|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO YÊN TỈNH LÀO CAI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 02/2024/HSST
Ngày 25/4/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO YÊN
Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Mạnh Thắng.
- - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Long Trọng Nhiên và ông Nguyễn Khắc Nam.
- - Thư ký phiên toà: Ông Hoàng Văn Cường – Thư ký TAND huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai;
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai tham gia phiên toà: Bà Hồ Hà Hải Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 25/4/2024, tại nhà văn hóa thôn M, xã Y, huyện B, tỉnh Lào Cai xét xử sơ thẩm lưu động, công khai vụ án hình sự thụ lý số 02/2024/HSST ngày 15/3/2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn T; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 09 tháng 10 năm 1959 tại huyện D, tỉnh Hà Nam; Nơi cư trú: Bản B, xã B, huyện B, tỉnh Lào Cai; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 3/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông: Nguyễn Văn P, sinh năm 1932 (Đã chết); Con bà: Lưu Thị Đ, sinh năm 1935; Gia đình bị cáo có 7 anh em, bị cáo là con thứ hai; Vợ là: Nguyễn Bích L, sinh năm 1959; Bị cáo có 03 con, con lớn nhất sinh năm 1988, con nhỏ sinh năm 1991;
Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 29/11/2016 bị Tòa án nhân dân huyện Bảo Yên, xử phạt 02 (hai) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, Ngày 19/6/2019 bị Tòa án nhân dân huyện Bảo Yên xử phạt 01 (một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Bị cáo Nguyễn Văn T bị tạm giữ từ ngày 18/12/2023 tại Nhà tạm giữ Công an huyện B, tỉnh Lào Cai. Có mặt tại phiên tòa.
* Người chứng kiến: Ông Trương Văn T1, sinh năm 1972; Địa chỉ: Bản B, xã B, huyện B, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 12 giờ 50 phút ngày 18/12/2023, Công an huyện B phát hiện Giàng Văn H tàng trữ 0,06 gam H1 (H khai là mua của Nguyễn Văn T, sinh năm 1959 ở bản B, xã B, huyện B, tỉnh Lào Cai). Cùng ngày Công an huyện B tiến hành khám xét khẩn cấp người, chỗ ở đối với Nguyễn Văn T phát hiện thu giữ: số tiền 200.000 đồng gồm 02 tờ tiền mệnh giá 100.000đ ở túi quần bên phải T đang mặc (T khai là tiền T bán ma túy cho H); Thu giữ tại tất chân trái T đang đeo 01 túi díp, bên trong túi díp có 04 gói giấy, bên trong 04 gói giấy chứa chất bột khô, vón cục màu trắng; Thu giữ tại túi áo ngực treo trên móc áo phía ngoài cửa phòng ngủ 01 gói giấy, bên trong gói giấy là chất bột khô, vón cục màu trắng; Thu giữ ở ổ gà gần bể nước nhà T 01 gói giấy, bên trong chứa chất bột khô, vón cục màu trắng; Tổng khối lượng 06 gói nhỏ thu giữ có khối lượng là 0,34 gam (T khai là Hêrôin T mua về để bán kiếm lời). Quá trình điều tra T khai nhận: Vào khoảng 16 giờ ngày 16/12/2023 T đi bộ từ nhà theo đường tỉnh lộ 161 thì gặp một người đàn ông đi xe mô tô, T vẫy tay xin đi nhờ về hướng xã T, huyện V. Khi đi đến xã T, huyện V, T bảo người đàn ông dừng xe, T đứng ở lề đường thì có một người đàn ông xe ôm đi đến hỏi “Chú đi đâu”, T trả lời “Không đi đâu, mày biết chỗ nào có hàng thì mua hộ tao mấy con” người xe ôm nói “chú ở đây thôi, mình cháu đi”. Sau đó bị cáo T lấy 700.000 đồng đưa cho người xe ôm, người này cầm tiền đi khoảng 15 phút quay lại đưa cho T 01 túi díp bằng nilon trong suốt bên trong có 07 gói giấy. T đưa cho người xe ôm 50.000 đồng. Thấy người đàn ông lúc trước chở T đi đến, T xin đi nhờ về nhà. Đến tối ngày 16/12/2023 T mở túi díp đựng 07 gói ma túy vừa mua được, lấy 01 gói ma túy mở ra lấy một ít ra sử dụng, số chất bột khô vón cục màu trắng còn lại Tuấn gói lại như cũ, rồi cất vào túi áo ngực bên trái đang treo ở móc cạnh cửa phòng ngủ. Xong T lấy 01 gói giấy trong túi díp cất dấu ở ổ gà có rơm gần bể nước nhà T. Còn lại 05 gói giấy bên trong một túi díp T đút trong túi quần bên phải đang mặc rồi đi ngủ. Đến khoảng 12h30 phút ngày 18/12/2023 khi T đang đứng trước cửa nhà thì có Giàng Văn H đi mô tô đến hỏi “chú có ma túy bán không bán cho cháu một gói”, T liền lấy 01 gói giấy từ túi díp trong túi quần bên phải ra đưa cho H, H cầm gói ma túy bị cáo T đưa cất vào túi ngực bên trái, rồi lấy 200.000 đồng đưa cho T, sau đó H điều khiển xe đi về nhà. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, khi T đang ở nhà thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B thi hành lệnh khám xét người và chỗ ở, thu giữ: số tiền 200.000đ và toàn bộ số ma túy bị cáo đã cất dấu.
Tại kết luận giám định số 14/KL-GĐMT ngày 20/12/2023 của Phòng KTHS Công an tỉnh L, kết luận: 0,06 (Không phẩy không sáu) gam chất bột khô, vón cục, màu trắng thu giữ của Giàng Văn H gửi giám định là loại chất ma túy Heroine (Hêrôin).
Tại kết luận giám định số 15/KL-GĐMT ngày 21/12/2023 của Phòng KTHS Công an tỉnh L, kết luận: 0,34 (không phẩy ba mươi tư) gam chất bột khô, vón cục, màu trắng thu giữ của Nguyễn Văn T gửi giám định là loại chất ma túy Heroine (Hêrôin).
Quá trình điều tra bị cáo Nguyễn Văn T đã khai nhận hành vi phạm tội của bản thân. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản khám xét chỗ ở, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được trong quá trình điều tra vụ án.
Tại bản cáo trạng số 02/CT-VKSBY ngày 15/3/2024, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Áp dụng khoản 1 Điều 251; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 02 năm 06 tháng tù đến 03 năm tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày 18/12/2023; Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là người lao động tự do, hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; Về vật chứng: Áp dụng Điểm b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và Đ1 a, b Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử: Tịch thu để tiêu hủy: 0,26 gam Heroine còn lại sau giám định, tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 200.000 (hai trăm nghìn) đồng thu giữ của bị cáo Nguyễn Văn T, tiền do bị cáo T bán H2 cho H mà có. Về án phí bị cáo phải chịu án phí và được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo đồng ý với tội danh mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Yên đã truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1]. Về tố tụng: Về hành vi tố tụng, Quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Yên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra bị cáo không có ý kiến và khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật.
[2]. Về hành vi của bị cáo: Tại phiên Toà hôm nay bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo được chứng minh bằng các tài liệu chứng cứ khác như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản khám xét nơi ở của Nguyễn Văn T; Biên bản niêm phong đồ vật tạm giữ; Biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng, trích mẫu tái niêm phong và giao nhận đối tượng giám định; Bản kết luận giám định số 14/KL-GĐMT ngày 20/12/2023 và số 15/KL-GĐMT ngày 21/12/2023 của phòng K Công an tỉnh L; Các biên bản xác minh; Biên bản xét nghiệm chất ma túy; Bản tự khai; Biên bản ghi lời khai của bị cáo; Bản kết luận điều tra số 03/KLĐT-CSĐT ngày 05 tháng 03 năm 2024 của Cơ quan CSĐT Công an huyện B. Bản cáo trạng số 02/CT-VKSBY ngày 15/3/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai, cùng các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở đủ khẳng định ngày 16/12/2023 bị cáo Nguyễn Văn T đã tàng trữ 0,40 (Không phẩy bốn mươi) gam Heroine mục đích để bán kiếm lời. Đến ngày 18/12/2023 bị cáo đã bán 0,06 (Không phẩy không sáu) gam Heroine cho anh Giàng Văn H, SN 1992, trú tại xã L, huyện V, tỉnh Yên Bái để thu lợi bất chính số tiền 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng). Hành vi của bị cáo đã phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy" theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Yên truy tố bị cáo về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Bị cáo Nguyễn Văn T là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có sự hiểu biết về xã hội cũng như pháp luật của nhà nước. Bị cáo nhận thức được hành vi "Mua bán trái phép chất ma túy" là vi phạm pháp luật, nhưng do thiếu ý thức chấp hành pháp luật, lười lao động, hám lợi bất chính và bản thân là đối tượng nghiện ma túy nên bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an tại địa phương, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy nên cần phải xử lý bị cáo nghiêm khắc trước pháp luật.
[3]. Về tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- - Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tuy nhiên bị cáo là người có nhân thân xấu năm 2016 bị Tòa án nhân dân huyện Bảo Yên, xử phạt 02 (hai) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, Năm 2019 bị Tòa án nhân dân huyện Bảo Yên xử phạt 01 (một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- - Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Hội đồng xét xử xét thấy, sau khi bị bắt và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, vì vậy cần xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo là phù hợp với chính sách khoan hồng của pháp luật.
[4] Về hình phạt chính: Hội đồng xét xử xét thấy đối với bị cáo Nguyễn Văn T cần có một mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội bị cáo đã thực hiện. Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân cũng như gia cảnh của bị cáo và đề nghị của Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt tù có thời hạn để trừng trị, đồng thời tạo điều kiện để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người công dân lương thiện, có ích cho gia đình và xã hội.
[5] Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 Điều 251 quy định: "Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng". Xong xét thấy điều kiện kinh tế của bị cáo khó khăn, bị cáo không có tài sản riêng gì, nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6] Về vật chứng:
- - Đối với 0,40 gam là loại chất ma túy Heroine thu giữ trong vụ án. Sau khi giám định, cơ quan giám định đã sử dụng hết 0,14 gam Heroine, còn lại sau giám định là 0,26 gam Heroine, đây là vật chứng của vụ án Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu để tiêu hủy.
- - Đối với số tiền 200.000 đồng thu giữ của bị cáo Nguyễn Văn T, đây là số tiền do bị cáo T bán H2 cho H mà có, nên cần tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.
Về đề nghị của Kiểm sát viên: Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa về hình phạt chính là phù hợp với tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[7] Đối với Giàng Văn H có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, do hành vi không cấu thành tội phạm. Công an huyện B ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính hình thức phạt tiền đối với Giàng Văn H, là có căn cứ và đúng quy định.
[8] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016 UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1]. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
[2]. Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 02 (Hai) năm 6 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày 18/12/2023.
[3]. Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điểm b, c Khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm a, b Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- - Tịch thu để tiêu hủy:
- + 0,23 (Không phẩy hai mươi ba) gam Heroine được niêm phong trong bì thư in sẵn của Phòng K Công an tỉnh L. Trên một mặt của bì niêm phong có ghi: “Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu giữ trong quá trình khám xét khẩn cấp người và chỗ ở đối với Nguyễn Văn T tại bản Bùn 4, xã B, huyện B, tỉnh Lào Cai".
- + 0,03 (Không phẩy không ba) gam Heroine được niêm phong trong bì thư in sẵn của Phòng K Công an tỉnh L. Trên một mặt của bì niêm phong có ghi: “Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu giữ khi bắt quả tang Giàng Văn H tại bản Bùn 4, xã B, huyện B, tỉnh Lào Cai ngày 18/12/2023".
- - Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước số tiền 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) thu giữ của bị cáo Nguyễn Văn T, số tiền trên để trong một gói phong bì đã được niêm phong ghi đầy đủ chữ ký, có dấu tròn đỏ của Cơ quan CSĐT Công an huyện B.
Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản giữa Công an huyện B với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bảo Yên ngày 15/03/2024 và phiếu nhập kho giữa Công an huyện B và Kho bạc Nhà nước Bảo Yên ngày 22/02/2024.
[4]. Về án phí: Áp dụng điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí toà án.
Buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[5]. Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Mạnh Thắng |
Bản án số 02/2024/HSST ngày 25/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO YÊN TỈNH LÀO CAI về hình sự (mua bán trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 02/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Mua bán trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO YÊN TỈNH LÀO CAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: NGUYỄN VĂN T PHẠM TỘI MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY
