Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN GIAO THỦY

TỈNH NAM ĐỊNH

Bản án số: 02/2024/KDTM-ST.

Ngày: 24-7-2024

V/v: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng.

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THỦY, TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Ông Ngọc Lễ
  • Các Hội thẩm nhân dân:
    • Ông Phạm Xuân Trường;
    • Ông Đoàn Trung Tuyến.
  • Thư ký phiên toà: Bà Đặng Thị Ngoan - Thư ký Toà án nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa: Bà Đào Thị Yến - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định xét xử công khai vụ án thụ lý số: 02/2024/TLST-KDTM ngày 08 tháng 04 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2024/QĐXXST-DS ngày 07 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Quỹ tín dụng nhân dân G; địa chỉ: Tổ dân Phố L, thị trấn Q, huyện G, tỉnh Nam Định. Người đại diện theo pháp luật là ông Cao Mạnh C - chủ tịch Hội đồng quản trị Quỹ tín dụng nhân dân G.

Bị đơn: Ông Nguyễn Đình P, sinh năm 1969 và chị Đặng Thị N, sinh năm 1973; đều có địa chỉ: Tổ dân phố T, thị trấn Q, huyện G, tỉnh Nam Định.

Tại phiên tòa có mặt: Ông C, ông P; vắng mặt bà N.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 02-4-2024 và quá trình tham gia tố tụng tại phiên tòa, đại diện theo pháp luật của Quỹ tín dụng nhân dân G ông Cao Mạnh C trình bày: Ngày 28/01/2016 ông Nguyễn Đình P và bà Đặng Thị N có ký hợp đồng tín dụng số 77/HĐTD vay vốn tại Quỹ tín dụng nhân dân G, cụ thể như sau: Số tiền vay 250.000 đồng, giải ngân lần 1 ngày 29-01-2016; số tiền vay 150.000.000 đồng, giải ngân lần 2 ngày 01-02-2016. Tổng cộng vay số tiền là 400.000.000 đồng (Bốn trăm triệu đồng), thời hạn vay là 12 tháng. Lãi suất trong hạn là 1%/tháng, lãi suất quá hạn 1,5%/tháng. Tài sản thế chấp gồm: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đã được UBND huyện G cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BV 616056 ngày 23-01-2015, tại tờ bản đồ số 6, thửa 101, diện tích 622,5 m²; địa chỉ: Tổ dân phố L, thị trấn Q, huyện G, tỉnh Nam Định.

Quá trình thực hiện hợp đồng, bên vay đã trả được lãi đến ngày 31-8-2016. Từ ngày 01-9-2016 trở đi bên vay không thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Từ ngày 29-01-2017 đến nay chuyển thành lãi quá hạn.

Quỹ tín dụng nhân dân Giao Lâm đã nhiều lần đôn đốc, lập biên bản xử lý nợ, nhưng ông P bà N vẫn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ.

Nay Quỹ tín dụng nhân dân G yêu cầu Tòa án buộc ông P, bà N phải trả cho Q tín dụng nhân dân số tiền nợ gốc là 400.00.000 đồng và số lãi gồm lãi trong hạn và lãi quá hạn kể từ ngày 01/9/2016 đến ngày xét xử (ngày 24-7-2024) là 574.901.700 đồng; tổng cộng gốc và lãi là: 974.901.700 đồng.

Nếu ông P bà N không trả được nợ, Quỹ tín dụng nhân dân G có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi khoản nợ trên.

Ông Nguyễn Đình P là bị đơn trình bày: Ông và bà N có vay của Quỹ tín dụng nhân dân G số tiền 400.000.000 đồng. Cụ thể ngày 29/01/2016 số tiền là 250.000.000 đồng, ngày 01/02/2016 là 150.000.000 đồng. Thời hạn vay là 12 tháng lãi suất 1%/tháng, lãi suất quá hạn là 1,5%/tháng. Tài sản thế chấp gồm: giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất. Do hoàn cảnh kinh tế khó khăn việc làm ăn thất thoát. Vì vậy ông và bà N chỉ thanh toán cho Q được khoảng 8 tháng lãi, sau đó không có khả năng thanh toán. Nay Quỹ tín dụng nhân dân G yêu cầu ông và bà N trả số tiền gốc 400.000.000 đồng và số tiền lãi tính đến ngày xét xử là 574.901.700 đồng, ông hoàn toàn đồng ý.

Tại bản tự khai và biên bản hoà giải, bà Đặng Thị N trình bày: Bà và ông P có vay Quỹ tín dụng nhân dân Giao Lâm với số tiền là 400.000.000 đồng để kinh doanh nghề mộc. Bà và ông P đã trả lãi được 8 tháng sau đó do làm ăn thua lỗ nên không trả được nợ. Nay Quỹ tín dụng nhân dân G yêu cầu bà và ông P phải trả số tiền gốc là 400.000.000 đồng và lãi phát sinh, bà đồng ý trả tiền gốc số lãi phát sinh bà xin.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Thẩm phán, HĐXX, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã tuân theo đúng các quy định của bộ luật tố tụng dân sự. Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của của Quỹ tín dụng nhân dân G. Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, đương sự phải nộp theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà, căn cứ vào lời trình bày của đương sự và kết quả tranh tụng tại phiên toà; Tòa án nhận định:

[1]. Về tố tụng: Bà Đặng Thị N đã được triệu tập hợp lệ đến phiên toà lần 2 nhưng vẫn vắng mặt, căn cứ vào điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Đơn khởi kiện của Q tính dụng nhân dân Giao Lâm khởi kiện ông Nguyễn Đình P và bà Đặng Thị N, về khoản tiền vay và lãi suất phát sinh chưa trả, mục đích vay của ông P, bà N là kinh doanh xưởng mộc đóng đồ gỗ (ông P đã được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh), nên xác định đây là vụ án kinh doanh thương mại theo quy định tại khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2]. Về nội dung: Giữa Quỹ tín dụng nhân dân Giao Lâm với ông Nguyễn Đình P và bà Đặng Thị N có ký hợp đồng tín dụng số 77/HĐTD ngày 28-01-2016. Số tiền giải ngân cụ thể ngày 29/01/2016 là 250.000.000 đồng, ngày 01/2/2016 số tiền là 150.000.000 đồng. Tổng số tiền vay là 400.000.000 đồng (Bốn trăm triệu đồng) lãi suất 1%/tháng, thời hạn vay là 12 tháng, lãi suất quá hạn 1,5%/tháng. Hai bên đã ký hợp đồng thế chấp số 73/HĐTC ngày 29-01-2015, tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đã được cấp Giấy chứng nhứng nhận quyền sử dụng quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BV 616056 do UBND huyện G cấp ngày 23-01-2015 tại tờ bản đồ số 6, thửa 101, diện tích 622,5 m² ; địa chỉ: Tổ dân phố L, thị trấn Q, huyện G, tỉnh Nam Định, mang tên Nguyễn Đình P và Đặng Thị N.

Quá trình thực hiện hợp đồng bên vay đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, Quỹ tín dụng nhân dân G đã nhiều lần yêu cầu bên vay nợ trả nợ gốc, lãi, lãi quá hạn nhưng ông P, bà N không trả. Nay ông P bà N còn nợ Quỹ tín dụng nhân dân G số tiền gốc là 400.000.000 đồng, lãi và lãi quá hạn tính từ ngày 01-9-2016 đến ngày xét xử là 574.901.700 đồng; tổng là 974.901.700 đồng.

Xét thấy, việc ký kết hợp đồng giữa Quỹ tín dụng nhân dân G với ông Nguyễn Đình P bà Đặng Thị N đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật, vì vậy yêu cầu của Quỹ tín dụng nhân dân G là có cơ sở nên cần được chấp nhận.

Bà Đặng Thị N và ông Nguyễn Đình P đã được Toà án nhân dân huyện Giao Thuỷ giải quyết cho ly hôn tại bản án số 36/2019/HNGĐ-ST ngày 05-8-2019 (bản án đã có hiệu lực pháp luật), nên buộc ông P bà N mỗi người phải có nghĩa vụ trả Quỹ tín dụng nhân dân Giao Lâm 1/2 trong tổng số tiền còn nợ trên.

[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Yêu cầu của Quỹ tín dụng nhân dân G được chấp nhận nên ông P, bà N phải nộp án phí theo quy định pháp luật.

[4] Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 463, 466 của Bộ luật Dân sự 2015; Điều 101 và Điều 103 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2024; Điều 147, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11-01-2019 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Quỹ tín dụng nhân dân Giao Lâm

Buộc ông Nguyễn Đình P và bà Đặng Thị N phải có trách nhiệm trả Quỹ tín dụng nhân dân Giao Lâm số tiền còn nợ gốc là 400.000.000 đồng, số tiền lãi phát sinh (gồm lãi trong hạn và lãi quá hạn) từ ngày 01/9/2016 đến ngày xét xử (24-7-2024) là 574.901.700 đồng. Tổng cộng gốc và lãi là: 974.901.700 đồng (Chín trăm bảy mươi tư triệu chín trăm linh một nghìn bảy trăm đồng). Chia theo phần: Ông Nguyễn Đình P bà Đặng Thị N mỗi người phải trả Quỹ tín dụng nhân dân Giao Lâm số tiền 487.450.800 đồng (Bốn trăm tám mươi bảy triệu bốn trăm năm mươi nghìn tám trăm đồng).

Trong trường hợp ông P, bà N không thanh toán được toàn bộ nghĩa vụ trả nợ thì Quỹ tín dụng nhân dân Giao Lâm có quyền yêu cầu Cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và các tài sản khác gắn liền với đất, đã được UBND huyện G, tỉnh Nam Định cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và các tài sản khác gắn liền với đất số BV 616056 ngày 23-01-2015 tại tờ bản đồ số 6 thửa số 101; địa chỉ tổ dân phố L, thị trấn Q, huyện G, tỉnh Nam Định. Nếu số tiền phát mại tài sản thế chấp không đủ trả nợ thì Quỹ tín dụng nhân dân Giao Lâm có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý các tài sản khác và nguồn thu nhập hợp pháp khác của ông P, bà N để thu hồi nghĩa trả nợ.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trong trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Quỹ tín dụng nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc ông Nguyễn Đình P và bà Đặng Thị N mỗi người phải nộp số tiền án phí là 20.623.500 đồng (Hai mươi triệu sáu trăm hai mươi ba nghìn năm trăm đồng). Trả lại Quỹ tín dụng nhân dân G số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 20.283.000 đồng (Hai mươi triệu hai trăm tám mươi ba nghìn đồng) tại biên lai số 0004562 ngày 08-4-2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định.

3.Về quyền kháng cáo: Quỹ tín dụng nhân dân G và ông Nguyễn Đình P có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bà Đặng Thị N có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND huyện Giao Thủy;
  • - VKSND tỉnh Nam Định;
  • - TAND tỉnh Nam Định;
  • - Chi cục THADS huyện Giao Thủy;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ông Ngọc Lễ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 02/2024/KDTM-ST ngày 24/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THỦY, TỈNH NAM ĐỊNH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 02/2024/KDTM-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/07/2024
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THỦY, TỈNH NAM ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Buộc ông P và bà N phải trả số tiền nợ gốc và lãi cho Quy tín dụng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger