông P. Bà Ph là người chăm lo quán xuyến gia đình, chăm lo con cái và phụng dưỡng mẹ già cho ông P. Khi mẹ già ốm đau một mình bà Ph chăm sóc. Thường ngày bà Ph đều tham gia lao động nông nghiệp, tăng gia sản xuất, làm ruộng vườn, nuôi gà, nuôi lợn...lo cho các con của ông P từ việc ăn, ở, học hành ...Việc làng xóm bà Ph cũng tham gia rất nhiệt tình và đóng góp đầy đủ...Khi các con ông P trưởng thành bà Ph cũng lo dựng vợ gả chồng cho các con ông P...Có một thời gian dài ông P đi công tác xa nhà, một mình bà Ph cũng đã chăm lo quán xuyến gia đình, chăm lo con cái và phụng dưỡng mẹ già cho ông P. Ông P khi còn công tác xa cuối tuần mới về nhà...Bản thân ông P sống không hòa đồng với anh em họ hàng, làng xóm láng giềng. Kể từ khi ông P lấy bà Ph về bà Ph mới là người kết nối lại các mối quan hệ làng xóm, anh em họ hàng..

Ông Hoàng Trung V xác nhận bản thân ông có được ký xác nhận vào đơn trình bày đề ngày 08/12/2018 của bà Lý Thị Ph. Thời điểm đó ông V được ký với tư cách là Bí thư chi bộ tổ 13 (nay là tổ 08), phường Đ, thành phố C, tỉnh Cao Bằng. Nội dung trong đơn bà Ph trình bày hoàn toàn đúng sự thật. Ông V đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật, đảm bảo quyền lợi cho bà Lý Thị Ph.

Ông Đoàn Ngọc T1 xác nhận được ký xác nhận vào đơn trình bày đề ngày 08/12/2018 của bà Lý Thị Ph. Đơn này có rất nhiều người được ký xác nhận cho bà Ph. Nội dung trong đơn bà Ph trình bày hoàn toàn đúng sự thật. Ông T1 mong Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật, đảm bảo quyền lợi cho bà Ph.

Ông Đoàn Trọng P1 xác nhận bản thân ông có được ký xác nhận vào đơn trình bày đề ngày 08/12/2018 của bà Lý Thị Ph. Thời điểm đó ông P1 được ký xác nhận với là đại diện người cao tuổi tổ 13 (nay là tổ 08), phường Đ, thành phố C, tỉnh Cao Bằng. Nội dung trong đơn bà Ph trình bày hoàn toàn đúng sự thật. Bà Ph là một người có tính tình rất tốt, nhân hậu... Đơn trình bày của bà Ph đề ngày 08/12/2018 có rất nhiều người được tham gia và ký xác nhận cho bà Ph. Khi có đơn của bà Ph, các hội đoàn thể chính quyền của tổ đều thống nhất ký xác nhận cho bà Ph. Ông P1 đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật, đảm bảo quyền lợi cho bà Ph.

Ngoài ra Tòa án cũng đã nhận được giấy xác nhận của ông Hoàng Trung B1 (nguyên là tổ trưởng tổ 13, phường Đ), bà Hứa Thị N chi hội trưởng phụ nữ tổ 13, Đ, ông Đoàn Văn L tổ hội hiếu, bà Đàm Thị G (là chị dâu ông P, bà Hoàng Thị Th (cháu ông P) đều khẳng định bà Ph có công sức đóng góp rất lớn với gia đình ông P. Bà Lý Thị Ph còn cung cấp và giao nộp cho Tòa bảng kê các loại tài sản mua sắm trong thời kỳ hôn nhân từ năm 2006 đến năm 2018 đề ngày 01/8/2020.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn trình bày: Về quan hệ giữa ông P và bà Ph là quan hệ vợ chồng có đăng ký kết hôn từ năm 2006; Sau khi kết hôn bà Ph về chung sống với ông P, có nhiều công sức đóng góp cho gia đình nhà chồng như lo công việc đồng áng, chăm sóc các con riêng của ông P khi các cháu còn nhỏ, chăm sóc mẹ già, lo việc làng xóm, họ hàng nhà chồng, ngoài ra trong quá trình hôn nhân vợ chồng còn mua sắm được những tài sản như bà Ph trình bày trong đơn phản tố và ông P đã thừa nhận tại phiên tòa. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các quy định của pháp luật hôn nhân gia đình để xem xét chấp nhận yêu cầu phản tố của bà Ph, buộc ông P phải có trách nhiệm thanh toán tiền công sức đóng góp của bà Ph vào gia đình nhà chồng với số tiền là 100.000.000đ (một trăm triệu đồng) để nhằm đảm bảo cuộc sống của bà Ph khi bị đuổi ra khỏi nhà chồng.

Tại bản án sơ thẩm số: 161/2020/HNGĐ-ST ngày 30 tháng 9 năm 2020 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng đã:

  • Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, điểm b khoản 2 Điều 59 Luật hôn nhân và gia đình;
  • Căn cứ khoản 4 Điều 147, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
  • Căn cứ vào điểm b khoản 4 Điều 7 Thông tư liên tịch số: 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 hướng dẫn thi hành một số quy định của luật hôn nhân và gia đình;

Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về hôn nhân: chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông Hoàng Trung P và bà Lý Thị Ph. Xử: Ông Hoàng Trung P được ly hôn với bà Lý Thị Ph.
  2. Về nuôi con: Không có nên không đặt ra vấn đề xem xét giải quyết.
  3. Về chia tài sản chung: hai đương sự cùng xác định tài sản chung không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  4. Về nợ chung, nợ riêng: hai đương sự cùng xác định nợ chung, nợ riêng không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  5. Chấp nhận đơn yêu cầu phản tố của bà Hoàng Thị Ph về yêu cầu tiền công sức đóng góp vào khối tài sản chung của gia đình chồng: Buộc ông Hoàng Trung P có trách nhiệm thanh toán cho bà Lý Thị Ph tiền công sức đóng góp vào gia đình nhà chồng với số tiền là: 100.000.000đ (một trăm triệu đồng).

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 06/10/2020, nguyên đơn Hoàng Trung P có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm. Ngày 14 tháng 01 năm 2021 ông P có đơn kháng cáo sửa đổi, bổ sung với nội dung như sau: Không nhất trí với việc Tòa án cấp sơ thẩm buộc tôi phải trả 100.000.000đ (một trăm triệu đồng) cho bà Ph.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng: Cấp sơ thẩm xét xử ngày 30/9/2020, ngày 06/10/2020, nguyên đơn Hoàng Trung P làm đơn kháng cáo, ngày 14 tháng 01 năm 2021 ông P có đơn sửa đổi, bổ sung đơn kháng cáo, đơn gửi trong hạn luật định. Nguyên đơn Hoàng Trung P đã nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đúng quy định của pháp luật.

[2] Xét kháng cáo của nguyên đơn Hoàng Trung P và các căn cứ kháng cáo: Ông Hoàng Trung P không nhất trí với việc Tòa án cấp sơ thẩm buộc ông phải trả 100.000.000đ cho bà Ph tiền công sức đóng góp cho gia đình nhà chồng. Hội đồng xét xử xét thấy:

Về quan hệ hôn nhân: ông Hoàng Trung P và bà Lý Thị Ph kết hôn với nhau vào năm 2006. Quá trình bà Ph sống chung với ông P là 12 năm. Về quan hệ hôn nhân, con chung, tài sản chung, nợ chung các bên đương sự không kháng cáo mà nhất trí như bản án sơ thẩm đã tuyên. Do vậy cấp phúc thẩm không xem xét trong vụ án này.

Đối với nội dung kháng cáo của ông Hoàng Trung P, Hội đồng xét xử thấy rằng tòa án cấp sơ thẩm đã tiến hành xác minh với tổ dân phố và những người có tên trong đơn trình bày của bà Ph đề ngày 08/12/2018 để xác minh làm rõ công sức đóng góp của bà Phắn với gia đình ông P. Qua việc xác minh cho thấy: Bà Lý Thị Ph đã về chung sống với ông Hoàng Trung P được hơn chục năm nay. Bà Ph có công sức đóng góp rất lớn với gia đình ông P. Bà Ph là người chăm lo quán xuyến gia đình, chăm lo con cái và phụng dưỡng mẹ già cho ông P.

Xét thấy, cấp sơ thẩm căn cứ vào những nội dung xác minh nêu trên và đơn yêu cầu của bà Ph đã chấp nhận yêu cầu của bà Ph buộc ông P phải thanh toán số tiền 100.000.000đ tiền công sức đóng góp vào khối tài sản chung là không có căn cứ vững chắc. Bởi lẽ khi về chung sống với ông P, số tài sản do ông P và bà Ph mua sắm trong thời kỳ hôn nhân với giá khi mua sắm chỉ có 99.700.000 đồng, chưa tính trừ khấu hao. Nếu có yêu cầu chia tài sản chung sau ly hôn thì bà Ph cũng chỉ được 1/2 giá trị số tài sản đó. Việc bà Ph yêu cầu ông P thanh toán tiền công đóng góp để tạo nên khối tài sản chung là 100.000.000đ, cấp sơ thẩm chấp nhận mức 100.000.000đ theo yêu cầu của bà Ph là không đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp của ông P.

Hội đồng xét xử xét thấy việc bà Ph chăm sóc mẹ già, chăm sóc chồng con là nghĩa vụ của người vợ, người mẹ và người con, do đó bà Ph yêu cầu ông P phải thanh toán cho bà Ph 100.000.000đ là không có căn cứ để chấp nhận. Tuy nhiên sau khi ly hôn nếu bà Ph có khó khăn về chỗ ở cũng như thu nhập thì có thể yêu cầu ông P hỗ trợ 1 khoản tiền để ổn định cuộc sống. Xét thu nhập, điều kiện, hoàn cảnh sống của nguyên đơn và bị đơn cần buộc ông P phải hỗ trợ cho bà Ph một khoản tiền là: 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng) để ổn định cuộc sống sau khi ly hôn là hợp lý.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 308 điều 148- Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận kháng cáo của ông Hoàng Trung P. Sửa một phần bản án sơ thẩm số: 161/2020/HNGĐ-ST ngày 30 tháng 9 năm 2020 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.
  2. Buộc ông Hoàng Trung P có trách nhiệm hỗ trợ cho bà Lý Thị Ph (Địa chỉ: Tổ 07, phường G, thành phố C, tỉnh Cao Bằng) một khoản tiền sau khi ly hôn là: 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng) để bà Ph ổn định cuộc sống.
  3. Về án phí: Ông Hoàng Trung P không phải chịu 300.000đ án phí dân sự phúc thẩm. Ông P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và án phí có giá ngạch là 1.000.000đ để sung vào công quỹ nhà nước.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:
- VKSND tỉnh;
- TANDTP Cao Bằng;
- Chi cục THADS tỉnh CB;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ;
- Lưu án văn.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Nguyễn Thị Như
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 03/2021/HNGĐ-PT ngày 17/03/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Cao Bằng về ly hôn

  • Số bản án: 03/2021/HNGĐ-PT
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 17/03/2021
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh Cao Bằng
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hoàng Trung Ph yêu cầu ly hôn Lý Thị Ph
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger