Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN SƠN

TỈNH PHÚ THỌ

Bản án số: 02/2024/DS-ST

Ngày 23 tháng 5 năm 2024

V/v: “Tranh chấp quyền sử dụng đất

Lâm nghiệp”.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN SƠN TỈNH PHÚ THỌ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Văn Chí

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Hồng Đào và ông Hà Đức Trưởng.

Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Hải Long – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên toà: Ông Hà Trọng Thực - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 5 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 25/2023/TLST- DS ngày 04 tháng 12 năm 2023 và thụ lý bổ sung số: 25A/TB-TLVA, ngày 02/02/2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất lâm nghiệp” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2024/QĐXX-ST ngày 28/3/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 08/QĐST-DS ngày 11/4/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 12/QĐST-DS ngày 26/4/2024 giữa:

- Nguyên đơn: Ông Hà Văn T, sinh năm 1965 (có mặt);

Địa chỉ: Khu C, xã T, huyên T, tỉnh Phú Thọ;

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông T: Bà Đinh Thị H - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh P (Có mặt).

- Đồng bị đơn:

1. Hộ ông Hoàng Văn Đ gồm:

  • + Ông Hoàng Văn Đ, sinh năm 1960 (có mặt);
  • + Bà Phùng Thị G, sinh năm 1958; Anh Hoàng Văn S, sinh năm 1981; Chị Hoàng Thị L, sinh năm 1984; Chị Hoàng Thị X, sinh năm 1987; Anh Hoàng Văn N, sinh năm 1990 và anh Hoàng Văn C, sinh năm 1994 (Đều ủy quyền cho ông Hoàng Văn Đ tham gia tố tụng theo giấy ủy quyền ngày 01/02/2024) (vắng mặt);

Cùng địa chỉ tại: Khu C, xã T, huyên T, tỉnh Phú Thọ;

1

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho hộ ông Đ: Ông Bùi Đức D - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh P (Có mặt);

2. Hộ ông Hoàng Ngọc T1 gồm:

  • + Ông Hoàng Ngọc T1, sinh năm 1968 (có mặt);
  • + Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1967; Anh Hoàng Văn K, sinh năm 1988; Chị Hà Thị S1, sinh năm 1987; Chị Hoàng Thị S2, sinh năm 1990 (Đều ủy quyền cho ông Hoàng Ngọc T1 tham gia tố tụng theo giấy ủy quyền ngày 26/4/2024) (vắng mặt);

Cùng địa chỉ tại: Khu C, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ;

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho hộ ông T1: Bà Đỗ Hồng N1 - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh P (Có mặt).

- Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Vũ Hồng T2, sinh năm 1972; Địa chỉ: Khu C, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt);
  2. Chị Nguyễn Thị N2, sinh năm 1983; Địa chỉ: Khu L, thị trấn T, huyện T, tỉnh Phú Thọ (Theo lời khai đề nghị xét xử vắng mặt);
  3. Chị Hoàng Thị C1, sinh năm 1988; Địa chỉ: Khu C, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ (Theo lời khai đề nghị xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

[1]. Tại đơn khởi kiện đề ngày 21/9/2023 cùng đơn khởi kiện bổ sung ngày 02/02/2024 và những lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, Nguyên đơn ông Hà Văn T trình bày:

  1. 1.1. Nguồn gốc sử dụng đất: Thực hiện chủ trương, chính sách về giao đất Lâm nghiệp, ngày 28/8/1997 ông Hà Văn T làm đơn xin nhận đất lâm nghiệp tại Đồi M, khu C, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Ngày 14/2/1998, UBND huyện T, tỉnh Phú Thọ (nay là huyện T, tỉnh Phú Thọ) ban hành Quyết định giao thửa đất trên cho ông Hà Văn T diện tích 20,5 ha đất trồng rừng. Đến ngày 06/12/1998 UBND huyện T đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H00827/QSDĐ 3-179 cho ông Hà Văn T tại tờ bản đồ F48 K3 A93, số thửa 331, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông Hà Văn T.
  2. 1.2. Quá trình sử dụng đất và tranh chấp phát sinh: Kể từ thời điểm được cấp đất, gia đình ông T canh tác liên tục không có phát sinh tranh chấp. Cho đến khoảng đầu năm 2022, hộ nhà ông Đ có canh tác vào một phần diện tích đất nằm trong 20,5ha đất mà gia đình ông T được cấp. Ông T nhiều lần nhắc nhở, yêu cầu ông Đ trả lại đất nhưng ông Đ không trả và tiếp tục trồng cây Lâm nghiệp.

2

Ngày 21/9/2023 ông T làm đơn đề nghị UBND xã T giải quyết, UBND xã đã tới thực địa chỉ rõ mốc giới cũng như gọi các bên liên quan đến giải quyết nhưng không có kết quả. Vì vậy, để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của gia đình, ông T có đơn khởi kiện yêu cầu: Hộ ông Hoàng Văn Đ và người liên quan ông Hoàng Ngọc T1 trả lại 1,5 ha đất Lâm nghiệp đã lấn chiếm cho gia đình ông.

Quá trình giải quyết tại Tòa án ngày 02/02/2024 ông Hà Văn T tiếp tục có đơn khởi kiện bổ sung đối với hộ gia đình ông Hoàng Ngọc T1 yêu cầu: Hộ ông Hoàng Ngọc T1 phải khai thác toàn bộ cây trên đất để trả lại diện tích đất 1,5 ha cho gia đình ông.

[2]. Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa Bị đơn hộ ông Hoàng Văn Đ và hộ ông Hoàng Ngọc T1 trình bày:

2.1. Ông Hoàng Văn Đ trình bày:

- Về nguồn gốc đất: Nhà nước có chủ trương giao đất cho các hộ gia đình, đến năm 1998, gia đình ông được UBND huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên: hộ ông Hoàng Văn Đ tại tờ bản đồ số F48103A.a3, số thửa 328, diện tích 9000m² tại Đ, khu C, xã T, ở ngay phía sau nhà ông, mục đích sử dụng để trồng rừng, thời hạn sử dụng đến năm 2048. Gia đình ông canh tác, sử dụng từ đó và có làm chung với anh Hoàng Ngọc T1, sinh năm 1968, địa chỉ ở khu C, xã T từ năm 2015. Đến năm 2018 thì gia đình ông chuyển nhượng 0,9 ha đất cho anh Hoàng Ngọc T1. Thực tế là toàn bộ diện tích đất 0,9 ha gia đình ông được Nhà nước giao đất và gia đình ông đã chuyển nhượng lại cho anh Hoàng Ngọc T1. Nay ông T khởi kiện vợ chồng ông trả lại diện tích đất mà ông T cho rằng nằm trong diện tích 20,5ha của ông T, vợ chồng ông không liên quan vì đất đã chuyển nhượng cho anh Hoàng Ngọc T1.

- Về tài sản trên đất: Toàn bộ số cây đang trồng trên đất hiện nay là của anh T1 trồng, gia đình ông không liên quan nên không có ý kiến gì.

2.2. Ông Hoàng Ngọc T1 trình bày:

- Về nguồn gốc đất: Ông giữ nguyên quan điểm trong quá trình giải quyết vụ án về nguồn gốc đất, quá trình sử dụng và tranh chấp phát sinh. Ông T1 cho rằng ông không mua đất của gia đình ông Đ, mà chỉ nhận quyền canh tác 0,9ha đất từ vợ chồng ông Đ, bà G theo Giấy ủy quyền ngày 27/5/2018. Vì lý do sức khỏe nên vợ chồng ông Đ, bà G không thể tiếp tục canh tác. Hiện trên đất gia đình ông đang trồng cây bồ đề khoảng 03 năm tuổi theo như Biên bản thẩm định ngày 04/01/2024 là hoàn toàn đúng.

- Về tài sản trên đất: Nếu Tòa án xác định phần đất ông đang canh tác nằm vào diện tích đất ông T được giao thì ông sẽ trả lại phần diện tích đất đó cho ông T nhưng phải cho ông canh tác đến hết chu cây (theo biên bản hòa giải lập ngày 18/12/2023).

3

Tại phiên tòa ông Hoàng Ngọc T1 thừa nhận ông chỉ nhận quyền canh tác 0,9ha đất từ hộ gia đình ông Đ, bà G theo giấy ủy quyền ngày 27/5/2018 nên không chấp nhận khai thác toàn bộ số cây để trả lại đất cho ông T mà ông muốn canh tác cho hết chu kỳ cây sau đó ông sẽ trả lại toàn bộ 0,9ha diện tích đất cho gia đình ông Đ quản lý sử dụng còn gia đình ông không liên quan.

[3]. Quan điểm của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phía tiếp giáp đất nhà ông Hà Văn T:

  1. 3.1. Anh Vũ Hồng T2: Gia đình tôi được giao đất Lâm nghiệp khoảng năm 1998 và canh tác liên tục từ đó đến nay, tôi xác định không có tranh chấp phát sinh gì tại khu vực giáp ranh giữa đất của gia đình tôi với đất nhà ông T tại các điểm 1 đến 4 theo sơ đồ đo vẽ lập ngày 04/01/2024 (lời khai ngày 25/3/2024).
  2. 3.2. Chị Nguyễn Thị N2: Gia đình tôi nhận quyền sử dụng đất đất Lâm nghiệp từ hộ ông Hà Văn Đ1 khoảng năm 2015 và canh tác liên tục từ đó đến nay, tôi xác định không có tranh chấp phát sinh gì tại khu vực giáp ranh giữa đất của gia đình tôi với đất nhà ông T tại các mốc chỉ giới từ điểm 4 đến mốc số 14 theo sơ đồ đo vẽ lập ngày 04/01/2024 (lời khai ngày 25/3/2024).
  3. 3.3. Chị Hoàng Thị C1: Gia đình tôi được giao đất Lâm nghiệp khoảng năm 1998 và canh tác liên tục từ đó đến nay, tôi xác định không có tranh chấp phát sinh gì tại khu vực giáp ranh giữa đất của gia đình tôi với đất nhà ông T tại các điểm 15,16,17,18,19,29 theo sơ đồ đo vẽ lập ngày 04/01/2024 (lời khai ngày 25/3/2024).

[4]. Quan điểm người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho Nguyên đơn, Bị đơn:

  1. 4.1. Quan điểm người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho Nguyên đơn: Thực hiện chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước về giao đất lâm nghiệp ngày 28/8/1997 ông Hà Văn T làm đơn xin nhận đất lâm nghiệp. Đến ngày 06/12/1998 UBND huyện T đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H00827/QSDĐ 3-179 cho ông Hà Văn T tại tờ bản đồ F48 K3 A93, số thửa 331, đất đứng tên ông Hà Văn T. Hồ sơ giao đất đầy đủ các thủ tục đề nghị Hội đồng xét xử xem xét buộc hộ ông T1 phải trả lại diện tích đất cho ông Hà Văn T theo quy định.
  2. 4.2. Quan điểm người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các Bị đơn: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét căn cứ vào hồ sơ giao đất và giấy tờ chuyển nhượng giữa ông Đ với ông T1 và xem xét vị trí thửa đất giải quyết đúng đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp cho các bên đương sự.

[5]. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án:

4

Việc nhận đơn, thụ lý, xác minh, thu thập chứng cứ: Được Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Thẩm phán đã tiến hành xem xét đơn khởi kiện đủ căn cứ, nên ngày 04/12/2023 Thẩm phán được phân công đã ra thông báo thụ lý vụ án gửi các bên đương sự và Viện kiểm sát cùng cấp theo đúng quy định tại Điều 195, 196 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Áp dụng Điều 166, khoản 1 Điều 170 Luật đất đai năm 2013; Điều 164 của Bộ luật dân sự năm 2015;

Áp dụng khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí.

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Hà Văn T đối với hộ ông Hoàng Văn Đ và hộ ông Hoàng Ngọc T1.

Buộc hộ ông Hoàng Ngọc T1 phải khai thác toàn bộ số cây lâm nghiệp trên đất cụ thể gồm: 2.250 cây bồ đề. Trả lại cho hộ ông T diện tích 1,5ha tại Đ, khu C, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ.

Về chi phí tố tụng: Do yêu cầu của phía nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ nên phía bị đơn phải chịu toàn bộ chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là: 3.000.000đ. Xác nhận nguyên đơn đã nộp đủ. Nên buộc bị đơn phải trả lại cho nguyên đơn số tiền chi phí tố tụng là 3.000.000đ.

Về án phí: Nguyên đơn và bị đơn đều sinh sống tại xã khó khăn, có đơn xin miễn án phí thuộc trường hợp được miễn nộp án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về trình tự, thủ tục tố tụng:

Ông Hà Văn T có đơn khởi kiện, yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ buộc hộ ông Hoàng Văn Đ và hộ ông Hoàng Ngọc T1 trả lại diện tích đất đã lấn chiếm của gia đình ông tại Đ thuộc khu C, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Căn cứ vào khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ.

[2]. Về xác định tư cách người tham gia tố tụng:

2.1. Đối với các thành viên trong hộ gia đình ông Hà Văn T thời điểm được giao đất năm 1997 có vợ là bà Nguyễn Thị D1 và 02 người con gồm: Hà Văn K1 sinh 1994 và Hà Thị Á sinh năm 1996. Hồ sơ giao đất đứng tên ông Hà Văn T là người

5

trực tiếp quản lý, sử dụng diện tích đất được giao nên những thành viên gia đình ông không tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là phù hợp.

2.2. Đối với hộ ông Hoàng Văn Đ các thành viên trong hộ gia đình ông thời điểm được giao đất năm 1998, hộ gia đình có vợ là bà Phùng Thị G và 05 người con gồm: anh Hoàng Văn S, chị Hoàng Thị L, chị Hoàng Thị X, anh Hoàng Văn N và anh Hoàng Văn C là những người trong hàng thừa kế thứ nhất, ủy quyền cho ông Đ tham gia tố tụng trong vụ án và tại phiên tòa ngày hôm nay, bà G cùng anh S, chị L, chị X, anh N và anh C đều vắng mặt. Căn cứ khoản 2 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Tân Sơn xét xử vắng mặt các thành viên trong hộ gia đình ông Hoàng Văn Đ là phù hợp.

2.3. Đối với hộ ông Hoàng Ngọc T1 và các thành viên trong hộ gia đình ông thời điểm xảy ra tranh chấp đất năm 2023 có vợ là bà Nguyễn Thị H1 cùng 02 người con là anh Hoàng Văn K và chị Hoàng Thị S2 và 01 con dâu là chị Hà Thị S1 ủy quyền cho ông Hoàng Ngọc T1 tham gia tố tụng trong vụ án và tại phiên tòa ngày hôm nay, bà H1 cùng anh K, chị S2 và chị S1 đều vắng mặt. Căn cứ khoản 2 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Tân Sơn xét xử vắng mặt các thành viên trong hộ gia đình ông Hoàng Ngọc T1 là phù hợp.

[3]. Về nguồn gốc sử dụng đất của ông Hà Văn T:

Ngày 28/8/1997, ông Hà Văn T làm đơn xin nhận đất lâm nghiệp tại Đồi M, khu C, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Ngày 14/2/1998, UBND huyện T, tỉnh Phú Thọ (nay là huyện T, tỉnh Phú Thọ) ban hành Quyết định giao đất cho ông Hà Văn T. Đến ngày 06/12/1998 UBND huyện T đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Hà Văn T tại tờ bản đồ F48 K3 A93; số thửa 331; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H00827/QSDĐ 3-179 cấp ngày 06/12/1998 thời hạn sử dụng 50 năm mang tên ông Hà Văn T.

[4]. Về nguồn gốc sử dụng đất của hộ ông Hoàng Văn Đ:

Ngày 27/8/1998, gia đình ông làm đơn xin nhận đất lâm nghiệp tại Đồi M, khu C, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Ngày 14/2/1998, UBND huyện T, tỉnh Phú Thọ (nay là huyện T, tỉnh Phú Thọ) ban hành Quyết định giao đất cho hộ ông Hoàng Văn Đ. Đến ngày 02/11/1998 UBND huyện T đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Hoàng Văn Đ tại tờ bản đồ F48.103A-a3; số thửa 328; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H00058/QSDĐ cấp ngày 02/11/1998 thời hạn sử dụng năm 2048 mang tên hộ ông Hoàng Văn Đ tại Đ, khu C, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Gia đình ông Đ canh tác, sử dụng đất từ đó đến năm 2018 thì gia đình ông Đ đã chuyển nhượng 0,9 ha đất cho gia đình ông Hoàng Ngọc T1.

6

[5]. Xét quá trình sử dụng đất và tranh chấp phát sinh:

Kể từ thời điểm được cấp đất, gia đình ông T canh tác liên tục không có phát sinh tranh chấp. Cho đến khoảng đầu năm 2022, hộ nhà ông Hoàng Văn Đ và hộ ông T1 có canh tác vào một phần diện tích đất nằm trong 20,5ha đất mà ông T được cấp. Ông T nhiều lần nhắc nhở, yêu cầu ông Đ, ông T1 phải khai thác cây để trả lại đất cho ông T. Quá trình giải quyết tại Tòa án ông Đ cho rằng phần đất này là của gia đình ông được cấp tại tờ bản đồ F48.103A-a3; số thửa 328; giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H00058/QSDĐ cấp ngày 02/11/1998 mang tên hộ ông Hoàng Văn Đ có diện tích 0,9 ha tại Đ, khu C, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ đã được gia đình ông chuyển nhượng cho ông Hoàng Ngọc T1 (giấy ghi ngày 27/5/2018) nay ông không liên quan.

Quá trình giải quyết tại Tòa án ngày 02/02/2024, ông Hà Văn T có đơn khởi kiện bổ sung đối với hộ gia đình ông Hoàng Ngọc T1 yêu cầu: Hộ ông Hoàng Ngọc T1 phải khai thác toàn bộ cây trên đất để trả lại 15.053,2 m² đất Lâm nghiệp tại Đồi M, khu C, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ theo sơ đồ tranh chấp có các điểm: 1,23,22,21,20,19,29,28,27,26,25,24,1 (Kèm theo sơ đồ đo vẽ lập ngày 04/01/2024).

Về tài sản trên đất: Toàn bộ số cây trồng trên diện tích 15.053,2m² đất gồm: 2.250 cây bồ đề đường kính 1,5 cm đến 5 cm được xác định là của hộ gia đình ông Hoàng Ngọc T1 trồng năm 2022.

Tại biên bản định giá tài sản của Hội đồng định giá huyện T đã định giá như sau:

  • - Diện tích đất tranh chấp: 15.053m², trị giá: 10.000đ/m² = 150.000.000đ.
  • - Cây trồng trên đất: 2.250 cây bồ đề 3 năm tuổi, đường kính 1,5 đến 5 cm. Trị giá: 2.250 x 12.400đ/cây = 27.900.000đ.

[6]. Về pháp luật nội dung:

Đối với yêu cầu của Nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy: Căn cứ vào các nhận định nêu trên đã có đủ cơ sở để chấp nhận yêu cầu đòi lại phần đất thuộc quyền sử dụng của ông Hà Văn T bởi: Năm 1998 ông được UBND huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại tờ bản đồ F48 K3 A93; số thửa 331; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H00827/QSDĐ 3-179 cấp ngày 06/12/1998, thời hạn sử dụng 50 năm, mang tên ông Hà Văn T.

Xét thấy: Theo kết quả xác minh tại UBND xã T thì những năm 1996 đến 1999 UBND huyện T (nay là huyện T) triển khai thực hiện chủ chương của Chính phủ về việc giao đất, giao rừng cho cá nhân, tổ chức và hộ gia đình. Địa phương đã triển khai đến toàn thể người dân ở địa phương. Năm 1998 ông T được UBND huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại tờ bản đồ F48 K3 A93; số thửa 331; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H00827/QSDĐ 3-179 cấp ngày 06/12/1998, thời

7

hạn sử dụng 50 năm, mang tên ông Hà Văn T.

Cùng thời điểm, hộ ông Hoàng Văn Đ được UBND huyện T (nay là huyện T) cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại tờ bản đồ F48.103A-a3; số thửa 328; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H00058/QSDĐ cấp ngày 02/11/1998, thời hạn sử dụng đến năm 2048, mang tên hộ ông Hoàng Văn Đ tại Đ, khu C, xã T, huyện T. Đến năm 2022 thì gia đình ông Đ đã chuyển nhượng 0,9 ha đất cho gia đình ông Hoàng Ngọc T1.

Theo kết quả xác minh, thẩm định và căn cứ theo quy định của pháp luật thì đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý, Nhà nước là cơ quan giao đất cho cá nhân, hộ gia đình, tổ chức sử dụng đất. Trước khi được giao đất, hộ gia đình không có quyền sử dụng đất mà chỉ là sử dụng đất tự phát. Từ năm 1996 đến năm 1999 Nhà nước có chủ trương giao đất lâm nghiệp căn cứ vào nhu cầu sử dụng của hộ gia đình, cá nhân. Theo hồ sơ ông T; hồ sơ hộ ông Đ cung cấp, thì ông T; hộ ông Đ đều đã làm đơn đề nghị và được giao đất với diện tích hộ ông Đ là 9000m²; ông T được giao 20,5 ha đất trồng rừng

Hồ sơ giao đất của các hộ có đầy đủ các thủ tục như: Đơn xin nhận đất, bản đồ giao đất, Quyết định của UBND huyện, biên bản giao nhận đất lâm nghiệp tại thực địa và đối tượng được giao đất đều phù hợp với quy định tại Nghị định số 02/CP ngày 15/01/1994 của Chính phủ về việc giao đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích lâm nghiệp.

Do đó ông T; hộ ông Đ có quyền sử dụng đối với các thửa đất được giao là đúng quy định. Ông T; hộ ông Đ xác nhận, sau khi được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất gia đình ông không có khiếu nại về việc giao đất.

Đến năm 2018 thì gia đình ông T1 nhận quyền sử dụng đất Lâm nghiệp từ hộ ông Đ diện tích 0,9 ha. Việc hai bên tự mua bán hoặc tặng cho nhau giữa hai hộ là tự nguyện. Tuy nhiên, hộ ông Hoàng Ngọc T1 với hộ ông Hoàng Văn Đ đã không đến UBND xã hoặc cơ quan có thẩm quyền để xác định diện tích, vị trí số lô số thửa nên hộ ông T1 canh tác trồng cây sai vị trí không đúng thửa đất của hộ ông Đ được giao. Hơn nữa việc chuyển nhượng đất giữa hộ ông T1 và hộ ông Đ chưa được cơ quan có thẩm quyền nào xác nhận giao mốc giới, chỉ rõ vị trí số lô, số thửa, do không đến cơ quan có thẩm quyền nên hộ gia đình ông T1 đã trồng cây sai vị trí, lấn sang phần đất của ông T được cấp.

Theo quy định tại Điều 166 của Luật đất đai năm 2013 về quyền của người sử dụng đất thì:

“Điều 166. Quyền chung của người sử dụng đất

8

  1. 1. Được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.
  2. 2. Hưởng thành quả lao động, kết quả đầu tư trên đất.
  3. 3. Hưởng các lợi ích do công trình của Nhà nước phục vụ việc bảo vệ, cải tạo đất nông nghiệp.”

Đối chiếu với quy định của pháp luật và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã xác định được: Nguyên đơn đã được cơ quan có thẩm quyền giao quyền sử dụng đất theo hồ sơ giao đất lâm nghiệp năm 1997 nên được hưởng các quyền lợi của Người sử dụng đất và được bảo vệ trong quá trình sử dụng đất.

Từ những nhận định trên có đủ căn cứ xác định việc ông T khởi kiện hộ gia đình ông T1 trả lại diện tích lấn chiếm là 15.053,2 m² nằm trong 20,5 ha đất lâm nghiệp mà ông T được UBND huyện T (nay là huyện T) giao quyền sử dụng tại thửa số 331; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H00827/QSDĐ 3-179 cấp ngày 06/12/1998, thời hạn sử dụng 50 năm, mang tên ông Hà Văn T đang quản lý và sử dụng là phù hợp với Điều 166 Luật đất đai và Điều 164 của Bộ luật dân sự.

Đối tài sản trên đất đang tranh chấp: Theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 04/01/2024 và biên bản định giá tài sản cùng ngày của Hội đồng định giá huyện T thì hiện gia đình ông T1 là người trực tiếp quản lý 2.250 cây Bồ đề, cần buộc gia đình ông T1 khai thác để trả lại đất cho ông Hà Văn T.

[7]. Quan điểm của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đều thống nhất xác nhận tại vị trí tiếp giáp với đất Lâm nghiệp của ông Hà Văn T là không có tranh chấp, Hội đồng xét xử không xem xét.

[8]. Về chi phí tố tụng:

Ngày 25/12/2023 Nguyên đơn đã nộp 3.000.000đ (ba triệu đồng) tiền tạm ứng chi phí thẩm định, định giá tài sản. Do yêu cầu của Nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ nên Bị đơn phải chịu toàn bộ chi phí thẩm định, định giá tài sản.

Vào năm 2018, gia đình ông Hoàng Văn Đ đã chuyển nhượng toàn bộ diện tích đất cho gia đình ông Hoàng Ngọc T1. Theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 04/01/2024 và biên bản định giá tài sản cùng ngày của Hội đồng định giá huyện T xác định hiện gia đình ông T1 là người trực tiếp quản lý, sử dụng 1,5ha diện tích đất đang tranh chấp và tài sản trên đất. Do đó gia đình ông Hoàng Ngọc T1 phải có trách nhiệm trả lại cho ông Hà Văn T 3.000.000đ (ba triệu đồng) tiền chi phí thẩm định, định giá tài sản.

9

[9] Về án phí:

Nguyên đơn; Bị đơn đều là người Dân tộc thiểu số sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn và có đơn xin miễn tiền án phí. Do đó, miễn toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm cho Nguyên đơn; Bị đơn là phù hợp.

[10]. Về quyền kháng cáo:

Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Đề nghị của Kiểm sát viên là phù hợp, Hội đồng xét xử chấp nhận.

Đề nghị của Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho Nguyên đơn là có căn cứ nên được chấp nhận.

Đề nghị của Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho Bị đơn là không có căn cứ nên không được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 166, khoản 1 Điều 170 Luật đất đai năm 2013;

Căn cứ Điều 164 Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14, Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Hà Văn T đối với hộ ông Hoàng Văn Đ và hộ ông Hoàng Ngọc T1.

    Buộc hộ ông Hoàng Ngọc T1 phải khai thác 2.250 cây bồ đề để trả lại cho ông Hà Văn T 15.053,2m² đất Lâm nghiệp theo sơ đồ tranh chấp có các điểm: 1,23,22,21,20,19,29,28,27,26,25,24,1 tại Đồi M, khu C, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ (Kèm theo sơ đồ đo vẽ lập ngày 04/01/2024).

  2. Về án phí: Nguyên đơn, Bị đơn đều người Dân tộc thiểu số sinh sống tại xã có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn trên địa bàn huyện nên không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
  3. Về chi phí tố tụng: Chi phí thẩm định, định giá ngày 04/01/2024 là 3.000.000đ (ba triệu đồng). Do yêu cầu của Nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ nên Bị đơn ông Hoàng Ngọc T3 phải trả cho Nguyên đơn ông Hà Văn T 3.000.000đ (ba triệu đồng).
  4. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn; Bị đơn có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, những người vắng mặt tại phiên Tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được

10

tống đạt hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm.

  1. Trong trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì Người được thi hành án dân sự, Người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thi hành theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Phú Thọ;
  • - VKSND tỉnh Phú Thọ;
  • - VKSND huyện Tân Sơn;
  • - THADS huyện Tân Sơn;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Đinh Văn Chí

11

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 02/2024/DS-ST ngày 23/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN SƠN TỈNH PHÚ THỌ về tranh chấp quyền sử dụng đất lâm nghiệp

  • Số bản án: 02/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất Lâm nghiệp
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN SƠN TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ông T khởi kiện ông Đ và ông T1
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger