|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN NAM TỈNH NINH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 02/2024/KDTM-ST Ngày: 30-9-2024 V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng và Thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN NAM, TỈNH NINH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Khánh Hưng.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Não Thiên Minh Trí và bà Nguyễn Thị Liên.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thu Hiền - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thuận Nam, tỉnh Ninh Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Nam, tỉnh Ninh Thuận tham gia phiên tòa: Bà Tài Thị Cao Sâm - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thuận Nam, tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 02/2021/TLST-KDTM ngày 15 tháng 11 năm 2021 về việc "Tranh chấp hợp đồng tín dụng "theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2024/QĐXXST-DS ngày 17 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Á, địa chỉ: Số D N, phường E, quận C, Tp Hồ Chí Minh.
- - Đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn: Ông Lê Minh M và ông Nguyễn Thành N – Là nhân viên xử lý nợ (ông M có mặt, ông N vắng mặt).
- - Bị đơn: ông Phan Ngọc A, sinh năm 1961, bà Ngô Thị Hồng P, sinh năm 1960, địa chỉ: Thôn L, xã C, huyện T, tỉnh Ninh Thuận (đã chết).
- - Những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Phan Ngọc A và bà Ngô Thị Hồng P gồm:
- Ông Phan Ngọc T, sinh năm 1980, địa chỉ: Thôn L, xã P, huyện T, tỉnh Ninh Thuận.
- Bà Phan Thị Bé N1, sinh ngày 1985, địa chỉ: Thôn P, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên.
- Ông Phan Văn Thanh M1, sinh năm: 1987, địa chỉ: Thôn L, xã C, huyện T, tỉnh Ninh Thuận.
- Bà Phan Thị Bé P1, sinh năm 1990, địa chỉ: Thôn L, xã C, huyện T, tỉnh Ninh Thuận.
- Bà Phan Thị Bé H, sinh năm 1992, địa chỉ: Thôn V, xã V, Tp N, tỉnh Khánh Hòa.
- Ông Phan Ngọc H1, sinh năm 1999, địa chỉ: Thôn L, xã C, huyện T, tỉnh Ninh Thuận;
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Phan Thị T1, sinh năm 1966, địa chỉ: Thôn L, xã C, huyện T, tỉnh Ninh Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, quá trình tố tụng và tại phiên tòa, đại diện uỷ quyền của nguyên đơn ông Lê Minh M trình bày: Ngày 18/01/2018, Ngân hàng TMCP Á (gọi tắt Ngân hàng A1) cho vợ chồng ông Phan Ngọc A, bà Ngô Thị Hồng P (gọi tắt vợ chồng ông A) vay số tiền 250.000.000₫ thông qua hợp đồng cấp tín dụng số PHR.CN.221.180118 ngày 18/01/2018 và khế ước nhận nợ số [...] ngày 02/11/2018, mục đích cho vay: sản xuất kinh doanh, bổ sung vốn lưu động, cho vay phục vụ hoạt động kinh doanh, bổ sung vốn kinh doanh mua bán hải sản cá, mực các loại; thời hạn hiệu lực hạn mức tín dụng là 12 tháng kể từ ngày ký hợp đồng tín dụng ngày 18/01/2018, thời hạn cho vay là 09 tháng; lãi suất cho vay được ghi trên mỗi khế ước nhận nợ, lãi suất quá hạn là 150% lãi suất trong hạn, lãi phạt chậm trả là 10%/năm. Ngân hàng A1 đã giải ngân toàn bộ số tiền trên cho vợ chồng ông A. Để đảm bảo cho khoản vay với Ngân hàng, vợ chồng ông A ký kết hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số PHR.BĐCN.509.170117 ngày 18/01/2017 và Hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp PHR.BĐCN.590.170117/SĐBS ngày 18/01/2018, qua đó thế chấp tài sản là quyền sử dụng đất diện tích 159m² thuộc thửa đất số 345, tờ bản đồ số 28a tại thôn L, xã C, huyện T, tỉnh Ninh Thuận, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành BQ 217821, số vào số cấp GCN: CH 00383 ngày 01/10/2013 do UBND huyện T cấp cho ông Phan Ngọc A. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, vợ chồng ông A đã không thực hiện việc trả nợ gốc, lãi vay theo đúng thỏa thuận, Ngân hàng đã nhiều lần làm việc nhưng vợ chồng ông A không thực hiện đúng cam kết trả nợ, dẫn đến quá hạn.
Vì vậy, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc vợ chồng ông A có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng số tiền nợ tạm tính đến ngày 30/9/2024 là 563.060.436 đồng; trong đó nợ gốc là 235.479.089 đồng, lãi trong hạn là 14.605.116 đồng, lãi quá hạn là 226.961.017 đồng, phạt chậm trả là 86.015.215 đồng và số tiền lãi phát sinh sau ngày 30/9/2024 đến khi thanh toán xong số tiền nợ gốc và lãi theo hợp đồng đã ký kết. Trường hợp ông Phan Ngọc A, bà Ngô Thị Hồng P không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì tài sản bảo đảm được cơ quan có thẩm quyền xử lý để thu hồi nợ bao gồm quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất tại thửa đất số 345, tờ bản đồ số 28a, địa chỉ thôn L, xã C, huyện T, tỉnh Ninh Thuận thuộc quyền sở hữu, sử dụng của ông Phan Ngọc A, bà Ngô Thị Hồng P.
Tại phiên tòa, đại diện Ngân hàng cho rằng vợ chồng ông Phan Ngọc A, bà Ngô Thị Hồng P đã chết nên yêu cầu các con của ông A, bà P là hàng thừa kế thứ nhất phải thực hiện nghĩa vụ do ông A, bà P để lại.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 18/8/2023, bị đơn ông Phan Ngọc A trình bày: Ngày 18/01/2018 Ngân hàng A1 và vợ chồng đã ký kết hợp đồng tín dụng số PHR.CN.221.180118. Theo nội dung hợp đồng trên thì Ngân hàng A1 đã cho vợ chồng tôi vay với tiền là 250.000.000₫ (hai trăm năm mươi triệu đồng), mục đích vay: sản xuất kinh doanh – Bổ sung vốn lưu động – Cho vay phục vụ sản xuất kinh doanh: Bổ sung vốn kinh doanh mua bán hải sản cá, mực các loại., thời hạn vay 09 tháng, từ ngày 03/11/2018 đến ngày 02/8/2019, lãi suất vay 12%/năm. Ngân hàng A1 đã giải ngân toàn bộ số tiền trên cho vợ chồng ông. Quá trình vay tiền, vợ chồng ông có thế chấp cho Ngân hàng A1 thửa đất số 345 tờ bản đồ số 28a, địa chỉ tại thôn L, xã C, huyện T, tỉnh Ninh Thuận theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành BQ217821, số vào số cấp GCN 00383 ngày 01/10/2013 do UBND huyện T cấp cho ông Phan Ngọc A, tại Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số PHR.BĐCN.590.17011 ngày 18/01/2017 tại Phòng công chứng số A tỉnh Ninh Thuận. Do quá trình làm ăn khó khăn, kèm theo dịch bệnh nên từ năm 2019 cho đến nay nên vợ chồng ông chưa trả cho Ngân hàng A1 số tiền vay gốc cũng như lãi. Nay Ngân hàng khởi kiện yêu cầu vợ chồng ông trả toàn bộ số tiền nợ gốc và lãi ông không có ý kiến ý, thống nhất với yêu cầu của Ngân hàng và đồng ý trả cho ngân hàng A1 số tiền trên. Do hiện nay vợ ông là bà Ngô Thị Hồng P đã chết vì vậy, ông và các con là những người thừa kế của bà P sẽ cùng nhau liên đới trả nợ cho Ngân hàng A1 số tiền trên.
Ông xác nhận vợ ông là bà Ngô Thị Hồng P chết vào năm 2018 không để lại di chúc. Ông xác nhận ông với bà Ngô Thị Hồng P có 06 (sáu) người con chung gồm: Phan Ngọc T, Phan Văn Thanh M1, Phan Ngọc H1, Phan Thị Bé P1, Phan Thị Bé H và Phan Thị Bé N1. Ngoài ra bà Ngô Thị Hồng P không có có riêng, con nuôi nào khác. Cha mẹ của bà P đã chết trước bà P từ lâu. Tính để thời điểm hiện nay thì phần di sản của bà Ngô Thị Hồng P trong khối tài sản là thửa đất số 345 tờ bản đồ số 28a xã C, huyện T đã được UBND huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BQ 217821, số vào số cấp GCN: CH00383 ngày 01/10/2013 cấp cho (tôi) Phan Ngọc A đứng tên, chưa được chia thừa kế, đây là tài sản chung của vợ chồng ông. Hiện nay trên thửa đất trên có 02 (hai) căn nhà cấp 4 hiện do ông Phan Ngọc A và bà Phan Thị T1 quản lý. Ông đồng ý tiếp tục duy trì hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số PHR.BĐCN.590.170117 ngày 18/01/2017 và Hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp số PHR.BĐCN.590.170117/SĐBS-01 ngày 18/01/2018, để đảm bảo khoản nợ mà vợ chồng ông có trách nhiệm liên đới trả cho Ngân hàng TMCP Á.
Tại biên bản lấy lời khai ông Phan Ngọc T và bản trình bày ý kiến của các ông, bà Phan Thị Bé N1, Phan Văn Thanh M1, Phan Thị Bé P1, Phan Thị Bé H, Phan Ngọc H1 (BL từ 116 đến 121) trình bày: Các ông, bà là con ruột của ông Phan Ngọc A và bà Ngô Thị Hồng P là bị đơn trong vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng mà Toà án huyện Thuận Nam đang giải quyết. Các ông, bà có được cha là ông Phan Ngọc A thông báo về việc Toà án thụ lý vụ án, có nhận được giấy triệu tập vì liên quan đến tài sản thế chấp mà cha mẹ các ông, bà đã thế chấp và hiện nay mẹ các ông, bà đã mất. Các ông, bà xác nhận mẹ là bà Ngô Thị Hồng P chết vào năm 2018 không để lại di chúc. Ông, bà xác nhận cha mẹ ông, bà là ông Phan Ngọc A, bà Ngô Thị Hồng P có 06 (sáu) người con chung gồm: Phan Ngọc T, Phan Văn Thanh M1, Phan Ngọc H2, Phan Thị Bé P1, Phan Thị Bé H và Phan Thị Bé N1. Ngoài ra bà Ngô Thị Hồng P không có có riêng, con nuôi nào khác. Tính để thời điểm hiện nay thì phần di sản của bà Ngô Thị Hồng P trong khối tài sản là thửa đất số 345 tờ bản đồ số 28a xã C, huyện T đã được UBND huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BQ 217821, số vào số cấp GCN: CH00383 ngày 01/10/2013 cấp cho ông Phan Ngọc A đứng tên, chưa được chia thừa kế. Hiện nay trên thửa đất trên có 02 (hai) căn nhà cấp 4 hiện do ông Phan Ngọc A và bà Phan Thị T1 quản lý. Các ông, bà không yêu cầu chia di sản thừa kế của bà Ngô Thị Hồng P trong vụ án án này. Các ông, bà đồng ý cùng có trách nhiệm liên đới để thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á thay cho bà Ngô Thị Hồng P chết để lại, theo thoả thuận về các điều khoản và điều kiện tín dụng chung số PHR.CN220.180118 ngày 18/01/2018 và H3 động cấp tín dụng số PHR.221.180118 ngày 18/01/2018 mà vợ chồng ông Phan Ngọc A, bà Ngô Thị Hồng P đã ký kết với Ngân hàng TMCP Á, trong phạm vi di sản do bà Ngô Thị Hồng P để lại chưa được chia trong khối tài sản là thửa đất số 345 tờ bản đồ số 28a xã C, huyện T, tỉnh Ninh Thuận, hiện đang thế chấp tại Ngân hàng TMCP Á1 theo Hợp đồng thế chấp thế chấp quyền sử dụng đất số PHR.BĐCN.590.170117 ngày 18/01/2017 và Hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp số PHR.BĐCN.590.170117/SĐBS-01 ngày 18/01/2018. Các ông, bà thống nhất với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng và đồng ý liên đới trả cho Ngân hàng A1 số tiền nợ mà trước đây cha mẹ ông, bà đã vay để đầu tư làm ăn, nhưng do việc làm ăn thua lỗ nên chưa thánh toán hết số tiền cho Ngân hàng. Các ông, bà đồng ý tiếp tục duy trì hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số PHR.BĐCN.590.170117 ngày 18/01/2017 và Hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp số PHR.BĐCN.590.170117/SĐBS-01 ngày 18/01/2018, để đảm bảo khoản nợ mà vợ chồng ông Phan Ngọc A, bà Ngô Thị Hồng P có trách nhiệm trả cho Ngân hàng TMCP Á.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 19/10/2023, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phan Thị T1 trình bày: Bà là em ruột của ông Phan Ngọc A, do bà không lập gia đình riêng nên hiện bà vẫn sống chung với gia đình ông Phan Ngọc A. Vào năm 2019, do nhà ông Phan Ngọc A đã xuống cấp nên ông Phan Ngọc A đã đồng ý cho bà xây dựng một căn nhà cấp 4 trên miếng đất của gia đình ông A. Căn nhà được xây ở hướng bắc của thửa đất, lúc xây dựng căn nhà này thì bà không biết thửa đất này ông Phan Ngọc A đang thế chấp vay tiền tại Ngân hàng, đến khi Tòa án xuống xem xét, thẩm định bà mới biết. Thời điểm bà xây dựng căn nhà trên khoảng 180.000.000 đồng, do bà tự bỏ tiền ra, bà không có chồng con. Đối với vụ việc tranh chấp giữa ông A với Ngân hàng, bà không có ý kiến gì, bà không yêu cầu Tòa án định giá căn nhà trên, bà yêu cầu Tòa án khi giải quyết thì chừa lại phần đất mà ông A đã cho bà xây nhà.
Phát biểu của kiểm sát viên tại phiên tòa:
- - Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
- - Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Các đương sự đã thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định của pháp luật.
- - Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về án phí và chi phí tố tụng, đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và sau khi nghe đương sự trình bày tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết: Ngân hàng A1 khởi kiện yêu cầu vợ chồng Phan Ngọc A phải trả số tiền nợ gốc và tiền lãi được ký kết giữa Ngân hàng với vợ chồng ông A tại Hợp đồng tín dụng số PHR.CN.221.180118 ngày 18/01/2018 và đồng thời yêu cầu duy trì hợp đồng thế chấp để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ. Do ông Phan Ngọc A, bà Ngô Thị Hồng P đã chết nên yêu cầu Tòa án buộc những hàng thừa kế thứ nhất của ông A, bà P thực hiện nghĩa vụ đối với Ngân hàng. Căn cứ theo khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xác định đây là vụ án dân sự về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” và Thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại”, thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Thuận Nam, tỉnh Ninh Thuận.
[2]. Về người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng:
Căn cứ theo trích lục khai tử số 307/TLKT-BS ngày 17/08/2023 và số 262/TLKT-BS ngày 29/07/2024 của UBND xã C có căn cứ xác định bà Ngô Thị Hồng P đã chết vào ngày 20/3/2018, ông Phan Ngọc A đã chết vào ngày 07/6/2024.
Quá trình giải quyết vụ án bị đơn Phan Ngọc A và những người thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng của ôn Anh, bà P đều xác nhận ông Phan Ngọc A, bà Ngô Thị Hồng P có 06 người con chung gồm Phan Ngọc T, Phan Thị Bé N1, Phan Văn Thanh M1, Phan thị Bé P2, Phan Thị Bé H và Phan Ngọc H1, ông A, bà P không có con nuôi, con riêng nào, cha mẹ của ông A, bà P đều đã chết trước từ lâu. Các bên đều thừa nhận ông A, bà P chết không để lại di chúc. Đây là tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự.
[3]. Về việc vắng mặt của đương sự: Đối với những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Phan Ngọc A, bà Ngô Thị Hồng P vắng mặt tại phiên tòa và có yêu cầu vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tóa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự trên.
[4]. Về nội dung vụ án: Ngày 18/01/2018 Ngân hàng A1 với vợ chồng ông Phan Ngọc A, bà Ngô Thị Hồng P có ký hợp đồng tín dụng số PHR.CN.221.180118. Theo hợp đồng, Ngân hàng A1 đã giải ngân cho vợ chồng ông A vay số tiền 250.000.000đ. Hợp đồng được ký kết trên cơ sở thoả thuận tự nguyện của các bên, không bị lừa dối. Hình thức và nội dung của hợp đồng tuân thủ đúng quy định của pháp luật, không trái đạo đức xã hội nên được chấp nhận.
[4.1]. Xét yêu cầu khởi kiện của A1 đối với vợ chồng ông Phan Ngọc A: Quá trình tố tụng, ông Phan Ngọc A xác nhận có vay, còn nợ và đồng ý trả cho ngân hàng số nợ trên. Tuy nhiên, do hiện nay ông Phan Ngọc A, bà Ngô Thị Hồng P đã chết nên Ngân hàng yêu cầu những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là hàng thừa kế của ông A, bà P thực hiện nghĩa vụ tài sản do ông A, bà P để lại là có căn cứ, phù hợp với Điều 615 Bộ luật dân sự. Quá trình tố tụng những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của vợ chồng ông A, bà P cũng xác nhận, đồng ý thực hiện nghĩa vụ do vợ chồng ông A để lại. Vì vậy Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng, buộc ông, bà Phan Ngọc T, Phan Thị Bé N1, Phan Văn Thanh M1, Phan thị Bé P2, Phan Thị Bé H và Phan Ngọc H1 phải cùng chịu trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng số tiền nợ tạm tính đến ngày 30/9/2024 là 563.060.436 đồng, bao gồm, nợ gốc là 235.479.089 đồng; lãi trong hạn là 14.605.116 đồng; lãi quá hạn là 226.961.017 đồng; lãi phạt chậm trả là 86.015.212 và khoản tiền lãi phát sinh sau ngày 30/9/2024 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ theo mức lãi suất trong hợp đồng tín dụng.
[4.2] Xét yêu cầu của Ngân hàng A1 về xử lý tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số PHR.BĐCN.509.170117 ngày 18/01/2017 và Hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp PHR.BĐCN.590.170117/SĐBS-01 ngày 18/01/2018. Xét thấy, hợp đồng thế chấp trên được ký kết đúng theo trình tự thủ tục, đúng đối tượng, không vi phạm pháp luật, không trái đạo đức xã hội và phù hợp với nội dung thoả thuận của các bên để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trả nợ của đương sự nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5]. Qua xem xét, thẩm định tại chỗ quyền sử dụng đất thế chấp là thửa đất số 345 tờ bản đồ số 28a xã C. Xét thấy, trên đất có 01 căn nhà cấp 4 của bà Phan Thị T1 và hiện bà T1 đang sinh sống, ngôi nhà được xây dựng ở hướng bắc của thửa đất. Bà T1 và ông A xác nhận, ông A là người cho bà T1 xây nhà trên thửa đất trên. Việc cho đất chỉ nói bằng miệng, không có hợp đồng tặng cho và căn nhà trên được hình thành sau khi vợ chồng ông A thế chấp quyền sử dụng đất trên cho Ngân hàng, quá trình giải quyết vụ án, bà T1 không yêu cầu giải quyết và không yêu cầu Tòa án tiến hành định giá căn nhà nên không xem xét.
Xét thấy, quyền sử dụng đất và tài sản trên thuộc quyền quản lý của vợ chồng ông A nên Ngân hàng có quyền yêu cầu xử lý để thu hồi nợ là phù hợp trong hợp đồng thế chấp và đúng quy định tại Điều 318, 325 Bộ luật dân sự nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Riêng về tài sản là căn nhà của bà Phan Thị T1 trên thửa đất đang thế chấp tại Ngân hàng, theo Án lệ số 11/2017/AL về công nhận hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất mà trên đất có tài sản không thuộc sở hữu của bên thế chấp quy định như sau: “[...] Trường hợp trên đất có nhiều tài sản gắn liền với đất mà có tài sản thuộc sở hữu của người sử dụng đất, có tài sản thuộc sở hữu của người khác mà người sử dụng đất chỉ thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thuộc sở hữu của mình, hợp đồng thế chấp có nội dung và hình thức phù hợp với quy định của pháp luật thì hợp đồng thế chấp có hiệu lực pháp luật... Trường hợp bên thế chấp và bên nhận thế chấp thỏa thuận bên nhận thế chấp được bán tài sản bảo đảm là quyền sử dụng diện tích đất mà trên đất có nhà thuộc sở hữu của người khác không phải là người sử dụng đất thì cần dành cho chủ sở hữu nhà đó được quyền ưu tiên nếu họ có nhu cầu mua (nhận chuyển nhượng).”
Xét thấy, các tình tiết, sự kiện pháp lý trong vụ án này tương tự như tình tiết, sự kiện pháp lý trong án lệ số 11 nên Hội đồng xét xử áp dụng Án lệ số 11/2017/AL và căn cứ Điều 318, 325 BLDS, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng. Bà Phan Thị T1 là người có tài sản trên đất được quyền ưu tiên nhận chuyển nhượng phần quyền sử dụng đất có tài sản nếu có nhu cầu.
Theo khoản 1 Điều 615 Bộ luật dân sự quy định: “Những người hưởng thừa kế có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản trong phạm vi di sản do người chết để lại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”. Cho đến hiện nay các bên không có thỏa thuận nào khác. Vì vậy, phần nghĩa vụ tài sản của ông A, bà P thì hàng thừa kế thứ nhất của ông A, bà P gồm các ông, bà: Phan Ngọc T, Phan Thị Bé N1, Phan Văn Thanh M1, Phan Thị Bé P1, Phan Thị Bé H, Phan Ngọc H1 phải có nghĩa vụ thực hiện trong phạm vi di sản do ông A, bà P chết để lại. Trường hợp nghĩa vụ để lại lớn hơn phần di sản để lại thì các ông, bà Phan Ngọc T, Phan Thị Bé N1, Phan Văn Thanh M1, Phan Thị Bé P1, Phan Thị Bé H, Phan Ngọc H1 chỉ có nghĩa vụ thanh toán trong phạm vi di sản do ông A, bà P để lại.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi của Ngân hàng A1. Chấp nhận toàn bộ ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Nam về quan điểm giải quyết vụ án.
[6]. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Tổng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 3.000.000 đồng. Căn cứ Điều 157 Bộ luật tố tụng dân sự, do yêu cầu của Ngân hàng A1 được chấp nhận nên các ông, bà Phan Ngọc T, Phan Thị Bé N1, Phan Văn Thanh M1, Phan Thị Bé P1, Phan Thị Bé H, Phan Ngọc H1 phải cùng chịu chi phí xem xét, thẩm định là 3.000.000 đồng. Số tiền này do Ngân hàng đã nộp tạm ứng trước nên buộc những người trên phải hoàn trả cho Ngân hàng.
[7]. Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, buộc các anh chị Phan Ngọc T, Phan Thị Bé N1, Phan Văn Thanh M1, Phan Thị Bé P1, Phan Thị Bé H, Phan Ngọc H1 phải cùng chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm là 26.522.209 đồng; cách tính: 20.000.000 đồng + 4% của phần giá trị tài sản tranh chấp vượt quá 400.000.000 đồng = 20.000.000 đồng + 4% (163.060.436 đồng). Ngân hàng không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm nên được hoàn trả toàn bộ số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Các Điều 117, 280, 212, 317, 318, 320, 323, 325, 500, 502, Khoản 1 Điều 615 của Bộ luật dân sự; Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng; Án lệ số 11/2017/AL; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
- Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Á đối với ông Phan Ngọc A, bà Ngô Thị Hồng P.
1. Buộc những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông Phan Ngọc A, bà Ngô Thị Hồng P, gồm các ông, bà: Phan Ngọc T, Phan Thị Bé N1, Phan Văn Thanh M1, Phan Thị Bé P1, Phan Thị Bé H, Phan Ngọc H1 cùng có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng TMCP Á số tiền nợ tính đến ngày 30/9/2024 là 563.060.436 đồng; trong đó, bao gồm: nợ gốc là 235.479.089 đồng, lãi trong hạn là 14.605.116 đồng, lãi quá hạn là 226.961.017 đồng, phạt chậm trả là 86.015.215.
Kể từ ngày 01/10/2024 các ông, bà Phan Ngọc T, Phan Thị Bé N1, Phan Văn Thanh M1, Phan Thị Bé P1, Phan Thị Bé H, Phan Ngọc H1 còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này (Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất theo từng thời kỳ của ngân hàng cho vay, thì lãi suất mà khách hàng vay phải thanh toán cho ngân hàng vay theo quyết định của Tòa án sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của ngân hàng cho vay).
2. Trường hợp các ông, bà Phan Ngọc T, Phan Thị Bé N1, Phan Văn Thanh M1, Phan Thị Bé P1, Phan Thị Bé H, Phan Ngọc H1 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì tài sản bảo đảm được cơ quan có thẩm quyền xử lý để thu hồi nợ bao gồm quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất tại thửa đất số 345, tờ bản đồ số 28a, địa chỉ thôn L, xã C, huyện T, tỉnh Ninh Thuận thuộc quyền sở hữu, sử dụng của ông Phan Ngọc A, bà Ngô Thị Hồng P.
Trường hợp nghĩa vụ trả nợ tiền vay của các ông bà Phan Ngọc T, Phan Thị Bé N1, Phan Văn Thanh M1, Phan Thị Bé P1, Phan Thị Bé H, Phan Ngọc H1 cho Ngân hàng TMCP Á lớn hơn phần di sản do ông A, bà P để lại thì các ông, bà Phan Ngọc T, Phan Thị Bé N1, Phan Văn Thanh M1, Phan Thị Bé P1, Phan Thị Bé H, Phan Ngọc H1 chỉ có nghĩa vụ thanh toán trong phạm vi di sản ông A, bà P để lại.
- Bà Phan Thị T1 được quyền ưu tiên nhận chuyển nhượng một phần quyền sử dụng đất có xây dựng căn nhà cấp 4 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BQ 217821 do UBND huyện T cấp mang tên Phan Ngọc A.
3. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Buộc các ông, bà Phan Ngọc T, Phan Thị Bé N1, Phan Văn Thanh M1, Phan Thị Bé P1, Phan Thị Bé H, Phan Ngọc H1 phải cùng hoàn trả cho Ngân hàng A1 3.000.000₫ (ba triệu đồng) chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ.
4. Về án phí: Buộc các ông, bà Phan Ngọc T, Phan Thị Bé N1, Phan Văn Thanh M1, Phan Thị Bé P1, Phan Thị Bé H, Phan Ngọc H1 phải cùng chịu 26.522.417 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho Ngân hàng A1 8.886.000 đồng số tiền tạm ứng án phí mà Ngân hàng đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí lệ phí Tòa án số 0000258 ngày 15/11/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thuận Nam.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dương Khánh Hưng |
Bản án số 02/2024/KDTM-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN NAM, TỈNH NINH THUẬN về tranh chấp hợp đồng tín dụng và thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại
- Số bản án: 02/2024/KDTM-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng và Thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2024
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN NAM, TỈNH NINH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án Tran chấp hợp đồng tín dụng và thực hiện nghãi vị tài sản của người chết
