Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHỢ MỚI
TỈNH AN GIANG


Bản án số: 03/2021/DS-ST.
Ngày: 25-01-2021.
V/v tranh chấp Hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất, hợp đồng thuê quyền sử dụng đất.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thi.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Văn Hồng.
  2. Ông Trương Phước Công.

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Thảo, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Lộc, Kiểm sát viên.

Trong ngày 25 tháng 01 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 306/2020/TLST-DS ngày 08 tháng 10 năm 2020 về việc tranh chấp “Hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất, hợp đồng thuê quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 629/2020/QĐST-DS ngày 29 tháng 12 năm 2020 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Kim D, sinh năm 1961; nơi cư trú: ấp B, xã T, huyện P, tỉnh An Giang; có mặt

Bị đơn: Bà Cao Thị P, sinh năm 1949; nơi cư trú: ấp M, xã Đ, huyện C, tỉnh An Giang; có mặt

Ông Hồ Thanh L, sinh năm 1980; nơi cư trú: ấp M, xã Đ, huyện C, tỉnh An Giang; vắng mặt

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Lê Văn P1, sinh năm 1965; nơi cư trú: ấp B, xã T, huyện P, tỉnh An Giang; vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, tờ tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án đại diện cho nguyên đơn trình bày: Khoảng năm 2010, vợ chồng bà có nhận cố đất nông nghiệp của bà Cao Thị P, ông Hồ Thanh L (ông L là người đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) diện tích đất 40 công đất, với giá 18 lượng vàng 9999, thời hạn cố đất là 4 năm từ ngày 5/2/2010 âm lịch đến ngày 5/3/2014 âm lịch, không có thỏa thuận thời gian chuộc đất (việc cầm cố có lập hợp đồng cầm cố có bà Cao Thị P, ông Hồ Thanh L ký tên), đất tọa lạc xã V, huyện C, tỉnh An Giang. Bà đã giao đủ tiền cho bà P, ông L; bà P, ông L có thỏa thuận với vợ chồng bà là cho bà, ông L thuê lại để canh tác, với giá thuê mỗi năm là 42.000.000 đồng/40 công/năm. Sau đó, vợ chồng ông bà có đưa cho bà P, ông L 1 lượng vàng 9999. Bà P, ông L có trả tiền thuê đất cho vợ chồng bà nhưng trả không đủ. Năm 2019 đến nay bà P, ông L không trả tiền thuê đất cho vợ chồng bà. Từ khi hợp đồng cầm cố vợ, chồng bà không nhận đất, không nhận giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và vợ, chồng bà không biết diện tích đất theo giấy chứng nhận là bao nhiêu vì chưa từng thấy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Bà P, ông L có trả cho bà được 10 lượng vàng 9999 nhưng bà không nhớ rõ thời gian trả. Hiện diện tích bà P, ông L đã chuyển nhượng cho người khác nhưng bà P, ông L vẫn không trả cho bà số vàng còn nợ 09 lượng vàng 9999.

Nay bà yêu cầu Tòa án hủy hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất giữa vợ, chồng bà với bà Cao Thị P và ông Hồ Thanh L ký ngày 5/2/2010 âm lịch. Yêu cầu bà Cao Thị P, ông Hồ Thanh L cùng có nghĩa vụ liên đới trả cho bà số vàng cố đất 09 lượng vàng 9999 và tiền thuê đất 02 năm (năm 2019 đến năm 2020) là 88.000.000 đồng.

Ngày 26/11/2020 bà Nguyễn Thị Kim D có đơn xin rút một phần khởi kiện đối với yêu cầu đòi tiền thuê đất. Do các bên không giao nhận đất nên không yêu cầu Tòa án tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ và đo đạc diện tích đất.

Bị đơn bà Cao Thị P trình bày: Bà thống nhất lời trình bày của bà Nguyễn Thị Kim D về hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất giữa bà, ông Hồ Thanh L với bà Nguyễn Thị Kim D, ông Lê Văn P1. Khi cố đất bà D giao tiền cho bà rồi đổi ra vàng tại thời điểm ký hợp đồng, bà có trả cho bà Nguyễn Thị Kim D số 10 lượng vàng 9999, bà không nhớ chính xác thời gian trả. Bà đã đưa cho bà D số tiền thuê đất mỗi năm 44.000.000 đồng nhưng bà không nhớ chính xác cụ thể số tiền đã đưa cho bà D. Nay bà D yêu cầu hủy hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất giữa bà, ông L với bà D và ông P bà đồng ý, bà thống nhất bà, ông L còn nợ bà D, ông P số vàng cố đất là 09 lượng vàng 9999, nhưng do hoàn cảnh khó khăn, lớn tuổi bà không có khả năng trả. Tiền thuê đất do trả nhiều cho bà D với hoàn cảnh khó khăn nên xin bà D số tiền thuê đất 88.000.000 đồng.

Bị đơn ông Hồ Thanh L đã được tống đạt Thông báo thụ lý vụ án, thông báo về các phiên kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông L không gửi văn bản ghi ý kiến của ông, bà về các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan cho Tòa án. Nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của ông L.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Lê Văn P1 trình bày: Ông là chồng của bà Nguyễn Thị Kim D, ông thống nhất theo yêu cầu của bà D, không bổ sung ý kiến.

Tại phiên tòa, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu hủy hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất và yêu cầu bà P, ông L phải liên đới trả cho bà 09 lượng vàng 9999. Bà rút lại yêu cầu đòi 88.000.000 đồng tiền thuê đất.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng với quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

* Về tố tụng:

[1]. Về thẩm quyền giải quyết vụ án nguyên đơn khởi kiện bị đơn yêu cầu hủy hợp đồng cầm cố đất, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan yêu cầu bị đơn giao đất theo hợp đồng chuyển nhượng đất đây là tranh chấp dân sự hợp đồng cầm cố đất, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn có nơi cư trú tại xã Đ, huyện C, tỉnh An Giang. Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới thụ lý giải quyết là đúng theo quy định Điều 26; 35; 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2]. Về quan hệ pháp luật: Bà Nguyễn Thị Kim D khởi kiện yêu cầu hủy hợp đồng cầm cố, yêu cầu bị đơn trả tiền thuê đất. Đây là quan hệ tranh chấp về dân sự theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án thụ lý quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án này là tranh chấp hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất, hợp đồng thuê quyền sử dụng đất.

[3]. Về tư cách, sự vắng mặt của đương sự: Căn cứ Điều 68 Bộ luật tố tụng xác định nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim D, bị đơn bà Cao Thị P, ông Hồ Thanh L, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Lê Văn P1.

Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới đã thực hiện các thủ tục tống đạt Thông báo về việc thụ lý vụ án; Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa cho bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt không có lý do. Do đó bị đơn là phù hợp với Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

* Về nội dung vụ án:

[5]. Về hợp đồng, yêu cầu khởi kiện: Vào ngày 5/2/2010 âm lịch bà Cao Thị P và con là ông Hồ Thanh L có ký hợp đồng cầm cố diện tích đất 40 công, tọa lạc xã Vĩnh Nhuận, huyện Châu Thành, tỉnh An Giang cho bà Nguyễn Thị Kim D, ông Lê Văn P1, với giá 18 lượng vàng 9999, thời hạn cố 04 năm từ ngày ngày 5/2/2010 âm lịch đến ngày 5/3/2014 âm lịch. Tuy nhiên, khi giao vàng xong bà D, ông P không nhận đất canh tác mà cho bà P, ông L thuê đất canh tác với giá 44.000.000 đồng/40 công/năm. Bà P, ông L có trả tiền thuê đất cho bà D, ông P nhưng không nhớ cụ thể số tiền đã trả, năm 2019 đến năm 2020 bà P, ông L không trả tiền thuê đất cho bà và bà P, ông L đã chuyển nhượng diện tích đất nêu trên cho người khác.

Xét yêu cầu của nguyên đơn về yêu cầu hủy hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất, giao dịch cầm cố quyền sử dụng đất giữa bà D, ông P và bà P với ông L tuy được xác lập trên cơ sở tự nguyện thỏa thuận, nhưng theo quy định tại Điều 166, 167 Luật đất đai năm 2013 và các văn bản pháp luật hướng dẫn về đất đai không có quy định người sử dụng đất có quyền cầm cố quyền sử dụng đất, do đó, hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất của các đương sự không có hiệu lực từ khi xác lập, nên nguyên đơn yêu cầu hủy hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất là có căn cứ.

Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận được quy định tại Điều 131 của Bộ luật dân sự 2015. Do bà D không nhận đất canh tác, chỉ có bà P, ông L nhận 18 lượng vàng 9999, bà P, ông L đã trả cho bà D và còn nợ lại 09 lượng vàng 9999. Đồng thời, bà D yêu cầu ông L liên đới cùng bà P trả 09 lượng vàng ông L không có ý kiến phản đối, nên căn cứ Điều 288 Bộ luật dân sự có nghĩa vụ liên đới trả cho bà D, ông L số vàng còn nợ 09 lượng vàng 9999; Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là tuyên bố hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất giữa bà D, ông P với bà P và ông L vô hiệu, buộc bà P, ông L có nghĩa vụ liên đới trả cho bà D, ông L 9 lượng vàng 9999. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của bà D đối với yêu cầu bà P, ông L trả số tiền thuê đất 88.000.000 đồng.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 26; 35; 39; 92; 144; 147; 217, 227, 228, 244 và Điều 273; Căn cứ Điều 122; Điều 123; Điều 131; Điều 288 Bộ luật dân sự năm 2015; Căn Điều 167; 168 Luật đất đai năm 2013; Căn cứ nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

Đình chỉ yêu cầu khởi kiện đòi tiền thuê đất 88.000.000 đồng của bà Nguyễn Thị Kim D đối với bà Cao Thị P, ông Hồ Thanh L.

Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Kim D đối với bà Cao Thị P, ông Hồ Thanh L về yêu cầu hủy hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất.

Tuyên bố hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất giữa bà Nguyễn Thị Kim D, ông Lê Văn P1 với bà Cao Thị P và ông Hồ Thanh L vô hiệu.

Buộc bà Cao Thị P và ông Hồ Thanh L có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Nguyễn Thị Kim D, ông Lê Văn P1 số vàng 09 lượng vàng (9999).

Án phí dân sự sơ thẩm: Bà P được miễn án phí theo quy định pháp luật. Ông Hồ Thanh L phải chịu 11.720.000 (mười một bảy trăm hai mươi nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Bà Nguyễn Thị Kim D được nhận lại số tiền tạm ứng 11.260.000 đồng theo biên lai số 0008936 ngày 08 tháng 10 năm 2020 của chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.

Nơi nhận:
- TAND tỉnh An Giang;
- Chi cục THADS huyện Chợ Mới;
- VKSND huyện Chợ Mới;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Nguyễn Thị Thi
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 03/2021/DS-ST ngày 25/01/2021 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang về tranh chấp hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất, hợp đồng thuê quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 03/2021/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất, hợp đồng thuê quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/01/2021
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà Nguyễn Thị Kim D yêu cầu tuyên bố hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất giữa bà với bà Cao Thị P, ông Hồ Thanh L là vô hiệu
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger