|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN Bản án số: 02/2024/KDTM - ST Ngày: 30/8/2024 V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Quý Sửu
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đinh Thanh Hải
2. Bà Hà Thị Dung
- Thư ký phiên toà: Bà Lương Thị Thuý Linh, Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Quang Chung, Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 8 năm 2024 tại Hội trường Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên, xét xử sơ thẩm vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số 05/2024/TLST-KDTM ngày 07/6/2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2024/QĐXX-ST ngày 12/8/2024; giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần C1; địa chỉ: Số A T, quận H, thành phố Hà Nội; đại diện theo uỷ quyền: Ông Nguyễn Đình Đ - Chức vụ: Phó Giám đốc Ngân hàng TMCP C1 - chi nhánh T; địa chỉ: Số F, đường H, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên; có mặt.
Bị đơn: Bà Đàm Thị Q, sinh năm 1985; Nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú cuối cùng: Tổ A, phường Q, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên; hiện nay không rõ địa chỉ cụ thể; vắng mặt.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Đỗ Hoàng H, sinh năm 1980; địa chỉ: Tổ A, phường Q, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên toà, nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần C1, đại diện theo ủy quyền ông Nguyễn Đình Đ trình bày:
Ngày 18/02/2022, Ngân hàng Thương mại cổ phần C1, Chi nhánh T (sau đây viết tắt là “V”) với bà Đàm Thị Q ký kết hợp đồng cho vay hạn mức số 01/2022-HĐCVHM/NHCT220 số tiền cho vay là 3.400.000.000 đồng. Mục đích vay để bổ sung vốn lưu động phục vụ hoạt động kinh doanh mua bán laptop, máy vi tính, điện tử các loại. Thời hạn vay của từng khoản nợ được ghi trên giấy nhận nợ tối đa không quá 08 tháng. Ngân hàng đã giải ngân số tiền cho vay trên theo các giấy nhận nợ sau:
- Giấy nhận nợ ngày 16/01/2023 số tiền 2.000.000.000 đồng; thời hạn vay 8 tháng; lãi suất tại thời điểm giải ngân là 9,5%/năm, thông báo điều chỉnh lãi suất vào ngày 18 hàng tháng; giải ngân chuyển khoản cho người hưởng là ông Ngô Xuân K, số tài khoản: 106871344550 tại Ngân hàng TMCP C1 - Chi nhánh T.
- Giấy nhận nợ ngày 31/01/2023 số tiền 1.400.000.000 đồng; thời hạn vay 8 tháng; lãi suất tại thời điểm giải ngân là 10%/năm, thông báo điều chỉnh lãi suất vào ngày 18 hàng tháng, giải ngân chuyển khoản cho người hưởng là ông Phạm Thanh C, số tài khoản: 100871292674 tại Ngân hàng TMCP C1 - chi nhánh T.
Để bảo đảm cho các khoản vay trên, vợ chồng bà Đàm Thị Q, ông Đỗ Hoàng H đã ký Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 03/2020/HĐBĐ/NHCT220 ngày 03/03/2020, tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 98, tờ bản đồ số 38, diện tích 58m², loại đất: đất ở tại đô thị tại phường Q, TP T, tỉnh Thái Nguyên, U cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất ngày 02/12/2015 mang tên ông Đỗ Hoàng H và bà Đàm Thị Quỳnh. Hợp đồng thế chấp được công chứng ngày 03/3/2020 và được chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố T đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 03/3/2020.
Ngày 19/07/2023 bà Q đã trả Ngân hàng được số tiền 900.000.000 đồng, sau đó vi phạm nghĩa vụ trả khoản gốc và lãi theo thoả thuận trong hợp đồng. Ngày 19/9/2023 và ngày 03/10/2023, Ngân hàng đã chuyển khoản nợ của bà Q sang nợ quá hạn, dư nợ gốc là 2.500.000.000 đồng.
Ngân hàng Thương mại cổ phần C1 khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết các nội dung sau:
- Buộc bà Đàm Thị Q trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần C1 toàn bộ nợ gốc, lãi trong hạn, lãi quá hạn tính đến hết ngày 25/7/2024 là 2.906.441.174 đồng,bao gồm: Nợ gốc: 2.500.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn: 57.989.036 đồng, lãi quá hạn trên số nợ gốc tính đến ngày 30/8/2024 là 348.452.138 đồng.
- Nếu bà Đàm Thị Q không trả được toàn bộ các khoản nợ cho Ngân hàng Thương mại cổ phần C1 thì Ngân hàng Thương mại cổ phần C1 được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mại xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 98, tờ bản đồ số 38, diện tích 58m², đất ở đô thị tại phường Q, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất Ủy ban nhân dân thành phố U cấp ngày 02/12/2015 mang tên ông Đỗ Hoàng H, bà Đàm Thị Q;
- Nếu sau khi xử lý tài sản thế chấp mà chưa đủ để thanh toán các khoản nợ nêu trên, thì bà Q phải tiếp tục dùng tài sản khác để thực hiện nghĩa vụ thanh toán.
Bà Đàm Thị Q còn phải tiếp tục thanh toán khoản tiền lãi quá hạn từ sau ngày 30/8/2024 cho đến khi thanh toán xong theo mức lãi suất thoả thuận trong hợp đồng cho vay;
Kết quả xác minh của Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên tại Công an phường Q, thành phố T xác định, bà Đàm Thị Q có hộ khẩu thường trú tại tổ A, phường Q, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên, hiện nay bà Q không có mặt tại địa phương, bà Q đi đâu làm gì địa phương không rõ. Bà Q không làm thủ tục khai báo tạm vắng, tạm trú theo quy định. Vì vậy, không xác định được ý kiến trình bày của bà Q.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Đỗ Hoàng H trình bày: Để đảm bảo cho khoản vay 3.400.000.000 đồng của bà Q tại Ngân hàng TMCP C1, ngày 03/3/2020 ông H và vợ là bà Đàm Thị Q ký hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 03/2020/HĐBĐ/NHCT220 ngày 03/3/2020 với Ngân hàng Thương mại cổ phần C1. Tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 98, tờ bản đồ số 38, diện tích 58m², đất ở đô thị tại phường Q, TP T, tỉnh Thái Nguyên. U cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất ngày 02/12/2015 mang tên Đỗ Hoàng H và Đàm Thị Quỳnh.
Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bà Q trả tiền gốc và tiền lãi theo Hợp đồng cho vay, ông H đề nghị Ngân hàng tạo điều kiện để vợ chồng ông trả số tiền gốc và được miễn số tiền lãi.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên phát biểu ý kiến xác định, việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký, của các đương sự đúng quy định của pháp luật.
Về thẩm quyền, thời hạn giải quyết đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung giải quyết, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn trả khoản tiền gốc, tiền lãi trong hạn, lãi quá hạn theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng và khoản tiền lãi tiếp theo. Trường hợp Ngân hàng có điều chỉnh lãi suất thì mức lãi suất quá hạn tiếp theo cũng được điều chỉnh. Nếu bà Q không trả được khoản tiền trên thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án phát mại tài sản bảo đảm để thu hồi nợ. Sau khi xử lý tài sản bảo đảm vẫn không đủ để thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng, thì bà Q phải tiếp tục chịu trách nhiệm trả số nợ còn lại cho Ngân hàng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng:
[1] Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, xác định quan hệ pháp luật các bên tranh chấp là tranh chấp Hợp đồng tín dụng. Do bị đơn xuất cảnh ra nước ngoài, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên theo quy định tại khoản 1 Điều 30, khoản 3 Điều 35, Điều 37, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Bà Đàm Thị Q vắng mặt tại địa chỉ thường trú khi ký hợp đồng cho vay hạn mức với Ngân hàng Thương mại cổ phần C1 là tổ A, phường Q, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên.
Căn cứ Điều 180 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án đã tiến hành thủ tục thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng đối với bà Đàm Thị Q theo quy định, nhưng bà Q không có mặt, hoặc liên hệ với Toà án để giải quyết vụ án.
Theo quy định tại Điều 5, Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì: Người khởi kiện đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo địa chỉ được ghi trong giao dịch, hợp đồng bằng văn bản thì được coi là “đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở”. Người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thay đổi nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở gắn với việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong giao dịch, hợp đồng mà không thông báo cho người khởi kiện biết về nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở mới theo quy định tại khoản 3 Điều 40, điểm b khoản 2 Điều 277 Bộ luật dân sự năm 2015 thì được coi là cố tình giấu địa chỉ.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị đơn bà Đàm Thị Quỳnh.
Về nội dung:
[3] Theo hợp đồng cho vay hạn mức đã ký giữa V với bà Đàm Thị Q, các giấy nhận nợ của bà Đàm Thị Q, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định bà Đàm Thị Q còn nợ V khoản tiền gốc theo Hợp đồng cho vay hạn mức số 01/2022/HĐCVHM/NHCT220 ngày 18/02/2020 số tiền là 2.500.000.000 đồng.
[4] Về số tiền lãi: Trong Hợp đồng cho vay hạn mức cụ thể các bên thỏa thuận: Thời hạn vay 08 tháng; lãi suất trong hạn 9,5%/năm và 10%/năm, lãi suất nợ quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn, Thông báo điều chỉnh lãi suất vào ngày 18 hàng tháng. Do không trả được tiền gốc và tiền lãi trong hạn, nên dư nợ gốc của bà Đàm Thị Q được chuyển sang nợ quá hạn từ ngày 19/9/2023 và ngày 03/10/2023. Số tiền lãi trong hạn được tính theo mức lãi suất thỏa thuận kể từ thời điểm vay đến thời điểm quá hạn, số tiền lãi quá hạn được tính từ ngày quá hạn hợp đồng đến ngày xét xử sơ thẩm 30/8/2024 theo lãi suất quá hạn thỏa thuận trong hợp đồng cho vay hạn mức.
[5] V yêu cầu bà Đàm Thị Q phải trả khoản tiền lãi trong hạn, lãi quá hạn theo mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng tính đến ngày 30/8/2024 và khoản tiền lãi tiếp theo cho đến khi thanh toán xong là có căn cứ, phù hợp quy định của pháp luật, nên chấp nhận.
[6] Khoản tiền gốc và lãi theo Hợp đồng tín dụng được bảo đảm bằng việc thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất. Hợp đồng thế chấp tài sản do các chủ thể có quyền sở hữu tài sản, quyền sử dụng đất thực hiện, được công chứng và đăng ký giao dịch bảo đảm đúng theo quy định của pháp luật.
[7] Tại Điều 1 của Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất xác định: Bên thế chấp đồng ý thế chấp tài sản của mình cho bên nhận thế chấp để bảo đảm cho nghĩa vụ của bên được bảo đảm.
Vì vậy, tất cả quyền sử dụng đất và các tài sản gắn liền trên đất đã thế chấp cho Ngân hàng đều thuộc tài sản thế chấp.
Theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ do Tòa án tiến hành có sự chứng kiến của đương sự, chính quyền địa phương, thì hiện trạng tài sản thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đều thuộc quyền sở hữu của chủ sử dụng đất và không thay đổi so với thời điểm thế chấp khi vay vốn Ngân hàng. Vì vậy, nếu bà bà Đàm Thị Q không thanh toán được khoản tiền nêu trên, thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất để thực hiện nghĩa vụ của bà Q theo hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp tài sản.
[8] Mục 1.02. Điều 1 Hợp đồng thế chấp giữa V và ông Đỗ Hoàng H, bà Đàm Thị Q quy định: “Nghĩa vụ được bảo đảm là toàn bộ nghĩa vụ trả nợ đầy đủ và đúng hạn (bao gồm: gốc, lãi, phí, tiền phạt, tiền bồi thường thiệt hại và các nghĩa vụ tài chính khác của bên được bảo đảm đối với bên nhận thế chấp phát sinh từ tất các các hợp đồng cho vay, hợp đồng cấp bảo lãnh, hợp đồng chiết khấu, hợp đồng bao thanh toán, văn bản liên quan tới việc phát hành L/c, hợp đồng mua bán trái phiếu, hợp đồng cấp tín dụng và các văn bản sửa đổi bổ sung (nếu có) mà bên được bảo đảm ký với bên nhận thế chấp trước, cùng và/hoặc sau thời điểm ký kết Hợp đồng này...”. Vì vậy, các tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất được bảo đảm thực hiện cho tất cả các khoản nợ theo hợp đồng cho vay hạn mức giữa bà Đàm Thị Q với V như nêu trên.
[9] Về án phí: Bà Đàm Thị Q phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm có giá ngạch tương ứng với số tiền gốc và lãi phải trả cho Ngân hàng tính đến ngày xét xử sơ thẩm 30/8/2024. Hoàn trả nguyên đơn khoản tiền tạm ứng án phí đã nộp.
[10] Về chi phí tố tụng: Ghi nhận Ngân hàng tự nguyện chịu toàn bộ chi phí thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng và xét xét thẩm định tài sản.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng: Khoản 1 Điều 30, khoản 3 Điều 35, Điều 37, điểm b khoản 1 Điều 39, Điều 157, Điều 180, Điều 227, Điều 228, khoản 2 Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 91, 95 Luật các Tổ chức tín dụng; Điều 299, Điều 323 Bộ luật dân sự; Điều 26 Luật thi hành án dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần C1 về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng với bà Đàm Thị Quỳnh.
- Buộc bà Đàm Thị Q trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần C1 tổng số tiền còn nợ theo Hợp đồng cho vay hạn mức số 01/2022-HĐCVHM/NHCT220 ngày 18/02/2022 tính đến ngày 30/8/2024 là: 2.906.441.174 đồng (Hai tỷ, chín trăm linh sáu triệu, bốn trăm bốn mươi mốt nghìn, một trăm bẩy mươi tư đồng), trong đó: Nợ gốc là: 2.500.000.000 đồng; Lãi trong hạn là: 57.989.036 đồng; Lãi quá hạn là: 348.452.138 đồng.
- Bà Đàm Thị Q còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn tính trên số nợ gốc từ sau ngày 30/8/2024 đến khi thanh toán xong theo lãi suất thoả thuận trong Hợp đồng cho vay hạn mức. Trường hợp Ngân hàng điều chỉnh mức lãi suất, thì mức lãi suất quá hạn cũng được điều chỉnh theo quy định.
- Nếu bà Đàm Thị Q không trả được số tiền nêu trên, thì Ngân hàng Thương mại cổ phần C1 có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án kê biên, phát mại tài sản bảo đảm để thu hồi nợ là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với thửa đất số 98, tờ bản đồ số 38, diện tích 58m²; tại tổ A, phường Q, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên; UBND thành phố U cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất ngày 02/12/2015 mang tên ông Đỗ Hoàng H, bà Đàm Thị Quỳnh.
- Trường hợp sau khi xử lý tài sản bảo đảm vẫn không đủ để thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng, thì bà Đàm Thị Q phải tiếp tục chịu trách nhiệm trả số nợ còn lại cho Ngân hàng bằng các tài sản khác.
- Về án phí: Bà Đàm Thị Q phải chịu 90.128.000 đồng án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm. Hoàn trả Ngân hàng Thương mại cổ phần C1, Chi nhánh T 41.869.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai số 0000188 ngày 06/6/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thái Nguyên.
- Về chi phí tố tụng: Ngân hàng Thương mại cổ phần C1 tự nguyện chịu toàn bộ chi phí tố tụng là 10.100.000 đồng (đã thực hiện xong).
- Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định.
Các bên đương sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (đã ký) Hoàng Quý Sửu |
Bản án số 02/2024/KDTM - ST ngày 30/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 02/2024/KDTM - ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/08/2024
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần C1 về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng với bà Đàm Thị Quỳnh . 1.1. Buộc bà Đàm Thị Q trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần C1 tổng số tiền còn nợ theo Hợp đồng cho vay hạn mức số 01/2022-HĐCVHM/NHCT220 ngày 18/02/2022 tính đến ngày 30/8/2024 là: 2.906.441.174 đồng (Hai tỷ, chín trăm linh sáu triệu, bốn trăm bốn mươi mốt nghìn, một trăm bẩy mươi tư đồng), trong đó: Nợ gốc là: 2.500.000.000 đồng; Lãi trong hạn là: 57.989.036 đồng; Lãi quá hạn là: 348.452.138 đồng. 1.2. Bà Đàm Thị Q còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn tính trên số nợ gốc từ sau ngày 30/8/2024 đến khi thanh toán xong theo lãi suất thoả thuận trong Hợp đồng cho vay hạn mức. Trường hợp Ngân hàng điều chỉnh mức lãi suất, thì mức lãi suất quá hạn cũng được điều chỉnh theo quy định. 2. Nếu bà Đàm Thị Q không trả được số tiền nêu trên, thì Ngân hàng Thương mại cổ phần C1 có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án kê biên, phát mại tài sản bảo đảm để thu hồi nợ là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với thửa đất số 98, tờ bản đồ số 38, diện tích 58m2; tại tổ A, phường Q, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên; UBND thành phố U cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sỏ hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất ngày 02/12/2015 mang tên ông Đỗ Hoàng H, bà Đàm Thị Quỳnh . 3. Trường hợp sau khi xử lý tài sản bảo đảm vẫn không đủ để thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng, thì bà Đàm Thị Q phải tiếp tục chịu trách nhiệm trả số nợ còn lại cho Ngân hàng bằng các tài sản khác.
