Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THOẠI SƠN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02/2024/KDTM-ST

Ngày: 22/4/2024

V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng,

hợp đồng thế chấp tài sản (QSDĐ)

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Cẩm Xuyên.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Lê Văn Hoàng;
  2. Ông Huỳnh Văn Tý.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đào Công Minh – Thư ký Toà án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lam Em – Kiểm sát viên.

Trong ngày 22 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số: 11/2023/TLST-KDTM ngày 27/11/2023 về việc: “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp tài sản (quyền sử dụng đất)” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2024/QĐXXST-KDTM ngày 26/3/2024 và thông báo dời ngày xét xử: 09/2024/TB-XX ngày 11/4/2024 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP T5 (P) (tên cũ là Ngân hàng TMCP X (P1))

(Mã số doanh nghiệp: 1400116233, đăng ký lần đầu ngày 19/11/1993; Đăng ký thay đổi lần thứ 24 ngày 21/12/2023)

Trụ sở: Tầng A, 23, 24 Tòa nhà M, số B T, phường N, quận Đ, thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Mạnh T – Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phù Tèn Ú – Chức vụ: Giám đốc chi nhánh A1 - Ngân hàng TMCP X.

Người đại diện theo ủy quyền của ông Ú:

  • Ông Phạm Văn Triệt E, chức vụ: Chuyên viên phòng xử lý và thu hồi nợ Ngân hàng TMCP X, địa chỉ: Số A, đường T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. Số điện thoại: 0948.897.xxx (có mặt)
  • Ông Nguyễn Chí T1, chức vụ: Chuyên viên phòng xử lý và thu hồi nợ Ngân hàng TMCP X, địa chỉ: Số A, đường T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. Số điện thoại: 0918.799.xxx (vắng mặt)

Địa chỉ nhận thông báo, văn bản tố tụng của Tòa án: Ngân hàng TMCP T5 (P) (tên cũ là Ngân hàng TMCP X (P1)). Số A, đường T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. Số điện thoại: 0948.897.xxx (Triệt Em).

* Bị đơn: Công ty TNHH X1

(Số ĐKKD: 1601522274 do Sở kế hoạch và đầu tư tỉnh A cấp, đăng ký lần đầu ngày 08/8/2011, đăng ký thay đổi lần thứ 5 ngày 24/8/2023).

(Hiện đã tạm ngừng kinh doanh từ ngày 01/01/2024 đến ngày 31/12/2024 theo Giấy xác nhận về việc doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh số 15560/23 ngày 28/12/2023 của Phòng đăng ký kinh doanh Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh A).

Trụ sở: Ấp T, xã V, huyện T, tỉnh An Giang.

Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thị H, chức vụ: Giám đốc. Địa chỉ: Số F Lô I, đường N, khóm B, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. (có mặt)

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Nguyễn Thị Thu L, sinh năm 1962 (vắng mặt)
  2. Địa chỉ: Số F Lô I, đường N, khóm B, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.

    Người đại diện theo ủy quyền của bà L: Bà Nguyễn Thị H, chức vụ: Giám đốc. Địa chỉ: Số F Lô I, đường N, khóm B, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. (có mặt)

  3. Nguyễn Thị H, sinh năm 1961 (có mặt)
  4. Ông Nguyễn Quốc T2, sinh năm 1966 (vắng mặt – có đơn xin vắng mặt)
  5. Ông Nguyễn Quốc H1, sinh năm 1963 (vắng mặt – có đơn xin vắng mặt)
  6. Anh Nguyễn Tú A, sinh năm 1982 (vắng mặt – có đơn xin vắng mặt)
  7. Anh Nguyễn Hoàng S, sinh năm 1996 (vắng mặt – có đơn xin vắng mặt)
  8. Anh Nguyễn Hoàng L1, sinh năm 1999 (vắng mặt – có đơn xin vắng mặt)
  9. Cháu Nguyễn Ngô Gia B, sinh năm 2013 (vắng mặt)

Cùng địa chỉ: Số F Lô I - N, đường N, khóm B, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.

Người đại diện theo pháp luật của cháu B: Ông Nguyễn Tú A (cha ruột của cháu B), sinh năm 1982, địa chỉ: Số F Lô I - N, đường N, khóm B, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. (vắng mặt – có đơn xin vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa ông Phạm Văn T3 Em là người đại diện hợp pháp của nguyên đơn Ngân hàng TMCP T5 (P) trình bày:

Công Ty TNHH X1 (gọi tắt là Công ty X1) có vay vốn tại Ngân hàng TMCP T5 (P) (gọi tắt là Ngân hàng P) theo Hợp đồng tín dụng số 540.0487/2022/HĐTDHM-DN/PGBankAG ngày 23/11/2022, Phụ lục số 540.0487.01/PL- HĐTD ngày 23/11/2022, Hợp đồng tín dụng số 540.0345/2021/HĐTDHM-DN/PGBankAG ngày 07/10/2021, các hợp đồng, phụ lục hợp đồng, khế ước nhận nợ, hợp đồng cấp bảo lãnh đã ký với Ngân hàng TMCP T5 và Phát Triển với những nội dung chính như sau:

Hợp đồng tín dụng số 540.0487/2022/HĐTDHM-DN/PGBankAG ngày 23/11/2022 và Phụ lục số 540.0487.01/PL-HĐTD ngày 23/11/2022:

Hạn mức tín dụng là: 22.000.000.000 đồng (Hai mươi hai tỷ đồng), trong đó:

  • Hạn mức cho vay không vượt quá: 4.500.000.000 đồng (Bốn tỷ năm trăm triệu đồng);
  • Hạn mức cấp bảo lãnh không vượt quá: 17.500.000.000 đồng (Mười bảy tỷ năm trăm triệu đồng);

Thời hạn cấp HMTD: 12 tháng, kể từ ngày 23/11/2022 đến ngày 23/11/2023.

Mục đích sử dụng: Bổ sung vốn lưu động xây dựng công trình; Phát hành bảo lãnh dự thầu, bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảo lãnh tạm ứng; phát hành cam kết tài chính (Xác nhận cấp tín dụng).

Lãi suất cho vay trong hạn: theo mức lãi suất được các bên thỏa thuận cụ thể tại khế ước nhận nợ, phương thức và thời hạn điều chỉnh lãi suất theo thỏa thuận cụ thể tại khế ước nhận nợ;

Lãi suất quá hạn: bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn trên số dư nợ gốc quá hạn tương ứng với thời gian chậm trả;

Lãi suất chậm trả lãi: 150% lãi suất cho vay trong hạn nhưng không vượt quá 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.

Thực hiện Hợp đồng tín dụng này, P đã giải ngân cho Khách hàng 08 lần với tổng số tiền cho vay là 4.499.344.575 đồng theo các khế ước nhận nợ và hợp đồng cấp bảo lãnh như sau:

  • Khế ước nhận nợ số 540.0487.01/2022/KUNN-DN/PGBankAG ngày 25/11/2022, với số tiền giải ngân là 378.402.785 đồng;
  • Khế ước nhận nợ số 540.0487.02/2022/KUNN-DN/PGBankAG ngày 06/12/2022 với số tiền giải ngân là 100.000.000 đồng;
  • Khế ước nhận nợ số 540.0487.03/2022/KUNN-DN/PGBankAG ngày 14/12/2022 với số tiền giải ngân là 650.000.000 đồng
  • Khế ước nhận nợ số 540.0487.04/2022/KUNN-DN/PGBankAG ngày 26/12/2022 với số tiền giải ngân là 550.000.000 đồng;
  • Khế ước nhận nợ số 540.0487.05/2022/KUNN-DN/PGBankAG ngày 03/1/2023 với số tiền giải ngân là 1.120.000.000 đồng;
  • Khế ước nhận nợ số 540.0487.06/2022/KUNN-DN/PGBankAG ngày 16/1/2023 với số tiền giải ngân là 700.000.000 đồng;
  • Khế ước nhận nợ số 540.0487.07/2022/KUNN-DN/PGBankAG ngày 17/1/2023 với số tiền giải ngân là 500.000.000 đồng;
  • Khế ước nhận nợ số 540.0487.08/2022/KUNN-DN/PGBankAG ngày 07/4/2023 với số tiền giải ngân là 500.941.790 đồng.

Hợp đồng tín dụng số 540.0345/2021/HĐTDHM-DN/PGBankAG ngày 07/10/2021:

Hạn mức tín dụng là: 16.000.000.000 đồng (Mười sáu tỷ đồng), trong đó:

  • Hạn mức cho vay không vượt quá: 3.750.000.000 đồng (Ba tỷ bảy trăm năm mươi triệu đồng);
  • Hạn mức cấp bảo lãnh không vượt quá: 16.000.000.000 đồng (Mười sáu tỷ đồng); Thời hạn cấp HMTD: 12 tháng, kể từ ngày 07/10/2021 đến ngày 07/10/2022.

Mục đích sử dụng: Bổ sung vốn lưu động phục vụ sản xuất kinh doanh ngành nghề xây dựng; Phát hành bảo lãnh dự thầu, bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảo lãnh hoàn trả tiền ứng trước, bảo lãnh bảo hành và các bảo lãnh khác theo quy định (không bao gồm bảo lãnh vay vốn tại các TCTD khác), phát hành cam kết tín dụng tham gia dự thầu các công trình xây dựng.

Lãi suất cho vay trong hạn: theo mức lãi suất được các bên thỏa thuận cụ thể tại khế ước nhận nợ;

Lãi suất quá hạn: bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn trên số dư nợ gốc quá hạn tương ứng với thời gian chậm trả;

Lãi suất chậm trả lãi: bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn nhưng không vượt quá 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.

Thực hiện Hợp đồng tín dụng này, P đã giải ngân cho Khách hàng 04 lần với tổng số tiền cho vay là 4.689.944.939 đồng theo hợp đồng cấp bảo lãnh như sau:

  • Hợp đồng cấp bảo lãnh số 03.AG/HMCBL.0345/2021/PGB ngày 18/10/2021 với số tiền giải ngân là 2.014.462.422 đồng;
  • Hợp đồng cấp bảo lãnh số 44.AG/HMCBL.0345/2021/PGB ngày 27/6/2022 với số tiền giải ngân là 609.285.600 đồng;
  • Hợp đồng cấp bảo lãnh số 46.AG/HMCBL.0345/2021/PGB ngày 28/6/2022 với số tiền giải ngân là 1.216.848.600 đồng;
  • Hợp đồng cấp bảo lãnh số 02.AG/HMCBL.0487/2022/PGB ngày 27/12/2022 và Hợp đồng cấp bảo lãnh số 03.AG/HMCBL.0487/2022/PGB ngày 27/12/2022 với số tiền giải ngân là 847.348.317 đồng.

Để đảm bảo cho các khoản vay trên Công ty X1 có thể chấp cho Ngân hàng P các tài sản sau:

Toàn bộ quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở tại: Thửa đất số 58, tờ bản đồ 17, diện tích 132.5 m², loại đất ở đô thị, địa chỉ: Phường M, TP L, Tỉnh An Giang. Tài sản gắn liền với đất là nhà ở, cấp 3A, số tầng 04, năm xây dựng 2006, kết cấu khung sàn lầu BTCT, nền vách gạch, mái ngói + BTCT, diện tích 308.50 m², địa chỉ hẻm Đ, khóm B, phường M, TP L, tỉnh An Giang. Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AP 644137, số vào sổ cấp GCN: H.02241cA do UBND Thành Phố L, tỉnh An Giang cấp ngày 08/12/2009 cho Bà Nguyễn Thị Thu L và Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở số 898833028000839, hồ sơ gốc số 008-39 do UBND thành phố L, tỉnh An Giang cấp ngày 08/12/2009 cho bà Nguyễn Thị Thu L.

Toàn bộ vật phụ, tài sản gắn liền với, tài sản được lắp đặt/gắn cố định vào tài sản thế chấp; Toàn bộ hoa lợi, lợi tức, phần giá trị tài sản tăng thêm gắn liền (có thể tách rời hoặc không thể tách rời) với tài sản thế chấp do bên thế chấp đầu tư trong quá trình quản lý, sử dụng tài sản thế chấp và các quyền phát sinh từ tài sản thế chấp; Toàn bộ số tiền, tài sản đền bù, bồi thường (nếu có) liên quan đến tài sản thế chấp; Trong trường hợp tài sản thế chấp phải mua bảo hiểm theo quy định của P thì toàn bộ số tiền bảo hiểm có được (nếu có) cũng là tài sản thế chấp theo quy định tại khoản 1 Điều 11 Hợp đồng thế chấp.

P nhận thế chấp tài sản này theo những H2 đồng/văn bản sau:

  • Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất số 540.0287/2020/BĐ, số công chứng 1850, Quyển số 01/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 10/8/2020 tại Văn phòng C1, tỉnh An Giang;
  • Văn bản sửa đổi, bổ sung Hợp đồng số 540.0287.01/PL-HĐBĐ, số công chứng 3874, Quyển số 01/2021TP/CC-SCC/HĐGD ngày 07/10/2021 tại Văn phòng C1, tỉnh An Giang;
  • Văn bản sửa đổi, bổ sung Hợp đồng số 540.0287.02/PL-HĐBĐ, số công chứng 6279, Quyển số 01/2022 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 23/11/2022 tại Văn phòng C1, tỉnh An Giang;
  • Phiếu yêu cầu đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất tại Văn phòng Đ chi nhánh L2, tỉnh An Giang ngày 10/8/2020.

Thời gian đầu Công ty X1 vẫn trả vốn lãi đầy đủ theo định kỳ hàng tháng. Tuy nhiên, tuy nhiên đến ngày 29/5/2023 Công ty X1 chỉ trả được 867.057 đồng, trong đó gốc là 655.400 đồng và lãi là 211.657 đồng, từ đó về sau Công ty T6 C không trả được số tiền nào nữa dù phía Ngân hàng đã liên hệ đòi nhiều lần, tính đến ngày 22/04/2024 Công ty T6 C còn nợ lại Ngân hàng tổng số tiền là 10.604.408.825 đồng (Mười tỷ, sáu trăm lẻ bốn triệu, bốn trăm lẻ tám ngàn, tám trăm hai mươi lăm đồng) cụ thể:

  • Nợ gốc: 9.187.289.514 đồng.
  • Nợ lãi: 1.417.119.311 đồng.

Trong đó, dư nợ vay gốc là: 4.499.344.575 đồng, dư nợ lãi là: 733.568.933 đồng, dư nợ gốc bảo lãnh là: 4.687.944.939 đồng, dư nợ lãi là: 683.550.378 đồng.

Kể từ ngày phát sinh nợ quá hạn, P1 đã nhiều lần yêu cầu Công ty X1 thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho P1 nhưng đến nay Công ty X1 vẫn chưa trả được nợ. Như vậy Khách hàng Công ty X1 đã vi phạm các điều khoản cam kết về nghĩa vụ trả nợ đã quy định tại Hợp đồng tín dụng và các hợp đồng, phụ lục liên quan khác đã ký với PG Banknên P. Nay P1 yêu cầu Tòa án nhân dân Huyện Thoại Sơn giải quyết những vấn đề sau đây:

- Buộc Công ty TNHH X1 thực hiện nghĩa vụ thanh toán toàn bộ số nợ còn lại của Hợp đồng tín dụng số 540.0487/2022/HĐTDHM-DN/PGBankAG ngày 23/11/2022; Phụ lục số 540.0487.01/PL-HĐTD ngày 23/11/2022; Hợp đồng tín dụng số 540.0345/2021/HĐTDHM-DN/PGBankAG ngày 07/10/2021 và các Hợp đồng, phụ lục hợp đồng, khế ước nhận nợ, hợp đồng cấp bảo lãnh khác đã ký với Ngân hàng TMCP T5Phát T4 tạm tính đến ngày 22/04/2024 là 10.604.408.825 đồng (Mười tỷ, sáu trăm lẻ bốn triệu, bốn trăm lẻ tám ngàn, tám trăm hai mươi lăm đồng) cụ thể: Nợ gốc: 9.187.289.514 đồng. Nợ lãi: 1.417.119.311 đồng. Trong đó, dư nợ vay gốc là: 4.499.344.575 đồng, dư nợ lãi là: 733.568.933 đồng, dư nợ gốc bảo lãnh là: 4.687.944.939 đồng, dư nợ lãi là: 683.550.378 đồng (Tổng số nợ này chưa kể số tiền lãi phát sinh thêm sau ngày 22/04/2024 cho đến ngày khoản vay được thanh toán toàn bộ).

Thời hạn thanh toán: ngay sau khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Lãi sẽ được tiếp tục tính từ ngày 23/04/2024 cho đến khi Khách hàng thanh toán toàn bộ khoản nợ tại P theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng và các Khế ước nhận nợ kèm theo.

Ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, nếu Khách hàng Công ty T6 C không thanh toán hoặc thanh toán không đủ số nợ nêu trên cho P thì đề nghị Tòa án tuyên cho phép P được quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án phát mãi tài sản bảo đảm sau để thu hồi nợ. Trường hợp sau khi xử lý tài sản bảo đảm nêu trên không đủ thực hiện nghĩa vụ trả nợ, P có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án có thẩm quyền xác minh điều kiện thi hành án của Khách hàng để thu hồi toàn bộ khoản nợ.

Đối khoản ký quỹ khoản ký quỹ Nhà đại đội dự bị động viên Ban chỉ huy quân sự thành phố L số tiền là 49.170.600 đồng chưa hết thời hạn bảo lãnh khi hết thời hạn bảo lãnh Ngân hàng cam kết sẽ tiếp tục trích thu nợ. Số tiền còn trong tài khoản của công ty 47.787.600 đồng thì Ngân hàng sẽ trích thu nợ.

* Bị đơn Công ty TNHH X1 do bà Nguyễn Thị H là người đại diện theo pháp luật trình bày: Tôi là người đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH X1 tôi thừa nhận Công ty X1 có ký các Hợp đồng tín dụng số 540.0487/2022/HĐTDHM-DN/PGBankAG ngày 23/11/2022; Phụ lục số 540.0487.01/PL-HĐTD ngày 23/11/ 2022; Hợp đồng tín dụng số 540.0345/2021/HĐTDHM-DN/PGBankAG ngày 07/10/2021 và các Hợp đồng, Phụ lục hợp đồng, K ước nhận nợ, Hợp đồng cấp bảo lãnh khác đã ký với Ngân hàng TMCP T5 (P) (tên cũ là Ngân hàng TMCP X (P1)) như đại diện Ngân hàng đã trình bày. Tính đến ngày 22/4/2024 Công ty T6 C còn thiếu lại Ngân hàng P tổng số tiền là 10.604.408.825 đồng (Mười tỷ, sáu trăm lẻ bốn triệu, bốn trăm lẻ tám ngàn, tám trăm hai mươi lăm đồng), cụ thể: Nợ gốc: 9.187.289.514 đồng. Nợ lãi: 1.417.119.311 đồng. Trong đó, dư nợ vay gốc là: 4.499.344.575 đồng, dư nợ lãi là: 733.568.933 đồng, dư nợ gốc bảo lãnh là: 4.687.944.939 đồng, dư nợ lãi là: 683.550.378 đồng (Tổng số nợ này chưa kể số tiền lãi phát sinh thêm sau ngày 22/04/2024 cho đến ngày khoản vay được thanh toán toàn bộ). Công ty T6 C đồng ý tất toán toàn bộ khoản nợ trên cho Ngân hàng, tuy nhiên hiện tại Công ty X1 đã làm thủ tục thông báo tạm ngừng kinh doanh 01 năm tại Sở kế hoạch đầu tư tỉnh An Giang từ ngày 01/01/2024 đến 31/12/2024 và tôi đã nộp hồ sơ cho Tòa án. Do đó, phía Công ty có nguyện vọng Ngân hàng có thể giảm lãi hoặc không tính lãi suất từ ngày 01/01/2024 đến 31/12/2024 cho công ty để công ty có thể vượt qua giai đoạn khó khăn hiện tại.

Bên cạnh đó đối với khoản ký quỹ Nhà đại đội dự bị động viên Ban chỉ huy quân sự Thành phố L số tiền là 49.170.600 đồng chưa hết thời hạn bảo lãnh nên khi hết thời hạn bảo lãnh đề nghị Ngân hàng sẽ tiếp tục trích thu nợ, số tiền còn trong tài khoản của công ty D thì Ngân hàng phải trích thu nợ.

* Lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Thu L do bà Nguyễn Thị H là người đại diện theo ủy quyền trình bày: Bà L thừa nhận có ký kết Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất số 540.0287/2020/BĐ, ngày 10/8/2020 (Văn bản sửa đổi, bổ sung Hợp đồng số 540.0287.01/PL-HĐBĐ ngày 07/10/2021 và Văn bản sửa đổi, bổ sung Hợp đồng số 540.0287.02/PL-HĐBĐ ngày 23/11/2022) với Ngân hàng TMCP T5 (P) theo đó bà là người đồng ý cho thế chấp tài sản nhà và đất (đúng như kết quả thẩm định tài sản của Tòa án) do bà đứng tên gồm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: H.02241cA ngày 08/12/2009 và Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà số 008-39 ngày 18/12/2009 để cho Công ty T6 C vay ngân hàng P số tiền 4.500.000.000 đồng (bốn tỷ năm trăm triệu đồng) tạo điều kiện thuận lợi cho Công ty X1 hoạt động kinh doanh, tuy nhiên việc kinh doanh không hiệu quả dẫn đến việc phải tạm ngừng, bà L cho rằng đó là trách nhiệm của Công ty X1, không phải lỗi của bà L nên bà L không đồng ý ký bàn giao tài sản nhà và đất trên cho Ngân hàng.

* Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án và tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị H trình bày: Tôi là chị ruột của bà Nguyễn Thị L, tôi đang sống trong căn nhà có địa chỉ số F Lô I, đường N, khóm B, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang thuộc quyền sở hữu của bà Nguyễn Thị L. Đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP T5 (P) về ngôi nhà và đất này tôi không có ý kiến yêu cầu gì, nếu sau này có thi hành án về căn nhà, đất sử dụng thì tôi sẽ tìm nơi khác để ở.

* Tại tờ tự khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Quốc T2 trình bày: Tôi là em ruột của bà Nguyễn Thị L, tôi đang sống trong căn nhà có địa chỉ số F Lô I, đường N, khóm B, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang thuộc quyền sở hữu của bà Nguyễn Thị L. Đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP T5 (P) về ngôi nhà và đất này tôi không có ý kiến yêu cầu gì, nếu sau này có thi hành án về căn nhà, đất sử dụng thì tôi sẽ tìm nơi khác để ở.

* Tại tờ tự khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Quốc H1 trình bày: Tôi là em ruột của bà Nguyễn Thị L, tôi đang sống trong căn nhà có địa chỉ số F Lô I, đường N, khóm B, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang thuộc quyền sở hữu của bà Nguyễn Thị L. Đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP T5 (P) về ngôi nhà và đất này tôi không có ý kiến yêu cầu gì, nếu sau này có thi hành án về căn nhà, đất sử dụng thì tôi sẽ tìm nơi khác để ở.

* Tại tờ tự khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và cũng là người đại diện theo pháp luật của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cháu Nguyễn Ngô Gia B anh Nguyễn Tú A trình bày: Tôi là cháu của bà Nguyễn Thị L, cháu Nguyễn Ngô Gia B là con ruột của tôi (chưa đủ 18 tuổi), tôi và cháu B đang sống trong căn nhà có địa chỉ số F Lô I, đường N, khóm B, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang thuộc quyền sở hữu của bà Nguyễn Thị L. Đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP T5 (P) về ngôi nhà và đất này tôi và cháu B không có ý kiến yêu cầu gì, nếu sau này có thi hành án về căn nhà, đất sử dụng thì tôi và cháu B sẽ tìm nơi khác để ở.

* Tại tờ tự khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Hoàng S trình bày: Tôi là cháu của bà Nguyễn Thị L, tôi đang sống trong căn nhà có địa chỉ số F Lô I, đường N, khóm B, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang thuộc quyền sở hữu của bà Nguyễn Thị L. Đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP T5 (P) về ngôi nhà và đất này tôi không có ý kiến yêu cầu gì, nếu sau này có thi hành án về căn nhà, đất sử dụng thì tôi sẽ tìm nơi khác để ở.

* Tại tờ tự khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Hoàng L1 trình bày: Tôi là cháu của bà Nguyễn Thị L, tôi đang sống trong căn nhà có địa chỉ số F Lô I, đường N, khóm B, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang thuộc quyền sở hữu của bà Nguyễn Thị L. Đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP T5 (P) về ngôi nhà và đất này tôi không có ý kiến yêu cầu gì, nếu sau này có thi hành án về căn nhà, đất sử dụng thì tôi sẽ tìm nơi khác để ở.

Tại phiên tòa: Ông Nguyễn Hồ K1 là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng P1 có mặt; bà Nguyễn Thị H là người đại diện theo pháp luật của bị đơn Công ty X1, là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và cũng là người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Thu L có mặt; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Quốc T2, ông Nguyễn Quốc H3, anh Nguyễn Tú A, anh Nguyễn Hoàng S, anh Nguyễn Hoàng L1 và cháu Nguyễn Ngô Gia B vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

- Về việc kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là tuân thủ đúng quy định pháp luật.

- Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ Điều 295, 298, 299, 317, 318, 319, 320, 321,323, 330, 463, 466, 468 BLDS 2015, Điều 90, Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét tuyên: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn;

- Buộc bị đơn có trách nhiệm trả cho nguyên đơn số tiền tạm tính đến ngày 22/4/2024 là 10.604.408.825 đồng gồm nợ gốc: 9.187.289.514 đồng, nợ lãi: 1.417.119.311 đồng. Trong đó, dư nợ vay gốc là: 4.499.344.575 đồng, dư nợ lãi là: 733.568.933 đồng, dư nợ gốc bảo lãnh là: 4.687.944.939 đồng, dư nợ lãi là: 683.550.378 đồng; Tiếp tục chịu lãi phát sinh theo Hợp đồng tín dụng đã ký.

- Tiếp tục duy trì Hợp đồng thế chấp tài sản để đảm bảo thi hành án.

- Đối với khoản ký quỹ Nhà đại đội dự bị động viên BCH quân sự thành phố L số tiền là 49.170.600 đồng chưa hết thời hạn bảo lãnh khi hết thời hạn bảo lãnh sẽ tiếp tục trích thu nợ. Số tiền còn trong tài khoản của công ty 47.787.600 đồng thì Ngân hàng sẽ trích thu nợ.

- Án phí: bị đơn chịu án phí và chi phí tố tụng theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Căn cứ trên yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì quan hệ pháp luật tranh chấp giữa các đương sự được xác định là hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp tài sản (QSDĐ), chủ thể trong hợp đồng và thực hiện hợp đồng Ngân hàng TMCP T5 và Phát triển (P) (tên cũ là Ngân hàng TMCP X (P1)) và Công ty TNHH X1 đều có tư cách pháp nhân, có mục đích kinh doanh và lợi

nhuận nên đây là tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 và khoản 12 Điều 3 Luật Thương mại năm 2005 (sửa đổi năm 2017); khoản 1 Điều 30 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn có địa chỉ kinh doanh trên địa bàn huyện T, tỉnh An Giang nên căn cứ điểm b khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.

[1.2] Tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Quốc T2, ông Nguyễn Quốc H3, anh Nguyễn Tú A, anh Nguyễn Hoàng S, anh Nguyễn Hoàng L1 và cháu Nguyễn Ngô Gia B vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt. Do vậy, HĐXX căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trên.

[2] Về nội dung:

[2.1] Xét tính hợp pháp của Hợp đồng tín dụng và Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất:

[2.1.1] Hợp đồng tín dụng số 540.0487/2022/HĐTDHM-DN/PGBankAG ngày 23/11/2022, Hợp đồng tín dụng số 540.0345/2021/HĐTDHM-DN/PGBankAG ngày 07/10/2021 được ký kết giữa Ngân hàng P với Công ty X1 là hợp pháp, vì thỏa mãn các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự theo quy định giao dịch dân sự nói chung (Điều 117 Bộ luật dân sự) cũng như các điều kiện có hiệu lực của Hợp đồng tín dụng theo quy định của Luật tổ chức tín dụng nên có giá trị bắt buộc với các bên tham gia giao dịch.

[2.1.2] Xét hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất:

Căn cứ trên Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất số 540.0287/2020/BĐ, ngày 10/8/2020 (Văn bản sửa đổi, bổ sung Hợp đồng số 540.0287.01/PL-HĐBĐ ngày 07/10/2021 và Văn bản sửa đổi, bổ sung Hợp đồng số 540.0287.02/PL-HĐBĐ ngày 23/11/2022) thì tài sản thế chấp là toàn bộ quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở tại: Thửa đất số 58, tờ bản đồ 17, diện tích 132.5 m², loại đất ở đô thị, địa chỉ: Phường M, TP L, Tỉnh An Giang. Tài sản gắn liền với đất là nhà ở, cấp 3A, số tầng 04, năm xây dựng 2006, kết cấu khung sàn lầu BTCT, nền vách gạch, mái ngói + BTCT, diện tích 308.50 m², địa chỉ hẻm Đ, khóm B, phường M, TP L, tỉnh An Giang. Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AP 644137, số vào sổ cấp GCN: H.02241cA do UBND Thành Phố L, tỉnh An Giang cấp ngày 08/12/2009 cho bà Nguyễn Thị Thu L và Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở số 898833028000839, hồ sơ gốc số 008-39 do UBND thành phố L, tỉnh An Giang cấp ngày 08/12/2009 cho bà Nguyễn Thị Thu L đúng theo quy định của pháp luật về đất đai. Do đó, tài sản là quyền sử dụng đất này thuộc quyền sử dụng hợp pháp của bà Nguyễn Thị Thu L nên bà Nguyễn Thị Thu L có quền định đoạt.

Việc thế chấp tài sản trên để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ gốc, lãi vay, lãi quá hạn, phí, phạt cho Hợp đồng tín dụng số 540.0487/2020/HĐTDHM-DN/PGBankAG ngày 07/8/2020 và các Hợp đồng tín dụng khác ký giữa Bên thế

chấp và P1 trong khoảng thời gian từ ngày 07/8/2020 đến ngày 07/8/2023 (Điều 4- Hợp đồng thế chấp). Hợp đồng thế chấp được lập thành văn bản và được thiết lập tại phòng công chứng (Văn phòng C1, tỉnh An Giang). Các chủ thể trong hợp đồng thế chấp đều thừa nhận việc ký hợp đồng là thỏa thuận, tự nguyện theo đó bà L đồng ý dùng quyền sử dụng diện tích 132.5 m² và tài sản gắn liền với đất là nhà ở, cấp 3A, diện tích 308.50 m² bảo lãnh cho Công ty T6 C vay tiền tại Ngân hàng TMCP T5 (P) là phù hợp với quy định tại Điều 292, Điều 299, Điều 317, Điều 320, Điều 335, Điều 336 Bộ luật Dân sự 2015và Điều 44 Nghị định 21/2021/NĐ-CPày 19/3/2021 quy định thi hành bộ luật dân sự về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ. Sau khi ký hợp đồng thế chấp, tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất đã được đăng ký giao dịch bảo đảm đúng quy định (Phiếu yêu cầu đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất tại Văn phòng Đ chi nhánh L2, tỉnh An Giang ngày 10/8/2020).

Căn cứ Điều 323 Bộ luật dân sự; Điều 10, Điều 22 và Điều 26 Nghị định 21/2021/NĐ-CP ngày 19/3/2021 quy định thi hành Bộ luật dân sự về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thì việc thế chấp quyền sử dụng đất có hiệu lực kể từ thời điểm công chứng, chứng thực. Trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn, bị đơn người có quyền lợi, đại diện người có quyền và nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Thu L đều xác nhận hiện trạng tài sản thế chấp không có thay đổi so với khi thế chấp phù hợp với kết quả xem xét thẩm định tại chỗ ngày 12/12/2023.

Bên cạnh đó, kết quả thẩm định tại chỗ ngày 23/02/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn thể hiện: “...Qua kiểm tra ngoài thực địa, đồng thời căn cứ vào nội dung cung cấp thông tin của bà Nguyễn Thị H (chị của bà Nguyễn Thị Thu L) thì hiện tại trong căn nhà số F (thửa đất số 58, tờ bản đồ địa chính số 17) hiện có các nhân khẩu đang sinh sống được xác định cụ thể như sau: bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1961 (chị của Nguyễn Thị Thu L); Nguyễn Quốc T2, sinh năm 1966, Nguyễn Quốc H3, sinh năm 1963 (là em của bà Nguyễn Thị Thu L), Nguyễn Tú A, sinh năm 1982, Nguyễn Hoàng S, sinh năm 1996, Nguyễn Hoàng L1, sinh năm 1999 và Nguyễn Ngô Gia B, sinh năm 2013 (là cháu của bà Nguyễn Thị Thu L) ... ”. Tòa án đã đưa những người thân ở trong căn nhà trên tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Ghi nhận sự tự nguyện của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trên đồng ý di dời đến chổ ở khác khi tài sản thế chấp bị kê biên phát mãi. Riêng bà Nguyễn Thị Thu L không đồng ý ký bàn giao tài sản nhà và đất trên cho Ngân hàng là không có căn cứ.

Như vậy, nội dung và hình thức của hợp đồng thế chấp đảm bảo quy định của pháp luật nên có giá trị pháp lý, do đó trường hợp bị đơn không thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng khi đến hạn, thì nguyên đơn có quyền yêu cầu xử lý đối với tài sản thế chấp.

[2.2] Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP T5 và Phát triển (P):

[2.2.1] Xét yêu cầu bị đơn trả khoản tiền nợ gốc: Theo thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng số 540.0487/2022/HĐTDHM-DN/PGBankAG ngày

23/11/2022 và Phụ lục số 540.0487.01/PL-HĐTD ngày 23/11/2022 thì hạn mức tín dụng là: 22.000.000.000 đồng (Hai mươi hai tỷ đồng). Thời hạn cấp HMTD: 12 tháng, kể từ ngày 23/11/2022 đến ngày 23/11/2023. Thực hiện Hợp đồng tín dụng này, P đã giải ngân cho Khách hàng 08 lần với tổng số tiền cho vay là 4.499.344.575 đồng theo các khế ước nhận nợ; Theo thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng số 540.0345/2021/HĐTDHM-DN/PGBankAG ngày 07/10/2021 thì hạn mức tín dụng là: 16.000.000.000 đồng (Mười sáu tỷ đồng). Thực hiện Hợp đồng tín dụng này, P đã giải ngân cho Khách hàng 04 lần với tổng số tiền cho vay là 4.689.944.939 đồng theo các hợp đồng cấp bảo lãnh.

Thời gian đầu Công ty X1 vẫn trả vốn lãi đầy đủ theo định kỳ hàng tháng, tuy nhiên đến ngày 29/5/2023 Công ty X1 chỉ trả được 867.057 đồng, trong đó gốc là 655.400 đồng và lãi là 211.657 đồng, từ đó về sau Công ty T6 C không trả được số tiền nào nữa dù phía Ngân hàng đã liên hệ đòi nhiều lần.

Tính đến ngày 22/4/2024 dư nợ gốc Công ty T6 C còn lại đối với Hợp đồng tín dụng số 540.0487/2022/HĐTDHM-DN/PGBankAG ngày 23/11/2022; Phụ lục số 540.0487.01/PL-HĐTD ngày 23/11/2022; Hợp đồng tín dụng số 540.0345/2021/HĐTDHM-DN/PGBankAG ngày 07/10/2021 và các Hợp đồng, phụ lục hợp đồng, khế ước nhận nợ, hợp đồng cấp bảo lãnh khác đã ký với Ngân hàng TMCP T5Phát T4 tạm tính đến ngày 22/04/2024 là 9.187.289.514 đồng. Trong đó, dư nợ vay gốc là: 4.499.344.575đ và dư nợ gốc bảo lãnh là: 4.687.944.939₫ đều thuộc trường hợp quá hạn thanh toán.

Do đó, căn cứ theo quy định tại Khoản 16 Điều 4 Luật các tổ chức tín dụng và Điều 463 Bộ luật dân sự thì yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP T5 (P) về việc đòi nợ gốc là có căn cứ phù hợp với quy định của pháp luật cần chấp nhận.

[2.2.2] Về khoản nợ lãi:

Đối với Hợp đồng tín dụng số 540.0487/2022/HĐTDHM-DN/PGBankAG ngày 23/11/2022 và Phụ lục số 540.0487.01/PL-HĐTD ngày 23/11/2022 các bên thỏa thuận lãi suất cho vay là: Lãi suất cho vay trong hạn: theo mức lãi suất được các bên thỏa thuận cụ thể tại khế ước nhận nợ, phương thức và thời hạn điều chỉnh lãi suất theo thỏa thuận cụ thể tại khế ước nhận nợ; Lãi suất quá hạn: bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn trên số dư nợ gốc quá hạn tương ứng với thời gian chậm trả; Lãi suất chậm trả lãi: 150% lãi suất cho vay trong hạn nhưng không vượt quá 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.

Đối với Hợp đồng tín dụng số 540.0345/2021/HĐTDHM-DN/PGBankAG ngày 07/10/2021 các bên thỏa thuận lãi suất cho vay là: Lãi suất cho vay trong hạn: theo mức lãi suất được các bên thỏa thuận cụ thể tại khế ước nhận nợ; Lãi suất quá hạn: bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn trên số dư nợ gốc quá hạn tương ứng với thời gian chậm trả; Lãi suất chậm trả lãi: bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn nhưng không vượt quá 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương

ứng với thời gian chậm trả. Do bị đơn không trả nợ đến hạn, nguyên đơn đã chuyển nợ gốc và nợ lãi sang nợ quá hạn.

Tính đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 22/4/2024) dư nợ lãi của Hợp đồng tín dụng số 540.0487/2022/HĐTDHM-DN/PGBankAG ngày 23/11/2022; Phụ lục số 540.0487.01/PL-HĐTD ngày 23/11/2022; Hợp đồng tín dụng số 540.0345/2021/HĐTDHM-DN/PGBankAG ngày 07/10/2021 và các Hợp đồng, phụ lục hợp đồng, khế ước nhận nợ, hợp đồng cấp bảo lãnh khác đã ký với Ngân hàng TMCP T5Phát T4 tạm tính đến ngày 22/04/2024 là 1.417.119.311 đồng. Trong đó, dư nợ lãi tín dụng là: 733.568.933₫ và dư nợ lãi bảo lãnh là: 683.550.378 đồng.

Xét Hợp đồng tín dụng số 540.0487/2022/HĐTDHM-DN/PGBankAG ngày 23/11/2022; Phụ lục số 540.0487.01/PL-HĐTD ngày 23/11/2022; Hợp đồng tín dụng số 540.0345/2021/HĐTDHM-DN/PGBankAG ngày 07/10/2021 và các Hợp đồng, phụ lục hợp đồng, khế ước nhận nợ, hợp đồng cấp bảo lãnh khác đã ký với Ngân hàng TMCP T5Phát T4 đều được xác lập và thỏa thuận mức lãi suất trong hạn, quá hạn, lãi chậm trả trên cơ sở tự nguyện của cả hai bên, phù hợp quy định tại Điều 91, khoản 2 Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng, Điều 466 Bộ luật dân sự và Điều 7, Điều 8 Nghị quyết 01/2019/ NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về việc hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.

Tại phiên tòa nguyên đơn không đồng ý với yêu cầu giảm lãi hoặc không tính lãi suất từ ngày 01/01/2024 đến 31/12/2024 của Công ty X1 và vẫn yêu cầu tính tiền lãi đến ngày 22/4/2024 (ngày xét xử sơ thẩm) với số tiền như trên là có căn cứ chấp nhận.

[2.2.3] Đối với yêu cầu tiếp tục tính lãi phát sinh từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 22/4/2024) cho đến khi bị đơn trả hết nợ theo mức lãi suất thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng số 540.0487/2022/HĐTDHM-DN/PGBankAG ngày 23/11/2022; Phụ lục số 540.0487.01/PL-HĐTD ngày 23/11/2022; Hợp đồng tín dụng số 540.0345/2021/HĐTDHM-DN/PGBankAG ngày 07/10/2021 và các Hợp đồng, phụ lục hợp đồng, khế ước nhận nợ, hợp đồng cấp bảo lãnh khác đã ký với Ngân hàng TMCP T5Phát T4. Xét yêu cầu này là phù hợp với thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng mà các bên đã ký kết cũng như theo quy định tại Điều 91 của Luật các tổ chức tín dụng, Án Lệ số 08/2016 được Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 17/10/2016 và Điều 13 Nghị quyết 01/2019/ NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về việc hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.

[2.2.4] Ghi nhận ý kiến của Nguyên đơn: Đối khoản ký quỹ Nhà đại đội dự bị động viên Ban chỉ huy quân sự thành phố L số tiền là 49.170.600 đồng hiện chưa hết thời hạn bảo lãnh nên khi hết thời hạn bảo lãnh Ngân hàng sẽ tiếp

tục trích thu nợ. Số tiền còn trong tài khoản của công ty là 47.787.600 đồng thì Ngân hàng cam kết sẽ trích thu nợ.

[3] Về chi phí tố tụng: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ nên bị đơn phải chịu chi phí tố tụng xem xét thẩm định tại chỗ.

[4] Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ nên bị đơn phải nộp toàn bộ án phí theo quy định.

[5] Quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị về giải quyết vụ án là phù hợp với nhận định nêu trên của Tòa án.

[6] Các đương sự được kháng cáo bản án theo quy định của Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 117, Điều 292, Điều 299, Điều 317, Điều 320, Điều 323, Điều 335, Điều 463 và Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015; Khoản 1 và khoản 12 Điều 3 Luật Thương mại năm 2005 (sửa đổi năm 2017); Khoản 16 Điều 4, Điều 91, khoản 2 Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng; Án Lệ số 08/2016 được Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 17/10/2016; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

1. Buộc bị đơn Công ty TNHH X1 có trách nhiệm trả cho nguyên đơn Ngân hàng TMCP T5 (P) tổng số tiền nợ gốc, lãi là 10.604.408.825 đồng (mười tỷ, sáu trăm lẻ bốn triệu, bốn trăm lẻ tám ngàn, tám trăm hai mươi lăm đồng) cụ thể: Nợ gốc là 9.187.289.514 đồng, nợ lãi là 1.417.119.311 đồng. Trong đó, dư nợ vay gốc là: 4.499.344.575 đồng, dư nợ lãi là: 733.568.933 đồng, dư nợ gốc bảo lãnh là: 4.687.944.939 đồng và dư nợ lãi là: 683.550.378 đồng theo Hợp đồng tín dụng số 540.0487/2022/HĐTDHM-DN/PGBankAG ngày 23/11/2022; Phụ lục số 540.0487.01/PL-HĐTD ngày 23/11/2022; Hợp đồng tín dụng số 540.0345/2021/HĐTDHM-DN/PGBankAG ngày 07/10/2021 và các Hợp đồng, phụ lục hợp đồng, khế ước nhận nợ, hợp đồng cấp bảo lãnh khác đã ký với Ngân hàng TMCP T5Phát T4.

Kể từ ngày tiếp theo theo của ngày xét xử sơ thẩm (22/4/2024), Công ty TNHH X1 còn phải tiếp tục chịu tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng và các Khế ước nhận nợ kèm theo cho đến khi Công ty TNHH T6 C thanh toán xong khoản nợ.

Trường hợp Công ty TNHH X1 không trả được nợ hoặc trả nợ không đầy đủ thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất số

540.0287/2020/BĐ, ngày 10/8/2020 (Văn bản sửa đổi, bổ sung Hợp đồng số 540.0287.01/PL-HĐBĐ ngày 07/10/2021 và Văn bản sửa đổi, bổ sung Hợp đồng số 540.0287.02/PL-HĐBĐ ngày 23/11/2022) thì tài sản thế chấp là toàn bộ quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở tại: Thửa đất số 58, tờ bản đồ 17, diện tích 132.5 m², loại đất ở đô thị, địa chỉ: Phường M, TP L, Tỉnh An Giang. Tài sản gắn liền với đất là nhà ở, cấp 3A, số tầng 04, năm xây dựng 2006, kết cấu khung sàn lầu BTCT, nền vách gạch, mái ngói + BTCT, diện tích 308.50 m², địa chỉ hẻm Đ, khóm B, phường M, TP L, tỉnh An Giang. Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AP 644137, số vào sổ cấp GCN: H.02241cA do UBND Thành Phố L, tỉnh An Giang cấp ngày 08/12/2009 cho Bà Nguyễn Thị Thu L và Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở số 898833028000839, hồ sơ gốc số 008-39 do UBND thành phố L, tỉnh An Giang cấp ngày 08/12/2009 cho Bà Nguyễn Thị Thu L. Toàn bộ vật phụ, tài sản gắn liền với, tài sản được lắp đặt gắn cố định vào tài sản thế chấp; Toàn bộ hoa lợi, lợi tức, phần giá trị tài sản tăng thêm gắn liền (có thể tách rời hoặc không thể tách rời) với tài sản thế chấp do bên thế chấp đầu tư trong quá trình quản lý, sử dụng tài sản thế chấp và các quyền phát sinh từ tài sản thế chấp; Toàn bộ số tiền, tài sản đền bù, bồi thường (nếu có) liên quan đến tài sản thế chấp; Trong trường hợp tài sản thế chấp phải mua bảo hiểm theo quy định của P1 thì toàn bộ số tiền bảo hiểm có được (nếu có) cũng là tài sản thế chấp theo quy định tại khoản 1 Điều 11 Hợp đồng thế chấp để xử lý thu hồi nợ cho Ngân hàng.

Nếu số tiền thu được từ xử lý tài sản đảm bảo vẫn không đủ trả nợ cho Ngân hàng TMCP T5 (P) thì Công ty TNHH X1 vẫn phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng cho đến khi tất toán khoản vay, Ngân hàng TMCP T5 và Phát triển (P) có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án có thẩm quyền xác minh điều kiện thi hành án của Công ty X1 để thu hồi toàn bộ khoản nợ.

Trường hợp Công ty T6 C trả được toàn bộ số nợ thì buộc Ngân hàng TMCP T5 (P) có trách nhiệm hoàn trả lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AP 644137, số vào sổ cấp GCN: H.02241cA do UBND Thành Phố L, tỉnh An Giang cấp ngày 08/12/2009 cho bà Nguyễn Thị Thu L và Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở số 898833028000839, hồ sơ gốc số 008-39 do UBND thành phố L, tỉnh An Giang cấp ngày 08/12/2009 cho bà Nguyễn Thị Thu L cho Công ty TNHH X1.

Đối khoản ký quỹ khoản ký quỹ Nhà đại đội dự bị động viên Ban chỉ huy quân sự thành phố L số tiền là 49.170.600 đồng hiện chưa hết thời hạn bảo lãnh nên khi hết thời hạn bảo lãnh Ngân hàng TMCP T5 (P) phải tiếp tục trích thu nợ. Số tiền còn trong tài khoản của Công ty TNHH X1 là 47.787.600 đồng thì Ngân hàng TMCP T5 (P) phải trích thu nợ.

2. Về chi phí tố tụng: Bị đơn Công ty TNHH X1 có nghĩa vụ hoàn trả lại cho nguyên đơn Ngân hàng TMCP T5 (P) chi phí xem xét thẩm định tại chổ là 800.000 đồng (tám trăm ngàn đồng).

3. Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:

Bị đơn Công ty TNHH X1 phải nộp 118.604.409 đồng (một trăm mười tám triệu, sáu trăm lẻ bốn ngàn, bốn trăm lẻ chín đồng) án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.

Nguyên đơn Ngân hàng TMCP T5 (P) không phải chịu án phí nên được nhận lại 58.810.809 đồng (năm mươi tám triệu, tám trăm mười ngàn, tám trăm lẻ chín đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0013418 ngày 27/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND huyện Thoại Sơn;
  • - Chi cục THADS huyện Thoại Sơn;
  • - Các đương sự (để thi hành);
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Cẩm Xuyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 02/2024/KDTM-ST ngày 22/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp tài sản (quyền sử dụng đất)

  • Số bản án: 02/2024/KDTM-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp tài sản (quyền sử dụng đất)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/04/2024
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: HĐTD
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger