Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

QUẬN LÊ CHÂN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Bản án số: 02/2024/KDTM-ST

Ngày: 29 - 05 - 2024

V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Sự.

Các Hội thẩm nhân dân.

Bà Hà Thị Nga

Bà Nguyễn Thị Mai

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Đức, Thư ký Tòa án nhân dân quận Lê Chân.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Mai Phương - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 05 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 15/2023/TLST-DS ngày 06 tháng 11 năm 2023 về việc Tranh chấp hợp đồng tín dụng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 192/2023/QĐXXST-DS ngày 13 tháng 03 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 247/2024/QĐST-DS ngày 28 tháng 03 năm 2024; Thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa số 268/2024/TB-TA ngày 09 tháng 04 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 302/2024/QĐST-DS ngày 17 tháng 04 năm 2024; Thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa số 365/2024/TB-TA ngày 07 tháng 05 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Công ty TNHH MTV Q của các Tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC); Địa chỉ trụ sở: Số B H, phường L, quận H, thành phố Hà Nội;

Người được uỷ quyền: Ngân hàng TMCP A (A1); Địa chỉ trụ sở: Tầng 1,2,3 Tòa nhà geleximco, số C H, phường Ô, quận Đ, thành phố Hà Nội (theo hợp đồng ủy quyền số 495/2023/UQ.VAMC-ABBANK ngày 17/08/2023 giữa VAMC và ngân hàng TMCP A)

Đại diện hợp pháp của Nguyên đơn: Ông Võ Đức T – Chuyên gia xử lý nợ Ban xử lý nợ - Ngân hàng TMCP A (Theo Giấy uỷ quyền số 673/UQ-TGĐ.23 ngày 26 tháng 09 năm 2023); có mặt

- Bị đơn:

Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1968; địa chỉ thường trú: Số E L, phường L, quận L, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

Bà Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1980; địa chỉ thường trú: Số D Chùa H, phường H, quận L, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 11 tháng 10 năm 2023, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn Công ty TNHH MTV Q của các Tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) do người đại diện theo ủy quyền trình bày:

Ông Nguyễn Văn T1 và bà Nguyễn Thị Thu H có quan hệ tín dụng với Ngân hàng TMCP A (A1) thông qua Hợp đồng tín dụng sau:

Hợp đồng cho vay hạn mức số 1237/22/TD/CN/143 ký ngày 01/07/2022, Số tiền vay: 2.300.000.000 đồng; mục đích vay: Tài trợ vốn lưu động kinh doanh vật liệu xây dựng; Thời hạn: 12 tháng kể từ ngày 01/07/2022 đến ngày 01/07/2023; phường thức giải ngân: A1 đã giải ngân toàn bộ khoản vay cho ông Nguyễn Văn T1 và bà Nguyễn Thị Thu H theo giấy nhận nợ số 1237/22/TD/CN/143.1 ngày 04/07/2022; Lãi suất trong hạn: Được quy định theo giấy nhận nợ số 1237/22/TD/CN/143.1 ngày 04/07/2022; Lãi suất quá hạn: 150% lãi suất trong hạn. Để thực hiện Thỏa thuận tín dụng trên A1 đã giải ngân cho Ông Nguyễn Văn T1 và bà Nguyễn Thị Thu H bằng phương thức chuyển tiền vào tài khoản thanh toán số 1431011295087; Tên đối tượng thụ hưởng: NGUYỄN THỊ TÌNH tại A1 – CN Hải Phòng thể hiện tại giấy nhận nợ số 1237/22/TD/CN/143.1 ngày 04/07/2022.

Để đảm bảo cho khoản vay trên tại A1, ông Nguyễn Văn T1 và bà Nguyễn Thị Thu H đã ký hợp đồng thế chấp bất động sản số 1237.1/22/TD/CN/143 công chứng số 13854/HĐTC/2022, quyển số 05 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 01/07/2022 để thế chấp tài sản là: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 777C, tờ bản đồ số 01, diện tích 216 m². Địa chỉ tại Xóm E, xã H, huyện T, thành phố Hải Phòng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất Số AE 050773 số vào sổ cấp GCN quyền sử dụng đất: 00402/H/2006 do UBND huyện T, thành phố Hải Phòng, cấp ngày 26/06/2006 cho ông Nguyễn Văn T1 và bà Nguyễn Thị T2. Ngày 13/09/2021, người sử dụng đất thay đổi từ ông Nguyễn Văn T1 và bà Nguyễn Thị T2 thành ông Nguyễn Văn T1. Tài sản được đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại Văn phòng Đ Chi nhánh huyện T, thành phố Hải Phòng.

Trong quá trình thực hiện Hợp đồng cho vay hạn mức số 1237/22/TD/CN/143 ông Nguyễn Văn T1 và bà Nguyễn Thị Thu H mới trả cho ngân hàng 81.734.601 tiền lãi trong hạn.

Kể từ khi ông T1, bà H vi phạm nghĩa vụ trả nợ, Ngân hàng đã nhiều lần xuống trực tiếp làm việc và gửi công văn đôn đốc nhưng phía ông T1, bà H không thực hiện nghĩa vụ trả nợ của mình. Do đó, căn cứ hợp đồng thoả thuận giữa hai bên về việc chấm dứt cho vay, thu hồi nợ trước hạn và chuyển nợ quá hạn. Ngày 17/08/2023, A1 đã bán toàn bộ khoản nợ của khách hàng ông Nguyễn Văn T1 và bà Nguyễn Thị Thu H cho Công ty TNHH MTV Q của các Tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) theo Hợp đồng mua, bán nợ số 494/2023/MBN.VAMC – A1 ngày 17 tháng 08 năm 2023. Theo Hợp đồng mua bán nợ này, A1 đã chuyển quyền chủ nợ của khoản nợ nêu trên cho VAMC. Cùng ngày, Công ty TNHH MTV Q của các Tổ chức tín dụng Việt Nam (V) đã ký hợp đồng ủy quyền số 495/2023/UQ.VAMC-A1. Theo đó A1 được thay mặt VAMC thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của VAMC đối với khoản nợ của khách hàng ông Nguyễn Văn T1 và bà Nguyễn Thị Thu H.

Nay VAMC khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông T1, bà H phải có trách nhiệm trả nợ cho VAMC toàn bộ khoản dư nợ gốc và lãi theo quy định tại Hợp đồng cho vay hạn mức số 1237/22/TD/CN/143 ký ngày 01/07/2022 và Giấy nhận nợ đã ký với A1 tính đến ngày xét xử 29/05/2024 là: 2.757.599.645₫ (Hai tỷ bảy trăm năm mươi bảy triệu năm trăm chín mươi chín nghìn sáu trăm bốn mươi năm) đồng. Trong đó: Nợ gốc: 2.300.000.000₫ (Hai tỷ ba trăm triệu) đồng; lãi trong hạn: 22.048.960đ (Hai mươi hai triệu không trăm bốn mươi tám nghìn chín trăm sáu mươi) đồng; lãi quá hạn: 435.550.685₫ (Bốn trăm ba mươi năm triệu năm trăm năm mươi nghìn sáu trăm tám mươi năm) đồng.

Thứ tự trả nợ như sau: Vốn gốc, lãi quá hạn, lãi trong hạn. Trường hợp ông T1, bà H không thực hiện nghĩa vụ trả nợ đúng và đầy đủ cho Ngân hàng thì tài sản bảo đảm được cơ quan có thẩm quyền xử lý để thu hồi nợ là: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 777C, tờ bản đồ số 01, diện tích 216 m2. Địa chỉ tại Xóm E, xã H, huyện T, thành phố Hải Phòng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất Số AE 050773 số vào sổ cấp GCN quyền sử dụng đất: 00402/H/2006 do UBND huyện T, thành phố Hải Phòng, cấp ngày 26/06/2006 cho ông Nguyễn Văn T1 và bà Nguyễn Thị T2. Ngày 13/09/2021, người sử dụng đất thay đổi từ ông Nguyễn Văn T1 và bà Nguyễn Thị T2 thành ông Nguyễn Văn T1. Hợp đồng thế chấp bất động sản số 1237.1/22/TD/CN/143 công chứng số 13854/HĐTC/2022, quyển số 05 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 01/07/2022. Toàn bộ số tiền thu được từ việc bán/xử lý tài sản bảo đảm được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ của ông Nguyễn Văn T1 và bà Nguyễn Thị Thu H tại VAMC. Nếu số tiền thu được từ bán/xử lý tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ thì ông Nguyễn Văn T1 và bà Nguyễn Thị Thu H vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ cho VAMC.

Bị đơn Ông Nguyễn Văn T1 có đăng ký hộ khẩu thường trú tại: Số E L, phường L, quận L, thành phố Hải Phòng và bà Nguyễn Thị Thu H có đăng ký hộ khẩu thường trú tại: Số D Chùa H, phường H, quận L, thành phố Hải Phòng. Quá trình giải quyết vụ án, Ông Nguyễn Văn T1 và bà Nguyễn Thị Thu H đã được Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, Giấy triệu tập, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo đúng quy định pháp luật, tuy nhiên ông T1, bà H đều vắng mặt không có lý do và cũng không có văn bản tài liệu nào gửi đến Tòa án trình bày quan điểm về việc khởi kiện tranh chấp hợp đồng tín dụng của Công ty TNHH MTV Q của các Tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC), vì vậy vụ án không tiến hành hòa giải được. Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa và thông báo thay đổi thời gian mở phiên toà cho ông T1, bà H tuy nhiên đến ngày mở phiên tòa ông T1, bà H vắng mặt không có lý do.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và ý kiến về việc giải quyết vụ án. Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự; bị đơn Ông Nguyễn Văn T1 và bà Nguyễn Thị Thu H, không tuân thủ các quy định của pháp luật theo quy định tại Điều 70, Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự, tại phiên tòa bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228; khoản 1 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 116, 117, 274, khoản 1 Điều 275, 463, 464, 465, 466, 467, 468, khoản 2 Điều 292, 317, 318, 319 của Bộ luật Dân sự 2015; Điều 90, 91, 94, 95 Luật Các Tổ chức Tín dụng; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Q1, xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bị đơn ông Nguyễn Văn T1 và bà Nguyễn Thị Thu H phải có trách nhiệm trả nợ cho Công ty TNHH MTV Q của các Tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) toàn bộ khoản nợ gốc và lãi tính đến ngày xét xử sơ thẩm 29/05/2024 số tiền tổng cộng là: 2.757.599.645₫ (Hai tỷ bảy trăm năm mươi bảy triệu năm trăm chín mươi chín nghìn sáu trăm bốn mươi năm) đồng. Trong đó: Nợ gốc: 2.300.000.000₫ (Hai tỷ ba trăm triệu) đồng; lãi trong hạn: 22.048.960đ (Hai mươi hai triệu không trăm bốn mươi tám nghìn chín trăm sáu mươi) đồng; lãi quá hạn: 435.550.685₫ (Bốn trăm ba mươi năm triệu năm trăm năm mươi nghìn sáu trăm tám mươi năm) đồng theo nội dung của hợp đồng cho vay hạn mức số 1237/22/TD/CN/143 ký ngày 01/07/2022 và giấy ghi nhận nợ đã ký với A1.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, Ông Nguyễn Văn T1 và bà Nguyễn Thị Thu H còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất hai bên đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng các bên có thỏa thuận về điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

Trong trường hợp ông Nguyễn Văn T1 và bà Nguyễn Thị Thu H không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ nêu trên thì VAMC có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự tiến hành kê biên, phát mại tài sản bảo đảm của khoản vay để xử lý thu hồi nợ cho Công ty TNHH MTV Q của các Tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC). Cụ thể tài sản đảm bảo sau: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 777C, tờ bản đồ số 01, diện tích 216 m². Địa chỉ tại Xóm E, xã H, huyện T, thành phố Hải Phòng thuộc quyền sở hữu, sử dụng của ông Nguyễn Văn T1.

Nếu số tiền thu được từ xử lý tài sản bảo đảm vẫn không đủ trả nợ cho Công ty TNHH MTV Q của các Tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) thì ông Nguyễn Văn T1 và bà Nguyễn Thị Thu H vẫn phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho VAMC cho đến khi tất toán toàn bộ khoản vay.

Về án phí: Bị đơn Ông Nguyễn Văn T1 và bà Nguyễn Thị Thu H phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về tố tụng:

[1] Về thẩm quyền và quan hệ pháp luật: Đây là tranh chấp hợp đồng tín dụng được ký kết giữa hai bên với mục đích phục vụ kinh doanh. Bị đơn ông Nguyễn Văn T1 có đăng ký hộ khẩu thường trú tại: Số E L, phường L, quận L, thành phố Hải Phòng và bà Nguyễn Thị Thu H có đăng ký hộ khẩu thường trú tại: Số D Chùa H, phường H, quận L, thành phố Hải Phòng. Căn cứ quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.

[2] Về tư cách tham gia tố tụng: Xét hợp đồng ủy quyền số 495/2023/UQ.VAMC-ABBANK ngày 17/08/2023 giữa VAMC và ngân hàng TMCP A và Giấy uỷ quyền số 673/UQ-TGĐ.23 ngày 26 tháng 09 năm 2023 là ủy quyền hợp lệ nên ông Võ Đức T có đủ tư cách đại diện nguyên đơn tham gia tố tụng tại Tòa án.

- Về việc vắng mặt của bị đơn

[3] Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng cho ông Nguyễn Văn T1 và bà Nguyễn Thị Thu H, triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên toà không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt Ông Nguyễn Văn T1 và bà Nguyễn Thị Thu H.

- Về yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn:

[4] Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa, trình bày của người được ủy quyền của nguyên đơn xác định: Hợp đồng cho vay hạn mức số 1237/22/TD/CN/143 ký ngày 01/07/2022 và Giấy nhận nợ đã ký với A1; giữa Ngân hàng TMCP A và Ông Nguyễn Văn T1, bà Nguyễn Thị Thu H tại thời điểm ký kết hợp đồng các bên tham gia ký kết hợp đồng có đủ năng lực hành vi dân sự, việc ký kết hợp đồng cho vay và thế chấp là hoàn toàn tự nguyện, các thỏa thuận có nội dung và mục đích để thực hiện nhu cầu của mỗi bên, không vi phạm điều cấm của Luật và không trái đạo đức xã hội, có nội dung và hình thức phù hợp với các quy định tại Điều 117, Điều 119 của Bộ luật dân sự. Do vậy Hợp đồng cho vay nêu trên là hợp pháp làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của các bên theo quy định tại Điều 385 của Bộ luật Dân sự.

Quá trình thực hiện Hợp đồng tín dụng, Ngân hàng đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ giải ngân cho Ông Nguyễn Văn T1 và bà Nguyễn Thị Thu H tổng số tiền là 2.300.000.000 (Hai tỷ ba trăm triệu) đồng theo giấy nhận nợ số 1237/22/TD/CN/143.1 ngày 04/07/2022 bằng phương thức chuyển tiền vào tài khoản thanh toán số 1431011295087; Tên đối tượng thụ hưởng: NGUYỄN THỊ TÌNH tại A1 – CN Hải Phòng thể hiện tại giấy nhận nợ số 1237/22/TD/CN/143.1 ngày 04/07/2022

Đối với Hợp đồng cho vay hạn mức số 1237/22/TD/CN/143 ký ngày 01/07/2022 và Giấy nhận nợ đã ký với A1 ông T1, bà H mới thanh toán trả cho Ngân hàng được 81,734,601 (Tám mươi mốt triệu bảy trăm ba mươi tư nghìn sáu trăm linh một nghìn) đồng tiền lãi trong hạn. Sau đó ông T1, bà H vi phạm nghĩa vụ trả nợ và Ngân hàng A1 đã chuyển nợ quá hạn và thu hồi nợ trước hạn đối với toàn bộ khoản vay chưa thanh toán với Hợp đồng tín dụng của Ông Nguyễn Văn T1 và bà Nguyễn Thị Thu H. Ngày 17/08/2023, A1 đã bán toàn bộ khoản nợ của khách hàng ông Nguyễn Văn T1 và bà Nguyễn Thị Thu H cho Công ty TNHH MTV Q của các Tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) theo Hợp đồng mua, bán nợ số 494/2023/MBN.VAMC – A1 ngày 17 tháng 08 năm 2023, theo Hợp đồng mua bán nợ này, A1 đã chuyển quyền chủ nợ của khoản nợ nêu trên cho VAMC. Cùng ngày, Công ty TNHH MTV Q của các Tổ chức tín dụng Việt Nam (V) đã ký hợp đồng ủy quyền số 495/2023/UQ.VAMC- A1. Theo đó A1 được thay mặt VAMC thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của VAMC đối với khoản nợ của khách hàng ông Nguyễn Văn T1 và bà Nguyễn Thị Thu H. Do đó Công ty TNHH MTV Q của các Tổ chức tín dụng Việt Nam (V) có quyền yêu cầu buộc ông T1, bà H phải có trách nhiệm thanh toán toàn bộ khoản dư nợ gốc và lãi theo quy định tại Hợp đồng cho vay hạn mức số 1237/22/TD/CN/143 ký ngày 01/07/2022 và Giấy nhận nợ đã ký với A1 tính đến ngày xét xử 29/05/2024.

Tại phiên tòa đại diện theo ủy quyền của Công ty TNHH MTV Q của các Tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) khởi kiện buộc ông Nguyễn Văn T1 và bà Nguyễn Thị Thu H phải trả số tiền dư nợ cho Ngân hàng A1 theo Hợp đồng cho vay hạn mức số 1237/22/TD/CN/143 ký ngày 01/07/2022 và Giấy nhận nợ đã ký với A1; tính đến ngày xét xử 29/05/2024 với tổng số tiền là: 2.757.599.645₫ (Hai tỷ bảy trăm năm mươi bảy triệu năm trăm chín mươi chín nghìn sáu trăm bốn mươi năm) đồng. Trong đó: Nợ gốc: 2.300.000.000₫ (Hai tỷ ba trăm triệu) đồng; lãi trong hạn: 22.048.960đ (Hai mươi hai triệu không trăm bốn mươi tám nghìn chín trăm sáu mươi) đồng; lãi quá hạn: 435.550.685₫ (Bốn trăm ba mươi năm triệu năm trăm năm mươi nghìn sáu trăm tám mươi năm) đồng.

[5] Xét hợp đồng mua bán nợ: Ngày 17 tháng 8 năm 2023 giữa Ngân hàng TMCP A (A1)Công ty TNHH MTV Q của các Tổ chức tín dụng Việt Nam (V) đã ký hợp đồng mua bán nợ số 494/2023/MBN.VAMC – A1 ngày 17/8/2023, nội dung hợp đồng xác nhận khoản nợ của ông Nguyễn Văn T1 và bà Nguyễn Thị Thu H đã được bán cho Công ty TNHH MTV Q của các Tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC). Vì vậy khoản nợ của ông Nguyễn Văn T1 và bà Nguyễn Thị Thu H đối với ngân hàng phát sinh từ Hợp đồng cho vay hạn mức số 1237/22/TD/CN/143 ký ngày 01/07/2022 đã được chuyển giao cho Công ty TNHH MTV Q của các Tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) số 494/2023/MBN.VAMC – A1

Xét thấy về chủ thể mua bán nợ theo hợp đồng mua bán nợ số 494/2023/MBN.VAMC – A1 giữa Công ty TNHH MTV Q của các Tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) và Ngân hàng TMCP A (A1) là hợp pháp và đúng quy định theo pháp luật, do đó Công ty TNHH MTV Q của các Tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) có quyền khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Văn T1 và bà Nguyễn Thị Thu H phải trả toàn bộ khoản dư nợ gốc và lãi theo quy định tại Hợp đồng cho vay hạn mức số 1237/22/TD/CN/143 ký ngày 01/07/2022 và Giấy nhận nợ đã ký với A1 là có căn cứ phù hợp với pháp luật

[6] Về yêu cầu tính lãi: Tại phiên tòa đại diện hợp pháp của nguyên đơn đề nghị ông T1, bà H phải thanh toán số tiền lãi trong hạn, lãi quá hạn và lãi được tính trên cơ sở thỏa thuận giữa hai bên theo hợp đồng cho vay hạn mức cũng như thỏa thuận tại bảng biểu tính phí và lãi suất giữa hai bên để thu hồi nợ. Xét yêu cầu tính lãi của VMAC là hoàn toàn phù hợp với thỏa thuận của hai bên trong Hợp đồng tín dụng và Giấy nhận nợ, phù hợp với pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận và buộc ông T1, bà H phải thanh toán các khoản tiền lãi trong hạn và lãi quá hạn theo thỏa thuận đã được ký kết tại Hợp đồng tín dụng và Giấy nhận nợ.

Từ các chứng cứ, tài liệu đã được xem xét, căn cứ các Điều 117, 466 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 90, Điều 91, 94 Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của Công ty TNHH MTV Q của các Tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) buộc Ông Nguyễn Văn T1 và bà Nguyễn Thị Thu H phải trả cho VAMC số tiền dư nợ theo Hợp đồng cho vay hạn mức số 1237/22/TD/CN/143 ký ngày 01/07/2022 và Giấy nhận nợ; tính đến ngày xét xử 29/5/2024 với tổng số tiền là: 2.757.599.645đ (Hai tỷ bảy trăm năm mươi bảy triệu năm trăm chín mươi chín nghìn sáu trăm bốn mươi năm) đồng. Trong đó: Nợ gốc: 2.300.000.000₫ (Hai tỷ ba trăm triệu) đồng; lãi trong hạn: 22.048.960₫ (Hai mươi hai triệu không trăm bốn mươi tám nghìn chín trăm sáu mươi) đồng; lãi quá hạn: 435.550.685₫ (Bốn trăm ba mươi năm triệu năm trăm năm mươi nghìn sáu trăm tám mươi năm) đồng.

[7] Về yêu cầu xử lý tài sản thế chấp: Để bảo đảm Hợp đồng cho vay hạn mức, Ngân hàng TMCP A (A1) và ông Nguyễn Văn T1, bà Nguyễn Thị Thu H có giao kết Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 1237.1/22/TD/CN/143 đối với đất và tài sản gắn liền với đất là: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 777C, tờ bản đồ số 01, diện tích 216 m². Địa chỉ tại Xóm E, xã H, huyện T, thành phố Hải Phòng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất Số AE 050773 số vào sổ cấp GCN quyền sử dụng đất: 00402/H/2006 do UBND huyện T, thành phố Hải Phòng, cấp ngày 26/06/2006 cho ông Nguyễn Văn T1 và bà Nguyễn Thị T2. Ngày 13/09/2021, người sử dụng đất thay đổi từ ông Nguyễn Văn T1 và bà Nguyễn Thị T2 thành ông Nguyễn Văn T1. Hợp đồng thế chấp đã được công chứng ngày 01/7/2022 tại Văn phòng Công chứng công chứng đất cảng, số Công chứng: 13854/HĐTC/2022, quyển số 05 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 01/07/2022 và đã được đăng ký giao dịch bảo đảm phù hợp với các quy định của pháp luật.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã ra quyết định xem xét thẩm định tại chỗ đối với tài sản thế chấp trên. Để đảm bảo quyền lợi và nghĩa vụ của các bên đương sự, Tòa án đã triệu tập ông T1, bà H là chủ sử dụng hợp pháp tài sản thế chấp đến lần thứ 2 nhưng ông T1, bà H vẫn vắng mặt không có lý do. Vì vậy Tòa án đã tiến hành thực hiện quyết định xem xét thẩm định tại chỗ vắng mặt ông T1, bà H với hình thức xác định phía bên ngoài đối với tài sản thế chấp. Qua kết quả xem xét thẩm định tại chỗ tài sản thế chấp không có gì thay đổi so với thời điểm ký hợp đồng thế chấp giữa các bên.

Hội đồng xét xử xét thấy, việc thế chấp tài sản giữa các bên là hoàn toàn tự nguyện, Ông Nguyễn Văn T1 và bà Nguyễn Thị Thu H đã ký Hợp đồng thế chấp để đảm bảo cho khoản vay tại Ngân hàng A1, trong trường hợp ông T1, bà H phát sinh nợ quá hạn không thanh toán được cho Ngân hàng. Nay Công ty TNHH MTV Q của các Tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) yêu cầu xử lý tài sản thế chấp, yêu cầu Cơ quan có thẩm quyền kê biên, phát mại tài sản bảo đảm trên để thu hồi nợ. Căn cứ vào các Điều 292, 295, 298, 303, 307, 323 của Bộ luật dân sự nên cần được chấp nhận.

[8] Xét hợp đồng mua bán nợ số 494/2023/MBN.VAMC – A1 ngày 17/8/2023 được ký kết giữa người đại diện hợp pháp của Công ty TNHH MTV Q của các Tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) và Ngân hàng TMCP A, có đóng dấu xác nhận của Công ty TNHH MTV Q của các Tổ chức tín dụng Việt Nam và Ngân hàng TMCP A. Xét tại thời điểm các bên ký hợp đồng mua bán nợ với nhau, các bên đêu có đủ năng lực hành vi dân sự, được xác lập trên cơ sở tự nguyện và bình đẳng, không bên nào bị lừa dối hoặc bị ép buộc mục đích và nội dung của hợp đồng không vi phạm điều cấm, không trái đạo đức xã hội, phù hợp với quy định tại Điều 117, Điều 401 của Bộ luật Dân sự

[9] Về nghĩa vụ chịu án phí: Căn cứ khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

- Bị đơn Ông Nguyễn Văn T1 và bà Nguyễn Thị Thu H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

- Trả lại cho Công ty TNHH MTV Q của các Tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228; khoản 1 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ vào các Điều 117, khoản 1 Điều 275, Điều 466, khoản 2 Điều 292, 295, 298, 303, 307 và Điều 323 của Bộ luật Dân sự 2015; Căn cứ vào các Điều 90, 91, 94, 95 Luật Các Tổ chức Tín dụng; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Q1, xử:

Xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH MTV Q của các Tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC): Buộc bị đơn Ông Nguyễn Văn T1 và bà Nguyễn Thị Thu H phải trả cho Công ty TNHH MTV Q của các Tổ chức tín dụng Việt Nam (V) số tiền nợ theo Hợp đồng cho vay hạn mức số 1237/22/TD/CN/143 ký ngày 01/07/2022 và Giấy nhận nợ tính đến ngày 29/5/2024 là: 2.757.599.645đ (Hai tỷ bảy trăm năm mươi bảy triệu năm trăm chín mươi chín nghìn sáu trăm bốn mươi năm) đồng. Trong đó: Nợ gốc: 2.300.000.000₫ (Hai tỷ ba trăm triệu) đồng; lãi trong hạn: 22.048.960đ (Hai mươi hai triệu không trăm bốn mươi tám nghìn chín trăm sáu mươi) đồng; lãi quá hạn: 435.550.685₫ (Bốn trăm ba mươi năm triệu năm trăm năm mươi nghìn sáu trăm tám mươi năm) đồng.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, ông Nguyễn Văn T1 và bà Nguyễn Thị Thu H còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất hai bên đã thỏa thuận trong chấp đồng tín dụng. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng các bên có thỏa thuận về điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Công ty cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Công ty cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Công ty cho vay nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật.

Trường hợp ông Nguyễn Văn T1 và bà Nguyễn Thị Thu H không trả nợ hoặc trả nợ không đầy đủ cho Công ty TNHH MTV Q của các Tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) thì Công ty TNHH MTV Q của các Tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) có quyền đề nghị Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mại tài sản thế chấp: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 777C, tờ bản đồ số 01, diện tích 216 m². Địa chỉ tại Xóm E, xã H, huyện T, thành phố Hải Phòng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất Số AE 050773 số vào sổ cấp GCN quyền sử dụng đất: 00402/H/2006 do UBND huyện T, thành phố Hải Phòng, cấp ngày 26/06/2006 cho ông Nguyễn Văn T1 và bà Nguyễn Thị T2. Ngày 13/09/2021, người sử dụng đất thay đổi từ ông Nguyễn Văn T1 và bà Nguyễn Thị T2 thành ông Nguyễn Văn T1. Hợp đồng thế chấp đã được công chứng ngày 01/7/2022 tại Văn phòng Công chứng công chứng đất cảng, số Công chứng: 13854/HĐTC/2022, quyển số 05 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 01/07/2022.

Nếu sau khi xử lý tài sản bảo đảm, số tiền thu được dùng để trả khoản nợ của ông Nguyễn Văn T1 và bà Nguyễn Thị Thu H cho Công ty TNHH MTV Q của các Tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) mà còn thừa thì được trả lại cho bên thế chấp, còn nếu số tiền thu được từ việc xử lý tài sản thế chấp không đủ trả nợ cho Công ty TNHH MTV Q của các Tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) thì ông Nguyễn Văn T1 và bà Nguyễn Thị Thu H phải trả tiếp phần còn thiếu đó cho đến khi thanh toán hết khoản nợ.

Về án phí: Bị đơn Ông Nguyễn Văn T1 và bà Nguyễn Thị Thu H phải nộp 87.151.993 (T3 mươi bảy triệu một trăm năm mươi mốt nghìn chín trăm chín mươi ba) đồng án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại cho Công ty TNHH MTV Q của các Tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) số tiền tạm ứng án phí đã nộp là: 41.262.133đ (Bốn mươi mốt triệu hai trăm sáu mươi hai nghìn một trăm ba mươi ba) đồng tại Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0005699 ngày 03 tháng 11 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.

Về quyền kháng cáo bản án: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 của Luật thi hành án dân sự ; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND quận Lê Chân;
  • - Chi cục thi hành án dân sự quận Lê Chân;
  • - Lưu: HS, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Sự

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 02/2024/KDTM-ST ngày 29/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 02/2024/KDTM-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/05/2024
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Công ty TNHH MTV quản lý các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) - Nguyễn Văn T, Nguyễn Thị Thu H tranh chấp hợp đồng tính dụng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger