Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THÁI BÌNH

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02/2024/KDTM-ST

Ngày: 24/5/2024

V/v: “T/C hợp đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Chu Thị Tuyết .

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Nguyễn Xuân Anh.
  2. Bà Đặng Thị Việt Hoài.

- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thảo Linh - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình tham gia phiên toà: Bà Lương Thị Quỳnh - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số 15/2023/TLST-KDTM ngày 20 tháng 12 năm 2023 về việc “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2024/QĐXXST-KDTM ngày 23 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 16/2024/QĐST-KDTM ngày 15 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S2 (Ngân hàng S3). Địa chỉ: Số G, phố T, phường T, quận H, Thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật: Bà Ngô Thu H – Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lại Quang D – Chức vụ: Giám đốc Ngân hàng S3 – Chi nhánh T1.

(Văn bản ủy quyền số 4061/2023/VBUQ-SHB ngày 19/7/2023 của Chủ tịch Hội đồng quản trị Ngân hàng S3).

Người đại diện theo ủy quyền lại:

  • Ông Tống Hữu H1 – Trưởng phòng Khách hàng doanh nghiệp Ngân hàng S3 - Chi nhánh T1.
  • Ông Nguyễn Hồng S – Chuyên viên bán nợ và tài sản bảo đảm Ngân hàng S3.
  • Ông Nguyễn Công V – Chuyên viên bán nợ và tài sản bảo đảm Ngân hàng S3.
  • Ông Vũ Thanh S1 – Chuyên viên Quan hệ khách hàng cấp 1 – Ngân hàng S3 - Chi nhánh T1.

(Văn bản ủy quyền lại số 32/2023/VBUQL ngày 12/9/2023 của Giám đốc Ngân hàng S3 – Chi nhánh T1).

2. Bị đơn: Công ty Cổ phần X (Công ty). Địa chỉ: Số nhà D, ngõ A, đường Q, tổ A, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Bình.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Trương Công M – Chức vụ: Giám đốc.

(Tại phiên tòa có mặt ông Tống Hữu H1, ông Nguyễn Hồng S, ông Trương Công M).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng đại diện nguyên đơn - Ngân hàng S3 trình bày và có yêu cầu cụ thể như sau:

- Ngân hàng S3 cho Công ty vay vốn theo các hợp đồng tín dụng sau:

  • + Hợp đồng tín dụng trung dài hạn số 275/2018/HĐTDDH-PN/SHB.112600 ngày 06/7/2018 (Hợp đồng tín dụng số 275), vay 1.350.000.000 đồng; lãi suất cho vay trong hạn cố định trong 3 tháng kể từ ngày giải ngân 11.4%/năm, mức lãi suất được điều chỉnh 3 tháng một lần, biên độ tối thiểu + 4,3%/năm. Ngày 09/7/2018 khế ước nhận nợ giải ngân 1.350.000.000 đồng. Theo hợp đồng tín dụng ngày trả nợ cuối cùng là ngày 09/7/2023. Ngày 26/02/2021 Công ty V1 nghĩa vụ trả nợ.
  • + Hợp đồng tín dụng trung dài hạn số 626/2018/HĐTDTDH/PN-SHB.112600 ngày 19/11/2018 (Hợp đồng tín dụng số 626), vay 2.372.000.000 đồng; lãi suất cho vay trong hạn cố định trong 3 tháng kể từ ngày giải ngân 11.4%/năm, mức lãi suất được điều chỉnh 3 tháng một lần, biên độ tối thiểu + 4,3%/năm; Khế ước nhận nợ ngày 20/11/2018 giải ngân 1.326.000.000 đồng; ngày 20/11/2018 giải ngân 1.000.000.000 đồng; ngày 21/11/2018 giải ngân 46.000.000 đồng. Theo hợp đồng tín dụng ngày trả nợ cuối cùng là ngày 20/11/2023; Ngày 26/01/2021 Công ty vi phạm nghĩa vụ trả nợ.
  • + Hợp đồng tín dụng trung dài hạn số 486/2019/HĐTDTDH ngày 25/10/2019 (Hợp đồng tín dụng số 486), vay 1.625.000.000 đồng; lãi suất cho vay trong hạn cố định trong 3 tháng kể từ ngày giải ngân là 13,5%/năm; mức lãi suất được điều chỉnh 3 tháng một lần, biên độ tối thiểu + 4,1%/năm. Khế ước nhận nợ ngày 29/10/2019 giải ngân 1.625.000.000 đồng. Theo hợp đồng ngày trả nợ cuối cùng là ngày 29/10/2024. Ngày 26/01/2021 Công ty V1 nghĩa vụ trả nợ.

Các Hợp đồng tín dụng đều quy định lãi chậm trả không vượt quá 10%/năm được tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với số ngày thực tế chậm trả lãi; lãi đối với nợ gốc quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn và đều vay có mục đích để thanh toán tiền mua máy thêu hoàn chỉnh hiệu Tajima, thời hạn vay 60 tháng. Tổng số tiền vay là 5.347.000.000 đồng.

- Tài sản thế chấp cho các khoản vay gồm:

  • + Hợp đồng thế chấp tài sản số 275/2018/HĐTC-PN/SHB.112600 ngày 06/7/2018, thế chấp 01 bộ máy thêu hiệu Tajima, số máy TFGNII-920 (550x330)S;
  • + Hợp đồng thế chấp tài sản số 626/2018/HĐTC-PN/SHB.112600 ngày 19/11/2018 thế chấp 01 bộ máy thêu hiệu Tajima, số máy TMCP-V0620F(550x 200) D và 01 bộ máy thêu hiệu Tajima, số máy TFKN-920 (550x330)S;
  • + Hợp đồng thế chấp tài sản số 486/2019/HĐTC-PN-SHB.112600 ngày 25/10/2019 thế chấp máy thêu hiệu Tajima số máy TMCP-V920F (680x330)S.

Ngân hàng S3 đã giải ngân cho Công ty V2 tổng số tiền là 5.347.000.000 đồng. Quá trình thực hiện hợp đồng Công ty không trả nợ đúng hạn cho Ngân hàng S3, 02 khoản vay đã chuyển nợ quá hạn từ ngày 26/01/2021; 01 khoản vay đã chuyển nợ quá hạn từ ngày 26/02/2021. Ngân hàng S3 yêu cầu Công ty với các nội dung sau:

1.1. Yêu cầu Công ty phải trả cho Ngân hàng S3 tổng số tiền tính đến ngày 24/5/2024 là 4.914.010.231 đồng, trong đó: Nợ gốc: 2.785.164.904 đồng, nợ lãi trong hạn: 1.418.458.723 đồng, nợ lãi quá hạn 517.493.723 đồng, lãi phạt: 192.292.766 đồng. Tại phiên tòa Ngân hàng S3 rút yêu cầu Công ty trả một phần lãi phạt là 119.175.149 đồng. Kể từ ngày 25/5/2024 Công ty tiếp tục phải trả các khoản tiền cho Ngân hàng S3 theo thỏa thuận trong các Hợp đồng tín dụng trung dài hạn cho đến khi trả xong toàn bộ khoản nợ cho Ngân hàng S3.

1.2. Trường hợp Công ty không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ theo Bản án hoặc Quyết định có hiệu lực của Tòa án thì Ngân hàng S3 được quyền đề nghị cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền kê biên, cưỡng chế và phát mại tài sản bảo đảm theo các Hợp đồng thế chấp, cụ thể: 01 bộ máy thêu hiệu Tajima, số máy TFGNII-920(550x330)S, 01 bộ máy thêu hiệu Tajima, số máy TMCP-V620F(550x200)D, 01 bộ máy thêu hiệu Tajima, số máy TFKN-920(550x330)S, 01 bộ máy thêu hiệu Tajima, số máy TMCP-V920F(680x330)S

1.3 Trong trường hợp số tiền thu được từ việc phát mại tài sản bảo đảm không đủ nghĩa vụ trả nợ, Công ty có nghĩa vụ tiếp tục trả hết nợ cho Ngân hàng S3, trường hợp số tiền thu được từ việc phát mại tài sản bảo đảm còn thừa thì trả lại cho chủ tài sản bảo đảm.

* Bị đơn, đại diện Công ty X trình bày:

Công ty đã được Ngân hàng S3 cấp 03 hợp đồng tín dụng để vay 5.347.000.000 đồng. Công ty đã sử dụng vốn vào đúng mục đích kinh doanh. Từ khi cấp vốn đến ngày 31/12/2019 Công ty thực hiện đúng cam kết trả nợ gốc và lãi theo quy định. Đến đầu năm 2020 do tình hình ảnh hưởng của dịch Covid nên đã ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty. Công ty được Ngân hàng S3 thực hiện cơ cấu không phải trả nợ gốc đến ngày 31/12/2020, tiền nợ gốc được dồn vào các kì trả nợ sau, hàng tháng phải trả lãi phát sinh. Đầu tháng 12/2020 Công ty đề nghị Ngân hàng S3 tiếp tục cơ cấu lại nợ vay để hỗ trợ doanh nghiệp nhưng được Ngân hàng S3 thông báo là chưa nhận được thông tin để triển khai tiếp, dẫn đến các khoản vay bắt đầu phát sinh quá hạn từ tháng 02/2021.

Trong năm 2022 Công ty trả nợ đều từ 80 đến 100 triệu/tháng; năm 2023 Công ty gặp nhiều khó khăn nhưng vẫn cố gắng trả SHB 40 triệu/tháng. Công ty đã đề nghị Ngân hàng S3 xem xét hỗ trợ, tạo điều kiện để Công ty tiếp tục hoạt động tạo nguồn thu trả nợ Ngân hàng S3 nhưng Ngân hàng S3 không đồng ý. Nếu Ngân hàng S3 thu hồi tài sản thế chấp sẽ dẫn đến Công ty không có nguồn thu nhập không thể trả nợ Ngân hàng S3. Công ty đề nghị Tòa án và Ngân hàng S3 xem xét tạo điều kiện để Công ty tiếp tục duy trì, ổn định dần hoạt động sản xuất để tạo nguồn thu nhập trả nợ dần các khoản vay đang quá hạn; Đề nghị Tòa án, kiến nghị Ngân hàng S3 xem xét miễn giảm lãi, miễn lãi phạt quá hạn để hỗ trợ Công ty giảm bớt khó khăn. Về lộ trình trả nợ, Công ty cam kết trả nợ dần từ 100-150 triệu đồng/tháng bắt đầu từ tháng 3/2024. Cụ thể chậm nhất đến 30/6/2024 Công ty cam kết trả hết số nợ gốc 732.800.000 đồng theo Hợp đồng số 275 ngày 06/7/2018; chậm nhất đến ngày 31/12/2024 Công ty cam kết trả hết số nợ gốc 1.211.600.000 đồng theo Hợp đồng số 626 ngày 19/11/2018; chậm nhất đến ngày 31/6/2025 Công ty cam kết trả hết số nợ gốc 900.764.997 theo Hợp đồng số 486 ngày 25/10/2019; từ thời điểm tháng 7/2025 Công ty sẽ tiếp tục thực hiện trả nợ lãi phát sinh của Hợp đồng tín dụng. Đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng S3, Công ty không có yêu cầu phản tố.

* Tại phiên tòa, Công ty đề nghị Ngân hàng S3 xem xét miễn, giảm lãi cho Công ty, cụ thể: Miễn lãi phạt chậm trả, giảm 30% lãi suất quá hạn.

* Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau:

Ngân hàng S3 yêu cầu Công ty phải trả nợ gốc, lãi theo thỏa thuận trong Hợp đồng là có căn cứ. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 463, 466, 468, 470 Bộ luật Dân sự; Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng. Đề nghị tuyên buộc Công ty phải trả toàn bộ các khoản nợ gốc, nợ lãi trong hạn, nợ lãi quá hạn, lãi phạt, tổng số tiền là 4.794.835.082 đồng, trong đó: Nợ gốc: 2.785.164.904 đồng, nợ lãi trong hạn: 1.418.458.723 đồng, nợ lãi quá hạn 517.493.838 đồng, lãi phạt: 73.717.617 đồng. Kể từ ngày 25/5/2024 Công ty tiếp tục phải trả các khoản tiền cho Ngân hàng S3 theo thỏa thuận trong các Hợp đồng tín dụng trung dài hạn cho đến khi trả xong toàn bộ khoản nợ cho Ngân hàng S3.

Trường hợp Công ty không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ theo Bản án có hiệu lực của Tòa án thì Ngân hàng S3 được quyền đề nghị cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền kê biên, phát mại tài sản bảo đảm theo các Hợp đồng thế chấp đã ký giữa hai bên. Số tiền thu được từ việc phát mại tài sản bảo đảm không đủ nghĩa vụ trả nợ, Công ty có nghĩa vụ tiếp tục trả hết nợ cho Ngân hàng S3.

Tại phiên tòa Ngân hàng S3 rút yêu cầu Công ty trả một phần lãi phạt là 119.175.149 đồng, đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu này.

Công ty phải chịu tiền án phí vụ án kinh doanh thương mại sơ thẩm có giá ngạch đối với số tiền phải thanh toán cho Ngân hàng S3. Trả lại cho Ngân hàng S3 số tiền đã nộp tạm ứng án phí. Chấp nhận Ngân hàng S3 tự nguyện nộp tiền chi phí tố tụng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền và thủ tục tố tụng:

Ngân hàng S3 khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc Công ty phải thanh toán cho Ngân hàng S3 toàn bộ số tiền nợ gốc và tiền nợ lãi, phí phát sinh theo các hợp đồng tín dụng đã ký kết giữa hai bên. Ngân hàng S3 cho Công ty vay vốn nhằm mục đích kinh doanh, Công ty có giấy phép kinh doanh, Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp phát sinh trong vụ kiện là tranh chấp về Kinh doanh thương mại. Công ty có địa chỉ tại phường T, thành phố T, việc thụ lý, giải quyết yêu cầu của Ngân hàng S3 thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình.

[2] Về nội dung:

Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng S3 thì thấy: Công ty do ông Trương Công M làm giám đốc - là người đại diện theo pháp luật của Công ty đã ký 03 Hợp đồng tín dụng trung dài hạn là Hợp đồng tín dụng số 275 ngày 06/7/2018 vay 1.350.000.000 đồng; Hợp đồng tín dụng số 626 ngày 19/11/2018 vay 2.372.000.000 đồng; Hợp đồng tín dụng số 486 ngày 25/10/2019 vay 1.625.000.000 đồng với Ngân hàng S3 chi nhánh T1, mục đích để mua máy thêu hoàn chỉnh hiệu Tajima. Ngân hàng H2 đã giải ngân cho Công ty là 5.347.000.000 đồng. Tại thời điểm ký kết hợp đồng, các bên đại diện theo pháp luật đều là người có năng lực pháp luật dân sự, có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, đúng thẩm quyền, tự nguyện ký kết hợp đồng, tự nguyện thỏa thuận về nội dung hợp đồng, mục đích của giao kết hợp đồng không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội, phù hợp với quy định tại Điều 117, 118, 119, 401, 463 Bộ luật Dân sự năm 2015. Do nội dung và hình thức của các hợp đồng tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 nên các Hợp đồng trên có giá trị pháp lý ngay tại thời điểm giao kết.

Giao dịch giữa Ngân hàng S3 với Công ty được thể hiện bằng các Hợp đồng cho vay hạn mức trung dài hạn. Tại các Hợp đồng đều thể hiện số tiền cho vay, lãi suất cho vay trong hạn cố định trong 03 tháng kể từ ngày giải ngân từ 11,4%/năm đến 13,5%/năm, mức lãi suất được điều chỉnh 03 tháng một lần, biên độ tối thiểu + 4,1% đến + 4,3%/năm, lãi đối với nợ gốc quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn, quy định lãi chậm trả không vượt quá 10%/năm được tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với số ngày thực tế chậm trả lãi, thời hạn vay 60 tháng và mục đích vay để thanh toán tiền mua máy thêu phục vụ sản xuất kinh doanh. Các thỏa thuận này phù hợp với Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Bộ luật Dân sự năm 2015; Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N.

Công ty vay Ngân hàng S3 và được Ngân hàng S3 giải ngân đủ số tiền 5.347000.000 đồng. Quá trình thực hiện hợp đồng Công ty không trả nợ cho Ngân hàng SBH tiền gốc và tiền lãi như đã thỏa thuận, Ngân hàng S3 đã đôn đốc Công ty có kế hoạch trả nợ nhưng không có kết quả. Người vi phạm hợp đồng là Công ty nên Công ty phải chịu hậu quả theo giao kết và theo quy định của pháp luật. Ngân hàng S3 đã chuyển toàn bộ số dư nợ từ khi Công ty vi phạm nghĩa vụ của các Hợp đồng sang nợ quá hạn là đúng quy định.

[2.1] Về hợp đồng tín dụng:

[2.1.1] Về tiền nợ gốc: Giao dịch giữa Ngân hàng S3 với Công ty được thể hiện bằng các Hợp đồng tín dụng trung dài hạn và Hợp đồng thế chấp tài sản. Công ty thừa nhận đã vay tiền của Ngân hàng S3 và đã được giải ngân tổng số tiền 5.347.000.000 đồng. Công ty đã trả cho Ngân hàng S3 số tiền nợ gốc tính đến ngày 25/5/2024 còn lại 2.785.164.904 đồng nên yêu cầu khởi kiện này của Ngân hàng S3 là có căn cứ, được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[2.1.2] Về tiền nợ lãi: Đối với lãi suất trong hạn các bên thỏa thuận trong các hợp đồng là 11,4%/năm và 13,5%/năm, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn. Xét thấy sự thỏa thuận này là phù hợp với quy định tại Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng; điểm a, điểm c khoản 4 Điều 13 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng.

Đại diện Công ty có ý kiến đề nghị Ngân hàng S3 giảm lãi quá hạn là 30% và miễn lãi phạt để hỗ trợ Công ty giảm bớt khó khăn, đại diện Ngân hàng S3 trình bày tại phiên tòa đại diện Ngân hàng S3 không có thẩm quyền quyết định việc giảm tiền lãi quá hạn và miễn tiền phạt theo yêu cầu của đại diện Công ty và có ý kiến sau phiên tòa, đại diện Ngân hàng S3 sẽ có văn bản trình bày cấp trên để xem xét ý kiến của đại diện Công ty nên không có căn cứ chấp nhận ý kiến của Công ty, buộc Công ty phải trả tiền lãi theo yêu cầu của Ngân hàng S3. Tính đến ngày 24/5/2024 Công ty phải trả cho Ngân hàng S3 số tiền nợ lãi trong hạn: 1.418.458.723 đồng, nợ lãi quá hạn: 517.493.838 đồng.

[2.1.3] Về tiền phạt chậm trả lãi: Ngân hàng S3 yêu cầu Công ty phải trả khoản tiền phạt chậm trả lãi là 192.292.766 đồng, xét thấy: Khoản 2 Điều 8 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối Cao quy định “... b) Trường hợp khách hàng không trả đúng hạn tiền lãi trên nợ gốc theo thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng, thì phải trả lãi chậm trả theo mức lãi suất do tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận nhưng không vượt quá mức lãi suất giới hạn mà pháp luật quy định tương ứng với thời gian chậm trả lãi trên nợ gốc trong hạn”.

Ngân hàng S3 rút một phần yêu cầu Công ty phải trả khoản tiền phạt chậm trả lãi là 119.175.149 đồng và buộc Công ty phải trả cho Ngân hàng S3 khoản tiền phạt chậm trả lãi còn lại là: 73.717.617 đồng.

Hội đồng xét xử đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu của Ngân hàng S3 buộc Công ty phải trả khoản tiền phạt chậm trả lãi là 119.175.149 đồng. Buộc Công ty phải trả cho Ngân hàng S3 khoản tiền phạt chậm trả lãi còn lại là: 73.717.617 đồng.

[2.2] Về Hợp đồng thế chấp tài sản: Trường hợp Công ty không trả được nợ, Ngân hàng S3 được quyền đề nghị cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền kê biên, phát mại tài sản bảo đảm theo các Hợp đồng thế chấp: Xét thấy khi ký hợp đồng thế chấp tài sản các bên tự nguyện thỏa thuận, các hợp đồng thế chấp được công chứng, được đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật nên Công ty phải thực hiện nghĩa vụ đã cam kết trong Hợp đồng thế chấp tài sản. Cần chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng S3, khi Bản án có hiệu lực pháp luật, nếu Công ty không thực hiện nghĩa vụ trả nợ, Ngân hàng S3 có quyền đề nghị cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền kê biên, phát mại tài sản bảo đảm theo các Hợp đồng thế chấp để thu hồi nợ.

[2.3] Trường hợp số tiền thu được từ việc phát mại tài sản bảo đảm không đủ nghĩa vụ trả nợ, Công ty có nghĩa vụ tiếp tục trả hết nợ cho Ngân hàng S3.

[3] Về chi phí tố tụng: Ngân hàng S3 tự nguyện chịu toàn bộ chi phí tố tụng (Đã nộp đủ).

[4] Về án phí: Yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng S3 được Tòa án chấp nhận, do vậy sẽ hoàn trả số tiền đã nộp tạm ứng án phí. Công ty phải chịu án phí vụ án kinh doanh thương mại sơ thẩm có giá ngạch đối với số tiền phải thanh toán cho Ngân hàng S3 là 4.794.835.082 đồng.

[5] Về quyền kháng cáo: Các bên đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ quy định: Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 463, 466, 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; khoản 4 Điều 13 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng S3.

  1. Buộc Công ty phải trả cho Ngân hàng S3 toàn bộ các khoản, gồm: Tiền nợ gốc: 2.785.164.904 đồng, tiền nợ lãi trong hạn: 1.418.458.723 đồng, tiền nợ lãi quá hạn 517.493.838 đồng, tiền lãi phạt: 73.717.617 đồng. Tổng số tiền là 4.794.835.082 đồng (Bốn tỷ bẩy trăm chín mươi tư triệu tám trăm ba mươi lăm nghìn không trăm tám hai đồng).
  2. Về việc trả lãi sau khi xét xử sơ thẩm: Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 25/5/2024) Công ty tiếp tục phải trả các khoản tiền gốc, lãi trong hạn, lãi quá hạn và lãi phạt cho Ngân hàng S3 theo thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng trung dài hạn số 275/2018/HĐTDDH-PN/SHB.112600 ngày 06/7/2018; Hợp đồng tín dụng trung dài hạn số 626/2018/HĐTDTDH/PN-SHB.112600 ngày 19/11/2018; Hợp đồng tín dụng trung dài hạn số 486/2019/HĐTDTDH ngày 25/10/2019 cho đến khi Công ty X thực tế thanh toán hết nợ cho Ngân hàng S3.
  3. Về việc Ngân hàng S3 rút một phần khoản tiền phạt chậm trả lãi: Đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu của Ngân hàng S3 về việc buộc Công ty phải trả khoản tiền phạt chậm trả lãi là 119.175.149 đồng.
  4. Về Hợp đồng thế chấp tài sản bảo đảm: Khi bản án có hiệu lực pháp luật, Công ty không thực hiện hoặc thực hiện không đủ nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng S3 thì Ngân hàng S3 có quyền đề nghị cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền kê biên, phát mại tài sản bảo đảm để thu hồi nợ. Tài sản đảm bảo được thế chấp theo các Hợp đồng thế chấp số 275/2018/HĐTC-PN/SHB.112600 ngày 06/7/2018; Hợp đồng thế chấp tài sản số 626/2018/HĐTC-PN/SHB.112600 ngày 19/11/2018; Hợp đồng thế chấp tài sản số 486/2019/HĐTC-PN-SHB.112600 ngày 25/10/2019 để thu hồi nợ.
  5. Về chi phí tố tụng: Ngân hàng S3 tự nguyện chịu toàn bộ chi phí tố tụng (Đã nộp đủ).
  6. Về án phí: Công ty phải nộp 112.794.835 đồng tiền án phí vụ án kinh doanh thương mại sơ thẩm. Trả lại Ngân hàng S3 số tiền 56.157.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai số 0001084 ngày 11/12/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

6. Về quyền kháng cáo: Ngân hàng S3 và Công ty có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 24/5/2024).

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - Tòa án ND tỉnh Thái Bình;
  • - VKSND thành phố Thái Bình;
  • - Chi cục THA thành phố Thái Bình;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Chu Thị Tuyết

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 02/2024/KDTM-ST ngày 24/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH TỈNH THÁI BÌNH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 02/2024/KDTM-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/05/2024
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger