|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ TỈNH LÂM ĐỒNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 02/2024/KDTM-ST
Ngày: 30/7/2024
“V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Trần Minh Huấn |
| - Các Hội thẩm nhân dân. | Bà Trần Thị Hằng; |
| Bà Trần Thị Thanh Vân. |
- Thư ký phiên tòa: Bà Đàm Thị Thu Duy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Thúy - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 02/2024/TLST-KDTM ngày 20 tháng 3 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2024/QĐXXST-DS ngày 12 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP X (E); trụ sở: Tầng 8 Vincome center, 72 Lê Thánh T và D L phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Đăng N, sinh năm 1986; bà Thân Thị T2, sinh năm 1987; địa chỉ: tổ dân phố C, thị trấn N, huyện L, tỉnh Lâm Đồng.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- 3.1. Vợ chồng ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1981; bà Vũ Thị N1, sinh năm 1984; địa chỉ: Tổ dân phố B, thị trấn N, huyện L, tỉnh Lâm Đồng.
- 3.2. Ông Nguyễn Đăng P1, sinh năm 1979; địa chỉ: Tổ dân phố B, thị trấn N, huyên L, tinh L.
Người đại diện theo pháp luật: Bà Đỗ Hà P, chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Võ Thái L, chức vụ: Quyền Giám đốc Ngân hàng TMCP X – Chi nhánh L1.
Người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: Bà Nguyễn Thị Thúy T1 - Chức vụ: Trưởng phòng khách hàng cá nhân Chi nhánh L1, theo văn bản ngày 29/2/2024; địa chỉ: Số A Khu H, Phường A, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng.
(bà T1; vợ chồng ông N, bà T2, ông P1 có mặt; vợ chồng ông M, bà N1 có đơn xin xét xử vắng mặt).
2
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và lời trình bày tại phiên tòa của bà Nguyễn Thị Thúy T1 là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn thì: Ngày 27/4/2022, Ngân hàng TMCP X – Chi nhánh L1 (sau đây viết tắt là Ngân hàng) đã cấp tín dụng cho ông Nguyễn Đăng N, bà Thân Thị T2 theo hợp đồng tín dụng số 1202-LAV-220037096. Theo đó, Ngân hàng đã giải ngân cho ông Nguyễn Đăng N, bà Thân Thị T2 theo Khế ước nhận nợ số 1202-LDS-230000650 ngày 25/4/2023 với số tiền vay là 4.100.000.000đ; Mục đích vay vốn: Bổ sung vốn kinh doanh nông sản cà phê. Phương thức cho vay: Hạn mức tín dụng. Thời hạn cho vay: 12 tháng, lãi suất cho vay 12%/năm, lãi suất quá hạn 150% lãi suất cho vay theo quy định của Ngân hàng.
Để đảm bảo cho khoản vay vợ chồng ông N, bà T2 có thế chấp quyền sử dụng diện tích đất 2260m², thửa số 425, tờ bản đồ 42 thị trấn N, huyện L, tỉnh Lâm Đồng theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CX 195349 do Sở Tài Nguyên và Môi trường tỉnh L cấp ngày 04/8/2020 cho ông Nguyễn Đăng N; Quyền sử dụng diện tích đất 641m², thửa số 132, tờ bản đồ 42 thị trấn N, huyện L, tỉnh Lâm Đồng theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BS 679619 do Ủy ban nhân dân huyện L, tỉnh Lâm Đồng cấp ngày 24/4/2014 cho ông Nguyễn Văn T3 đã được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện L điều chỉnh sang tên chủ sử dụng đất cho ông Nguyễn Đăng N, bà Thân Thị T2 ngày 02/5/2018; theo Hợp đồng thế chấp số 178-2022/EIBLDONG-CN/TCTS, được công chứng tại Phòng C tỉnh Lâm Đồng ngày 27/4/2022, số công chứng 937, quyển số 38TP/CC-SCC/HĐGD, đăng ký giao dịch bảo đảm tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện L ngày 27/4/2022.
Trong quá trình vay vốn, ông N, bà T2 đã trả được lãi đến ngày 25/9/2023. Kể từ ngày 25/9/2023 cho đến nay ông N, bà T2 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ lãi đến hạn cho Ngân hàng theo thỏa thuận đã được ký kết. Do đó, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông N, bà T2 có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng toàn bộ số tiền nợ gốc là 4.100.000.000đ và tiền lãi trong hạn và lãi quá hạn tính đến ngày xét xử sơ thẩm (30/7/2024) là 608.616.192đ; tổng cộng cả gốc và lãi là 4.708.616.192đ; đồng thời, ông N, bà T2 còn phải trả số tiền lãi phát sinh được tiếp tục tính cho đến khi trả xong nợ theo mức lãi thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng.
Đồng thời, tiếp tục duy trì biện pháp thế chấp tài sản đảm bảo cho các khoản vay tại Ngân hàng để đảm bảo cho việc thi hành án, xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ vay của ông N, bà T2. Ngoài ra Ngân hàng không yêu cầu gì thêm.
Bị đơn vợ chồng ông Nguyễn Đăng N, bà Thân Thị T2: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án; thông báo về việc xem xét thẩm định tại chỗ; thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải nhưng đều vắng mặt không có lý do và cũng không gửi cho Tòa án văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng. Tuy nhiên, tại phiên tòa hôm nay vợ chồng ông Nguyễn Đăng N, bà Thân Thị T2 có mặt và thừa nhận việc vợ chồng ông bà còn nợ Ngân hàng như lời trình bày của người đại diện theo ủy quyền là đúng. Quá trình vay vốn do làm ăn
3
thua lỗ nên chưa có tiền trả nợ cho Ngân hàng. Nay Ngân hàng khởi kiện thì đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vợ chồng ông Nguyễn Văn M, bà Vũ Thị N1 tại biên bản lấy lời khai ngày 21/6/2024 trình bày: Vợ chồng ông không quen biết vợ chồng ông Nguyễn Đăng N, bà Trần Thị T4 mà chỉ biết ông Nguyễn Đăng P1 nhà ở tổ dân phố C, thị trấn N, huyện L và biết ông P1 là anh trai của ông N. Vào năm 2018 do điều kiện khó khăn nên vợ chồng ông bà có thuê của ông P1 căn nhà trên đất thuộc thửa 425, 132 để sinh sống, giá thuê mỗi tháng là 1.000.000đ, đất thì ông P1 vẫn quản lý sử dụng, còn nguồn gốc đất như thế nào vợ chồng ông bà không biết. Khi thuê hai bên có viết giấy tay với nhau do ông P1 giữ, thời hạn thuê là từng năm một, vợ chồng ông thuê nhà của ông P1 thì đã trả tiền đến tháng 6 năm 2024. Nay Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Tòa án duy trì biện pháp thế chấp tài sản để thu hồi nợ thì vợ chồng ông bà chấp hành bàn giao nhà cho cơ quan có thẩm quyền và chuyển đi nơi khác. Trong vụ án này vợ chồng ông bà không có yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề gì; đồng thời, có đơn xin giải quyết vắng mặt.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Đăng P1 tại bản tự khai ngày 21/6/2024 trình bày: Ông là anh trai ruột của ông Nguyễn Đăng N. Nguồn gốc của thửa đất 425 và 132 là của ông nhận chuyển nhượng của người khác nhưng nhờ em trai ông là Nguyễn Đăng N và em dâu là Thân Thị T2 đứng tên. Sau đó, do cần vốn làm ăn nên ông có nhờ vợ chồng ông N thế chấp cho Ngân hàng X - Chi nhánh L1 để vay số tiền 4.100.000.000đ. Trong quá trình vay vốn do làm ăn khó khăn và thị trường bất động sản đóng băng nên ông không trả được gốc và lãi đúng thời hạn cho Ngân hàng. Nay Ngân hàng khởi kiện ông đề nghị Ngân hàng tạo điều kiện cho ông xoay xở để trả nợ nếu Ngân hàng không tạo điều kiện thì ông đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật. Đối với việc ông cho ông M, bà N1 thuê căn nhà trên đất từ năm 2018 cho đến nay thì khi thuê chỉ thỏa thuận miệng, trong quá trình thuê thì ông M, bà N1 đã trả tiền thuê cho đến hết tháng 6/2024. Nếu giả sử Tòa án duy trì biện pháp thế chấp để xử lý thu hồi nợ cho Ngân hàng thì ông có trách nhiệm yêu cầu vợ chồng ông M, bà N1 chuyển đi nơi khác. Còn hợp đồng thuê nhà giữa ông và ông M, bà N1 thì ông không yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề gì mà để ông với vợ chồng ông M, bà N1 tự thỏa thuận với nhau. Tuy nhiên, tại phiên tòa ông P1 trình bày điện tích đất trên là của ông N, bà T2 không phải là của ông, ông đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Vụ án đã được Tòa án đã tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và tổ chức hòa giải theo quy định của pháp luật nhưng không hòa giải được do vắng mặt bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.
Tại phiên tòa:
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện như trên. Còn bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông P1 đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký tòa án, của Hội đồng xét xử và của những
4
người tham gia tố tụng. Đồng thời, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP X; buộc ông Nguyễn Đăng N, bà Thân Thị T2 phải trả cho Ngân hàng số tiền nợ gốc là 4.100.000.000đ, lãi trong hạn là 416.515.068đ, lãi quá hạn là 192.101.124đ; tổng cộng 4.708.616.192đ và tiếp tục duy trì Hợp đồng thế chấp số 178-2022/EIBLDONG-CN/TCTS ngày 27/4/2022.
Về chi phí tố tụng: Ông N, bà T2 phải chịu chi phí tố tụng với số tiền 2.000.000đ.
Về án phí: Buộc ông N, bà T2 phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Qua các chứng cứ, tài liệu được thể hiện trong hồ sơ và kết quả thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận của đương sự tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên toà người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vợ chồng ông Nguyễn Văn M, bà Vũ Thị N1 vắng mặt và có đề đề nghị giải quyết vắng mặt. Do đó, căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn xét xử vắng mặt vợ chồng ông Nguyễn Văn M, bà Vũ Thị N1 theo thủ tục chung là phù hợp.
[2] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Xuất phát từ việc vợ chồng ông N, bà T2 có ký kết hợp đồng với Ngân hàng để vay vốn. Theo đó, Ngân hàng đã cho vợ chồng ông N, bà T2 vay số tiền là 4.100.000.000đ, mục đích vay là để kinh doanh kinh doanh nông sản cà phê, ông Nguyễn Đăng N được cấp “Giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh” vào ngày 29/3/2022 với ngành nghề kinh doanh thu mua cà phê, phân bón. Để đảm bảo cho khoản vay trên hai bên có ký hợp đồng thế chấp tài sản là quyền sử dụng đất của vợ chồng ông N, bà T2. Do đến hạn trả nợ ông N, bà T2 không thực hiện đúng như nghĩa vụ đã cam kết mà để nợ lãi quá hạn. Vì vậy, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc vợ chồng ông N, bà T2 phải trả nợ gốc và nợ lãi; đồng thời, yêu cầu tiếp tục duy trì Hợp đồng thế chấp tài sản để đảm bảo cho việc thi hành án. Do đó, căn cứ vào khoản 1 Điều 30 của Bộ luật Tố tụng dân sự xác định đây là vụ án kinh doanh thương mại về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Về nội dung tranh chấp: Theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ cũng như lời trình bày tại phiên tòa của các đương sự thể hiện: Vào ngày 27/4/2022, Ngân hàng TMCP X – Chi nhánh L1 đã cấp tín dụng cho ông Nguyễn Đăng N, bà Thân Thị T2 theo hợp đồng tín dụng số 1202-LAV-220037096. Theo đó, đến ngày 25/4/2023 thì Ngân hàng đã giải ngân cho ông Nguyễn Đăng N, bà Thân Thị T2 theo Khế ước nhận nợ số 1202-LDS-230000650 ngày 25/4/2023 với số tiền vay là 4.100.000.000đ; mục đích vay bổ sung vốn kinh doanh nông sản cà phê; theo Khế ước nhận nợ này về thời hạn vay là 09 tháng; lãi suất cho vay 12%/năm; lãi suất
5
quá hạn 150% lãi suất cho vay theo quy định của Ngân hàng. Như vậy, việc vợ chồng ông N, bà T2 vay vốn của Ngân hàng là có xảy ra trên thực tế, việc hai bên ký kết hợp đồng là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với quy định của pháp luật. Quá trình vay vốn thì vợ chồng ông N, bà T2 đã trả được lãi cho Ngân hàng đến ngày 25/9/2023 sau đó thì không thực hiện đúng như nghĩa vụ đã cam kết mà để lãi quá hạn; mặc dù, đã được Ngân hàng Đ nhắc nhở nhiều lần nhưng không chịu trả nợ. Đồng thời, cũng không đồng ý bàn giao tài sản thế chấp để Ngân hàng xử lý thu hồi nợ là vi phạm nghĩa vụ. Do đó, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc vợ chồng ông N, bà T2 phải có nghĩa vụ trả số tiền nợ gốc vay 4.100.000.000đ là có cơ sở để chấp nhận.
[3.1] Đối với yêu cầu của Ngân hàng về việc yêu cầu vợ chồng ông N, bà T2 phải trả lãi cho Ngân hàng kể từ ngày 25/9/2023 cho đến ngày 30/7/2024 ngày xét xử sơ thẩm với số tiền là 608.616.192đ (trong đó lãi trong hạn 416.515.068đ, lãi quá hạn 192.101.124đ). Hội đồng xét xử xét thấy mức lãi suất mà Ngân hàng yêu cầu là dựa trên cơ sở thỏa thuận giữa hai bên theo hợp đồng tín dụng đã ký kết và phù hợp với quy định tại Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, phù hợp quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 91 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 (nay là Điều 99, Điều 100 và Điều 103 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2024). Do đó, cần chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng về việc yêu cầu vợ chồng ông N, bà T2 phải trả lãi theo hợp đồng tín dụng và khế ước nhận nợ đã ký kết tính đến ngày xét xử sơ thẩm với số tiền 608.616.192đ là phù hợp. Đồng thời, kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm vợ chồng ông N, bà T2 còn phải tiếp tục chịu lãi phát sinh theo mức lãi suất thỏa thuận mà hai bên đã ký kết trong hợp đồng cho đến khi vợ chồng ông N, bà T2 trả hết số tiền nợ gốc cho Ngân hàng.
[3.2] Đối với việc Ngân hàng yêu cầu Hội đồng xét xử tiếp tục duy trì hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất giữa vợ chồng ông N, bà T2 với Ngân hàng đối với Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 178-2022/EIBLDONG-CN/TCTS, được công chứng tại Phòng C tỉnh Lâm Đồng ngày 27/4/2022, số công chứng 937, quyển số 38TP/CC-SCC/HĐGD, đăng ký giao dịch bảo đảm tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện L ngày 27/4/2022 giữa vợ chồng ông Nguyễn Đăng N, bà Thân Thị T2 với Ngân hàng đối với diện tích đất 2260m², thửa số 425, tờ bản đồ 42 thị trấn N, huyện L, tỉnh Lâm Đồng theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CX 195349 do Sở Tài Nguyên và Môi trường tỉnh L cấp ngày 04/8/2020 cho ông Nguyễn Đăng N và đối với diện tích đất 641m², thửa số 132, tờ bản đồ 42 thị trấn N, huyện L, tỉnh Lâm Đồng theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BS 679619 do Ủy ban nhân dân huyện L, tỉnh Lâm Đồng cấp ngày 24/4/2014 cho ông Nguyễn Văn T3 đã được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện L điều chỉnh sang tên chủ sử dụng đất cho ông Nguyễn Đăng N, bà Thân Thị T2 ngày 02/5/2018. Hội đồng xét xử thấy rằng: Việc các bên ký kết các hợp đồng thế chấp là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với quy định của pháp luật, không trái đạo đức xã hội và hợp đồng thế chấp này đã được công chứng và đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật. Mặt khác, tại phiên tòa ông Nguyễn Đăng P1 khẳng định tài sản thế chấp vay là của vợ chồng ông N, bà T2 và quá trình giải quyết vụ án thì vợ chồng ông Nguyễn Văn M, bà Vũ Thị N1 trình bày nếu Tòa án
6
duy trì biện pháp thế chấp tài sản để thu hồi nợ cho Ngân hàng thì vợ chồng ông bà chấp hành bàn giao nhà cho cơ quan có thẩm quyền và chuyển đi nơi khác. Do đó, Ngân hàng yêu cầu tiếp tục duy trì các hợp đồng thế chấp là có cơ sở đế chấp nhận.
[4] Đối với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là vợ chồng ông Nguyễn Văn M, bà Vũ Thị N1 và ông Nguyễn Đăng P1 không có yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề gì trong vụ án này. Vì vậy, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[5] Về án phí: Do chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng nên buộc bị đơn vợ chồng ông N, bà T2 phải chịu 112.708.616đ tiền án phí kinh doanh thương mai sơ thẩm trên số tiền phải trả cho Ngân hàng (4.000.000.000đ = 112.000.000₫ phần vượt quá 4.000.000.000₫ x 0,1%). Hoàn trả cho Ngân hàng số tiền tạm ứng án phí đã tạm nộp.
[5] Về chi phí tố tụng: Xét thấy việc xem xét thẩm định tại chỗ là cần thiết cho việc giải quyết vụ án. Quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ngân hàng đã nộp tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ tài sản là 2.000.000đ (đã được quyết toán xong). Xét thấy, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên buộc bị đơn vợ chồng ông N, bà T2 phải hoàn trả lại cho Ngân hàng số tiền 2.000.000₫ tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ tài sản.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 30; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; các Điều 147; 157; 227, 228; 235 và Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Điều 463, 466, 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ các Điều 91, 95 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;
Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP X – Chi nhánh L1 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” với vợ chồng ông Nguyễn Đăng N, bà Thân Thị T2.
- Buộc vợ chồng ông Nguyễn Đăng N, bà Thân Thị T2 phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP X – Chi nhánh L1 số tiền nợ gốc là 4.100.000.000đ, tiền lãi tính đến ngày xét xử sơ thẩm (30/7/2024) là 608.616.192đ; tổng cộng cả gốc và lãi là 4.708.616.192đ (bốn tỷ, bảy trăm lẻ tám triệu, sáu trăm mười sáu nghìn, một trăm chín mươi hai đồng) Đồng thời, kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm vợ chồng ông Nguyễn Đăng N, bà Thân Thị T2 còn phải tiếp tục chịu lãi theo mức lãi suất mà các bên đã thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng số 1202-LAV-220037096 ngày 27/4/2022 và Khế ước nhận nợ số 1202-LDS-230000650 ngày 25/4/2023 cho đến khi trả xong nợ cho Ngân hàng TMCP X – Chi nhánh L1.
- Tiếp tục duy trì Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số số 178-2022/EIBLDONG công chứng tại Phòng C tỉnh Lâm Đồng ngày 27/4/2022, số công chứng 937, quyển số 38TP/CC-SCC/HĐGD, đăng ký giao dịch bảo đảm tại Chi nhánh Văn
7
phòng đăng ký đất đai huyện L ngày 27/4/2022 giữa vợ chồng ông Nguyễn Đăng N, bà Thân Thị T2 với Ngân hàng đối với diện tích đất 2260m², thửa số 425, tờ bản đồ 42 thị trấn N, huyện L, tỉnh Lâm Đồng theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CX 195349 do Sở Tài Nguyên và Môi trường tỉnh L cấp ngày 04/8/2020 cho ông Nguyễn Đăng N và đối với diện tích đất 641m², thửa số 132, tờ bản đồ 42 thị trấn N, huyện L, tỉnh Lâm Đồng theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BS 679619 do Ủy ban nhân dân huyện L, tỉnh Lâm Đồng cấp ngày 24/4/2014 cho ông Nguyễn Văn T3 đã được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện L điều chỉnh sang tên chủ sử dụng đất cho ông Nguyễn Đăng N, bà Thân Thị T2 ngày 02/5/2018 cho đến khi vợ chồng ông Nguyễn Đăng N, bà Thân Thị T2 trả xong số tiền nợ gốc và nợ lãi cho Ngân hàng TMCP X – Chi nhánh L1.
- Về án phí: Buộc vợ chồng ông Nguyễn Đăng N, bà Thân Thị T2 phải chịu 112.708.616đ (một trăm mười hai triệu, bảy trăm lẻ tám nghìn, sáu trăm mười sáu đồng) án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm. Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP X – Chi nhánh L1 56.098.000đ (năm mươi sáu triệu không trăm chín mươi tám nghìn đồng) tạm ứng án phí đã tạm nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0004554 ngày 20/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng.
- Về chi phí tố tụng: Buộc vợ chồng ông Nguyễn Đăng N, bà Thân Thị T2 phải hoàn trả lại cho Ngân hàng TMCP X – Chi nhánh L1 số tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ tài sản là 2.000.000đ (hai triệu đồng).
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (30/7/2024) nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo. Riêng người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Minh Huấn |
8
|
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Ngô Thị Luân - Phạm Ngọc Diện |
Trần Minh Huấn |
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
9
- - Các đương sự;
- - Lưu HS vụ án;
Trần Minh Huấn
10
Bản án số 02/2024/KDTM-ST ngày 30/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 02/2024/KDTM-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/07/2024
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Eximbank - Nghinh Thu
