|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TU MƠ RÔNG TỈNH KON TUM |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 02/2024/HSST Ngày: 28/08/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TU MƠ RÔNG - TỈNH KON TUM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Thị Bình Thanh;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thuận Hóa và ông A Vơn
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Chí Dũng - Thư ký, Tòa án nhân dân huyện Tu Mơ Rông, tỉnh Kon Tum;
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tu Mơ Rông tham gia phiên toà: Ông Trần Ngọc Thành - Kiểm sát viên.
Ngày 28/08/2024 tại Hội trường Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện T, tỉnh Kon Tum, Tòa án nhân dân huyện Tu Mơ Rông mở phiên tòa xét xử lưu động công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 02/2024/TLST-HS ngày 24/07/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2024/QĐXXST-HS, ngày 13/08/2024 đối với các bị cáo:
- A N (Tên gọi khác: Không), sinh ngày 21/11/1971 tại Kon Tum. Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn K, xã Đ, huyện T, tỉnh Kon Tum. Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ văn hóa: 5/12; Dân tộc: Xơ đăng; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Số căn cước công dân [...]; Con ông A B, sinh năm 1930 (đã chết) và bà Y B1, sinh năm 1948; Vợ Y T, sinh năm 1975, trú tại: Thôn K, xã Đ, huyện T, tỉnh Kon Tum. Có 02 con, con lớn sinh năm 1995, con nhỏ sinh năm 1998. Bị cáo là đảng viên, đã bị đình chỉ sinh hoạt Đảng ngày 30/07/2024. Tiền án, Tiền sự: Không. Bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 30/5/2024 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
- A N1 (Tên gọi khác: Không), sinh ngày 10/5/1986 tại Kon Tum. Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn K, xã Đ, huyện T, tỉnh Kon Tum. Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ văn hóa: 10/12; Dân tộc: Xơ đăng; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Số căn cước công dân [...]; Con ông A B, sinh năm 1930 (đã chết) và bà Y B1, sinh năm 1948; Vợ Y Đ, sinh năm 1990, trú tại: Thôn K, xã Đ, huyện T, tỉnh Kon Tum. Có 02 con, con lớn sinh năm 2008, con nhỏ sinh năm 2015. Bị cáo là đảng viên, đã bị đình chỉ sinh hoạt Đảng ngày 30/07/2024. Tiền án, Tiền sự: Không. Bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 30/5/2024 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
- A T1 (Tên gọi khác: Không), sinh ngày 19/01/2004 tại Kon Tum. Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn K, xã Đ, huyện T, tỉnh Kon Tum. Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ văn hóa: 8/12; Dân tộc: Xơ đăng; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Số căn cước công dân [...]; Con ông A N2, sinh năm 1979 và bà Y D, sinh năm 1975 (đã chết); Bị cáo chưa có vợ, con. Tiền án, Tiền sự: Không. Bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 30/5/2024 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa cho các bị cáo: ông Nguyễn Văn Đ1 – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh K;
Địa chỉ: Trung tâm trợ giúp pháp lý tỉnh K. Có mặt tại phiên tòa.
- Người bị hại:
-
Hộ ông A V và bà Y G
Người đại diện theo ủy quyền là ông A V, sinh năm 1961 (Có mặt);
Trú tại: Thôn Kạch Lớn 2, xã Đăk Sao, huyện Tu Mơ Rông, tỉnh Kon Tum
-
Hộ ông A H và bà Y P
Người đại diện theo ủy quyền là ông A H, sinh năm 1979 (Có mặt);
Trú tại: Thôn K, xã Đ, huyện T, tỉnh Kon Tum.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện T, tỉnh Kon Tum.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn B2, Chủ tịch UBND xã Đ, huyện T, tỉnh Kon Tum. Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng đầu tháng 3/2024, A N gặp A N1 và A T1 cùng trú thôn K, xã Đ, huyện T để trao đổi là đi lên rừng phát rẫy lấy đất sản xuất nông nghiệp thì cả ba đồng ý. Sau khi thống nhất, A N, A N1, A T1 đã đi đến các lô 6, lô 32 khoảnh 8 Tiểu khu 210 rừng tự nhiên, chức năng sản xuất thuộc địa giới hành chính xã Đ, huyện T thuộc lâm phần do các hộ gia đình A V, A H quản lý cùng nhau phát rừng. A N, A N1, A T1 đã sử dụng loại dao rựa phát liên tục hơn 10 ngày (trong khoảng thời gian từ ngày 01 đến ngày 12/03/2024- có nghỉ 01 ngày khoảng ngày 08/03/2024) đã phát được diện tích 14.700m² thì bị lực lượng chức năng phát hiện. Trong đó diện tích rừng tự nhiên, chức năng sản xuất bị hủy hoại do hộ gia đình A V được giao quản lý là 10.100m² và hộ gia đình A H được giao quản lý là 4.600m². Quá trình xác minh, điều tra, A N, A N1, A T1 đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội.
Căn cứ kết quả kiểm kê rừng năm 2014 và Biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 20/03/2024 xác định diện tích mà các đối tượng hủy hoại thuộc lô 6, lô 32 khoảnh 8 Tiểu khu B thuộc rừng tự nhiên, chức năng sản xuất, trạng thái rừng thường xanh phục hồi với diện tích 14.700 m².
Công văn số: 500/CCKL-SDPTR ngày 08/4/2024 của Chi cục Kiểm lâm tỉnh K kết luận: Đối tượng rừng bị phá không có thiệt hại về gỗ; Không có cơ sở pháp lý cũng như cơ sở khoa học để xác định thiệt hại giá trị về môi trường rừng và tại bản Kết luận định giá tài sản số: 06/KL-HĐ ngày 08/05/2024 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện T kết luận: không đủ cơ sở để xác định giá trị thiệt hại của diện tích rừng bị chặt phá; Không có thiệt hại.
Bản cáo trạng số: 02/CT-VKS ngày 22/07/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tu Mơ Rông truy tố các bị cáo A N, A N1, A T1 về tội “Hủy hoại rừng” quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 243 Bộ luật hình sự.
Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo A N, A N1, A T1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với lời khai của những bị hại và các tài liệu có tại hồ sơ vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tu Mơ Rông sau phần xét hỏi và tranh luận vẫn giữ nguyên quyết định truy tố như cáo trạng đã nêu. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo A N, A N1 và A T1 phạm tội “Hủy hoại rừng”. Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Quá trình điều tra, truy tố và xét xử các bị cáo luôn thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tích cực khắc phục hậu quả, những người bị hại cũng có một phần lỗi và đều xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Riêng bị cáo A N và A N1 có bố mẹ là người có công với cách mạng. Do đó, đề nghị HĐXX áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 243; Điều 17, Điều 38; Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo A N từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù; Xử phạt bị cáo A N1 từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù; Xử phạt bị cáo A T1 từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.
Thời hạn tù của các bị cáo tính từ ngày chấp hành án. Các bị cáo có hoàn cảnh khó khăn nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Về vật chứng của vụ án: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra xác định 01 (một) dao rựa tự chế chiều dài 57cm (lưỡi dao làm bằng thép có chiều dài 27cm, đầu mũi dao cong, bề rộng dao 4cm, bề dày 0,3cm, cán dao làm bằng tre chiều dài 30cm, đường kính 3cm, một đầu có gắn chuôi dao bằng thép); 01 (một) dao rựa tự chế chiều dài 53cm (lưỡi dao làm bằng thép có chiều dài 27cm, đầu mũi dao cong, bề rộng dao 3,5cm, bề dày 0,3cm, cán dao làm bằng tre chiều dài 26cm, đường kính 2,5cm, một đầu có gắn chuôi dao bằng inox) đây là tài sản riêng của bị cáo A N và A T1. Hiện hai con dao rựa tự chế đã bị rỉ sét, không còn giá trị sử dụng nên đề nghị HĐXX tuyên tịch thu, tiêu hủy.
Riêng đối với 01 con dao rựa (dài khoảng hơn 50cm có lưỡi làm bằng kim loại) của A N1 sử dụng để phát rừng, sau khi phát xong A N1 đã đánh rơi ở rừng. Cơ quan điều tra đã tổ chức truy tìm nhưng không thấy nên đề nghị không xem xét.
Về trách nhiệm dân sự: Các bị cáo A N, A N1 và A T1 đóng góp 1.000.000 đồng mua 1.500 cây thông một năm tuổi để trồng kín trên diện tích bị hủy hoại nhằm khắc phục một phần hậu quả. Những người bị hại không có yêu cầu gì về phần này nên đề nghị HĐXX không xem xét.
Các bị cáo và người bào chữa cho các bị cáo nhất trí với luận tội của đại diện Viện kiểm sát và các tình tiết giảm nhẹ và đề nghị HĐXX cân nhắc cho các bị cáo được hưởng mức án thấp nhất vì các bị cáo có nhân thân tốt, đã tự nguyện khắc phục hậu quả, có người thân là người có công cách mạng, người bị hại cũng xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Đồng thời, các bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng đặc biệt khó khăn và đều có đơn xin miễn án phí nên đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo.
Các bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo A N, A N1 và A T1 nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật, xin Hội đồng xét giảm nhẹ hình phạt để các bị cáo tích cực học tập, cải tạo trở thành người tốt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thẩm quyền, thủ tục tố tụng: Vụ án xảy ra tại xã Đ, huyện T, tỉnh Kon Tum nên thuộc thẩm quyền giải quyết, xét xử của Tòa án nhân dân huyện Tu Mơ Rông theo quy định tại Điều 268, 269 Bộ luật tố tụng hình sự.
Cơ quan điều tra Công an huyện T, điều tra viên; Viện kiểm sát và kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự và thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo cũng như những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[2] Về căn cứ định tội, định khung hình phạt: Quá trình xét hỏi công khai tại phiên tòa, các bị cáo A N, A N1 và A T1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai của những người bị hại cũng như các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã đủ cơ sở để khẳng định: Biết rõ việc phát rừng làm nương rẫy bị pháp luật nghiêm cấm nhưng để có đất sản xuất nông nghiệp, vào khoảng đầu tháng 3/2024, A N, A N1 và A T1 đã cùng nhau phát rừng tại các lô 6, lô 32 khoảnh 8 tiểu khu B rừng tự nhiên, chức năng sản xuất thuộc địa giới hành chính xã Đ, huyện T thuộc lâm phần do các hộ gia đình A V, A H quản lý. Các bị cáo đã thực hiện hành vi hủy hoại diện tích rừng tự nhiên, chức năng sản xuất với tổng diện tích 14.700m². Hành vi của các bị cáo là lỗi cố ý trực tiếp, xâm phạm các quy định của Nhà nước về quản lý, bảo vệ rừng, khi phạm tội các bị cáo đều đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự nên bị VKSND huyện Tu Mơ Rông truy tố về tội Hủy hoại rừng theo điểm đ khoản 2 Điều 243 BLHS là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Mặc dù các bị cáo không có sự phân công, bàn bạc, cấu kết chặt chẽ nhưng sau lời khởi xướng của A N thì A N1 và A T1 đồng ý và cùng nhau thực hiện hành vi chặt phá rừng nên các bị cáo cùng phải chịu trách nhiệm với vai trò đồng phạm theo quy định tại Điều 17 Bộ luật hình sự.
[3] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử các bị cáo luôn thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; các bị cáo tự nguyện đóng góp 1.000.000 đồng mua 1.500 cây thông một năm tuổi để trồng lại trên diện tích bị hủy hoại nhằm khắc phục một phần hậu quả, người bị hại cũng có một phần lỗi là không thường xuyên tuần tra bảo vệ rừng nên không kịp thời phát hiện, ngăn chặn vi phạm và những người bị hại đều xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo; các bị cáo có nhân thân tốt, bị cáo A N, A N1 là anh em ruột, có bố và mẹ tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước, được tặng thưởng huân chương kháng chiến hạng nhất và hạng ba nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS.
Đồng thời cũng phân hóa rõ vai trò của các bị cáo để áp dụng mức hình phạt phù hợp. Bị cáo A N là người khởi xướng và cũng là người thực hành tích cực, khi phạm tội bị cáo là đảng viên nhưng không gương mẫu mà lại rủ rê người khác cùng thực hiện hành vi phạm tội nên phải chịu mức hình phạt cao hơn so với các bị cáo khác. Bị cáo A N1 cũng là đảng viên, có hiểu biết pháp luật nhưng khi nghe A N khởi xướng việc phát rừng đã không ngăn cản mà đồng ý cùng đi phát rừng lẽ ra cũng phải chịu mức hình phạt nghiêm khắc, nhưng xét thấy A N, A N1 là anh em ruột, còn mẹ già phải nuôi dưỡng, chăm sóc, bị cáo A T1 là cháu ruột của A N, A N1 có bố bỏ đi từ nhỏ, mẹ vừa mới mất, thiếu sự quan tâm, chăm sóc của gia đình và hiểu biết pháp luật hạn chế nên HĐXX cân nhắc mức hình phạt thấp hơn bị cáo A N. Các bị cáo đều có hai tình tiết giảm nhẹ ở khoản 1 và nhiều tình tiết giảm nhẹ ở khoản 2 Điều 51 BLHS nên HĐXX cân nhắc cho các bị cáo được hưởng mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng theo quy định tại Điều 54 BLHS để các bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà tích cực học tập, cải tạo trở thành người có ích cho xã hội.
[4] Về trách nhiệm dân sự và các vấn đề khác:
Các bị cáo A N, A N1 và A T1 tự nguyện đóng góp 1.000.000 (Một triệu) đồng; đại diện bị hại là A H, A V góp 1.000.000đ nhờ UBND xã Đ, huyện T mua 1.500 cây thông một năm tuổi và cùng nhau đi trồng kín diện tích rừng đã chặt phá dưới sự giám sát của UBND xã Đ, huyện T. Người bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì về phần này nên HĐXX không xem xét.
Các bị cáo đều không có việc làm ổn định, điều kiện kinh tế khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
Trong vụ án này còn có các hộ gia đình A V, A H được giao trực tiếp quản lý, bảo vệ rừng. Mặc dù được nhận tiền dịch vụ môi trường rừng hằng năm nhưng các hộ gia đình đã không tổ chức tuần tra kịp thời dẫn đến các bị can hủy hoại rừng, trong đó hộ gia đình A V bị hủy hoại là 10.100m² và hộ gia đình A H bị hủy hoại là 4.600 m². Tuy nhiên kết quả khám nghiệm hiện trường xác định các cây rừng bị chặt hạ chủ yếu là tre, nứa và một số cây rừng nhỏ đường kính gốc chặt từ 5cm đến 10cm. Tại công văn phúc đáp của Chi cục kiểm lâm tỉnh K kết luận đối tượng rừng bị phá không có trữ lượng gỗ, không có thiệt hại về môi trường rừng. Kết luận định giá tài sản kết luận không đủ cơ sở để xác định giá trị thiệt hại của diện tích rừng bị chặt phá. Vì vậy Cơ quan Cảnh sát điều tra không xử lý trách nhiệm hình sự đối với chủ rừng về tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng là có căn cứ.
[5] Về vật chứng của vụ án:
Đối với 01 (một) dao rựa có chiều dài 57cm và 01 (một) dao rựa có chiều dài 53cm (Các vật chứng có đặc điểm giống như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 23/07/2024 giữa Công an huyện T và Chi cục thi hành án dân sự huyện Tu Mơ Rông, tỉnh Kon Tum) mà các bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi hủy hoại rừng, đây là tài sản riêng của bị cáo A N và A T1. Hiện 02 (hai) con dao rựa này đã bị rỉ sét, không còn giá trị sử dụng nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự để tuyên tịch thu, tiêu hủy.
[6] Về án phí: Tại phiên tòa, các bị cáo A N, A N1 và A T1 có đơn xin miễn án phí hình sự sơ thẩm. Xét thấy, các bị cáo đều là người đồng bào dân tộc thiểu số, sống ở xã có điều kiện kinh tế- xã hội đặc biệt khó khăn, do vậy cần áp dụng điểm đ khoản 1 điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án để miễn án phí hình sự cho các bị cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Áp dụng điểm đ khoản 2 điều 243; Điều 17; Điều 38; Điểm b, s khoản 1, khoản 2 điều 51; Điều 54 Bộ luật hình sự.
- - Tuyên bố các bị cáo A N, A N1 và A T1 phạm tội “Hủy hoại rừng”.
- - Xử phạt bị cáo A N 02 (Hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày đi chấp hành án.
- - Xử phạt bị cáo A N1 02 (Hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày đi chấp hành án.
- - Xử phạt bị cáo A T1 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày đi chấp hành án.
[2] Về vật chứng của vụ án: Căn cứ Điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên tịch thu, tiêu hủy 01 (một) dao rựa có chiều dài 57cm và 01 (một) dao rựa có chiều dài 53cm.
(Các vật chứng có đặc điểm giống như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 23/07/2024 giữa Công an huyện T và Chi cục thi hành án dân sự huyện Tu Mơ Rông, tỉnh Kon Tum).
[3] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Khoản 1 điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Các bị cáo A N, A N1 và A T1 được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
[4] Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự. Các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (28/08/2024).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trịnh Thị Bình Thanh |
8
Bản án số 02/2024/HSST ngày 28/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TU MƠ RÔNG - TỈNH KON TUM về hình sự sơ thẩm (tội hủy hoại rừng)
- Số bản án: 02/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tội Hủy hoại rừng)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TU MƠ RÔNG - TỈNH KON TUM
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: A Nhe, A Nhan và A Thọ phạm tội “Hủy hoại rừng”
