TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CAO BẰNG Bản án số: 02/2025/DS-PT Ngày: 15/12/2025. V/v “Tranh chấp quyền sử dụng đất; yêu cầu huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CAO BẰNG
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vi Khánh Dần
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Như
Ông Nông Đức Thọ
Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Thanh Tâm – Thư ký viên Tòa án nhân dân tỉnh Cao Bằng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng tham gia phiên toà: Bà Đặng Thị Kim Thoa - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Cao Bằng xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 01/2025/TLPT-DS ngày 01/10/2025 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất; yêu cầu huỷ giấy chứng nhận QSDĐ".
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 03/2025/DS-ST ngày 05 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Cao Bằng bị kháng cáo.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 03/2025/QĐ-PT ngày 13 tháng 11 năm 2025 và thông báo hoãn phiên tòa số: 11/TB-TA ngày 04/12/2025, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Bà Lý Thị H, Sinh năm 1960; Địa chỉ: Xóm Đ, xã Q, tỉnh Cao Bằng. Có mặt.
- - Bị đơn: Ông Lục Văn K- Sinh năm 1947 và bà Nông Thị Đ, sinh năm 1961; Cùng địa chỉ: Xóm Đ, xã Q, tỉnh Cao Bằng. Có mặt.
- - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Uỷ ban nhân dân (UBND) huyện Q. Tổ chức thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng là UBND xã Q, tỉnh Cao Bằng. Người đại diện theo pháp luật: Bà Hoàng Thị H1– Chức vụ: Chủ tịch. Có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.
- Văn phòng Đ2 Chi nhánh huyện Q (nay là Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai khu vực Q). Người đại diện theo pháp luật: Ông Đoàn Trọng K1 – Chức vụ: Giám đốc. Có mặt.
- Ông Lý Văn H2, sinh năm 1959. Địa chỉ: Phố H, xã Q, tỉnh Cao Bằng. Có mặt.
- Bà Lý Thị H3, sinh năm 1963. Địa chỉ: Phố H, xã Q, tỉnh Cao Bằng. Có mặt.
- 5. Bà Lý Thị V, sinh năm 1950. Địa chỉ: Xóm L, xã Q, tỉnh Cao Bằng. Có mặt.
- 6. Ông Lý Minh K2 (chết năm 1983). Người thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông K2:
- 6.1. Bà Lương Thị C – Sinh năm 1951 (vợ của ông K2);
- 6.2. Lý Minh H4 – Sinh năm 1982 (con trai ông K2);
Đều cùng địa chỉ: Tổ dân phố A, thị trấn C, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng (nay là Tổ dân phố A, xã C, tỉnh Lâm Đồng). vắng mặt.
- 7. Ông Lý Minh H5 (con trai ông K2, đã chết năm 2016). Người thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông H5:
- 7.1. Bà Đàm Thị Đ1 – Sinh năm 1978 (vợ ông H5).
- 7.2.Ông Lý Lục Minh H6 – Sinh năm 2002.
- 7.3. Bà Lý Thị Thu H7 – Sinh năm 2005 (đều là các con ông H5);
Cùng địa chỉ: Thôn D, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng (Nay là Thôn D, xã C, tỉnh Lâm Đồng). vắng mặt.
- - Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H8 – Luật sư thuộc Văn phòng Luật sư Nguyễn Thị H8; Địa chỉ: Số nhà B, tổ dân phố H, xã Q, tỉnh Cao Bằng. Có mặt.
- - Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các bị đơn: Bà Lục Thị H9 – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh C. Có mặt.
- - Người làm chứng: Ông Nông Quốc T – Sinh năm 1953; ông Bế Ích H10 – Sinh năm 1958; bà Hoàng Thị H11 – Sinh năm 1954; bà Hứa Thị L – Sinh năm 1951; bà Chu Thị B – Sinh năm 1953; ông Nông Văn H12 – Sinh năm 1963; bà Hoàng Thị D – Sinh năm 1934; Đều cùng địa chỉ: Xóm Đ, xã Q, tỉnh Cao Bằng; bà Nông Thị H13 – Sinh năm 1930. Địa chỉ: Phố H, xã Q, tỉnh Cao Bằng. Những người làm chứng đều vắng mặt; riêng bà B, bà D, bà H13 từ chối tham gia tố tụng.
- - Người kháng cáo: Lục Văn K, Nông Thị Đ.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trình bày về yêu cầu khởi kiện và chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của Nguyên đơn:
Ngày 07/7/1996 bố tôi là ông Lý Văn H14 được Uỷ ban nhân dân (UBND) huyện Q cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng (GCNQSD) đất số H 471670 thuộc thửa đất số 11 (số tờ bản đồ tổng thể) với diện tích 250m² đất ở, nay là thửa 251 tờ bản đồ số 40 diện tích 559m² tại xóm Đ, thị trấn Q, huyện Q (nay là xóm Đ, xã Q, tỉnh Cao Bằng). Ranh giới thửa đất số 250 của ông K và 251 của tôi rõ ràng, được ngăn cách bởi hàng rào xếp bằng đá cao 0,8m (hàng rào này được hai mẹ con tôi xếp từ năm 2009).
Về nguồn gốc đất: Thửa đất đang tranh chấp là của bố mẹ tôi tự mua, không liên quan gì đến đất đai của họ L1 để lại. Từ năm 1959 bố, mẹ tôi dựng một ngôi nhà sàn 03 gian để ở và là nơi anh chị em chúng tôi được sinh ra và lớn lên ở đây. Sau khi bố mẹ tôi chết, tất cả anh chị em ruột của tôi đều có nhà riêng. Do tôi lấy chồng trong làng nên toàn bộ diện tích thửa đất số 11 và nhà ở trên đất được anh em thống nhất cho tôi thừa kế và toàn quyền quản lý, sử dụng. Đến năm 2009 tôi dỡ ngôi nhà sàn bố mẹ đi nhưng vẫn canh tác trên mảnh đất đó, làm vườn trồng cây hàng năm, gia đình tôi vẫn quản lý sử dụng ổn định hơn 60 năm không có tranh chấp.
Năm 2006, trong đợt cấp GCNQSD đất theo kế hoạch của Nhà nước, thửa đất này của gia đình tôi bị cấp nhầm (cấp gộp) vào hộ ông Lục Văn K và bà Nông Thị Đ (GCNQSD đất số AH 638551, Thửa đất số 67, tờ bản đồ số 28 (40 mới) diện tích 1251m² do UBND huyện Q cấp ngày 11/9/2007). Hộ ông K được cấp GCNQSD đất thời gian nào tôi không biết, khi phát hiện tôi đã trao đổi với gia đình ông K thì được ông K cùng vợ là bà Đ xác nhận có việc cấp nhầm nên ngày 26/4/2016, hai bên có lập Giấy xác nhận về việc cấp nhầm để làm thủ tục tách thửa cho tôi.
Ngày 20/3/2019 do không lường hết được hậu quả nên tôi và ông K đã thỏa thuận làm thủ tục chuyển nhượng mảnh đất số 251 cho tôi. Việc chuyển nhượng này là hình thức để hợp thức hóa thửa đất sang tên tôi, trên thực tế không có việc mua bán đất, nên khi lập Hợp đồng chuyển nhượng ông K không được nhận số tiền 20.000.000đồng như trong nội dung Hợp đồng chuyển nhượng ngày 11/4/2019 đã ghi. Sau đó cả hai gia đình cùng nhau đến cơ quan có thẩm quyền để xin tách thửa. Ngày 20/3/2019, Thửa đất số 67 tờ bản đồ số 28 được tách thành hai thửa gồm: Thửa 250 và thửa 251. Ngày 22/4/2019 được Văn phòng Đ2 chi nhánh Q điều chỉnh biến động trên GCNQSD đất Số AH 638551, Thửa đất số 67, tờ bản đồ số 28 (40 mới) với nội dung chỉnh lý: “Chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bà Lý Thị H.... thửa đất số 251(559m²) tờ bản đồ 40 (28).
Năm 2022, vợ chồng ông K, bà Đ có mẫu thuẫn với nhau nên bà Đ cho rằng ông K tự ý chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho tôi, bà không được ký vào hợp đồng chuyển nhượng nên việc chuyển nhượng đất cho tôi không đúng pháp luật, bà đã có đơn gửi các cấp có thẩm quyền để giải quyết. Vụ việc đã được Tòa án nhân dân huyện Quảng Hòa thụ lý, giải quyết bằng Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự về việc hợp đồng vô hiệu do giả tạo. Sau khi nhận được Quyết định của Toà, ông K cũng nảy sinh ý đồ chiếm đoạt (trước đó ông đều thừa nhận cơ quan chức năng đã cấp nhầm, cấp gộp vào bìa đỏ của ông). Nên tôi tiếp tục làm đơn để giải quyết vụ việc. Qua đợt hoà giải lần 2 tại xóm và hoà giải tại UBND thị trấn Q thì ông K cho là đất của các cụ để lại cho ông.
Trong thời gian này, bà Đ có hành vi chặt một số cây trên thửa đất đó và tiếp đó vào ngày 23/11/2023 khi gia đình tôi đi làm có chuẩn bị cho canh tác vụ mùa mới, bà Điểm chuẩn B1 sẵn 2 sọt vỏ bia thuỷ tinh màu xanh ném tới tấp xuống đám đất nêu trên, tạo nên vô số mảnh thủy tinh sắc nhọn khiến cho gia đình tôi không thể tiếp tục canh tác.
Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình nên ngày 12/12/2023 tôi đã có đơn đề nghị gửi Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao xem xét Quyết định công nhận sự thỏa thuận của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật theo thủ tục Giám đốc thẩm. Ngày 14/8/2024 Viện kiểm sát nhân dân tối cao tại Hà Nội có công văn số 290/TB-VKS-DS Thông báo về việc “không kháng nghị” và nêu rõ tôi có quyền khởi kiện vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất và đề nghị công nhận diện tích đất 559m² thuộc quyền sở hữu hợp pháp của tôi.
Nay tôi yêu cầu Tòa án hủy một phần GCNQSD đất số AH 638551 ngày 11/9/2007 mà UBND huyện Q đã cấp nhầm, cấp gộp thửa đất số 251 tờ bản đồ số 40 diện tích 559m² đất của gia đình tôi cho hộ ông Lục Văn K và Bà Nông Thị Đ; đề nghị công nhận phần diện tích đất này là thuộc quyền sử dụng hợp pháp của tôi.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn, Luật sư Nguyễn Thị H8 trình bày:
Nguồn gốc đất tranh chấp là của ông Lý Văn H14 và bà Lục Thị M (bố mẹ của bà H), gia đình bà H đã dựng nhà từ năm 1959 và đã quản lý, sử dụng đất liên tục từ đó cho tới nay.
Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn hủy một phần GCNQSD đất số AH 638551 ngày 11/9/2007 mà UBND huyện Q đã cấp nhầm, cấp gộp 559m² đất của gia đình bà H cho hộ ông Lục Văn K và bà Nông Thị Đ; Đồng thời đề nghị công nhận phần diện tích đất này là thuộc quyền sử dụng hợp pháp của bà Lý Thị H.
Quá trình giải quyết vụ án bị đơn Lục Văn K trình bày:
Tôi không đồng ý với các yêu cầu khởi kiện của bà Lý Thị H vì: Về nguồn gốc thửa đất đang có tranh chấp là do tổ tiên gia đình họ L1 để lại. Thời kỳ hợp tác xã thửa đất được đưa vào hợp tác xã, ông H14 (bố của bà H) đã làm nhà trên đất của gia đình tôi. Từ khi tan hợp tác xã thì gia đình tôi vẫn nộp thuế cho miếng đất này, có biên lai, có sổ ghi chép rõ ràng. Năm 2007, gia đình tôi được cấp GCNQSD đất. Trước khi được cấp đã có những cuộc họp, thẩm định về việc cấp GCNQSD đất cho gia đình tôi. Diện tích đất được cấp trên giấy chứng nhận khớp với diện tích đất mà tôi nộp thuế.
Từ thời hợp tác xã ông H14 dựng nhà, đến năm 2007 gia đình tôi được cấp GCNQSD đất số AH 638551, Thửa đất số 67, tờ bản đồ số 28 diện tích 1251m² do UBND huyện Q cấp ngày 11/9/2007. Năm 2008 ông H14 lên phố H, thị trấn Q ở với con trai. Năm 2009 bà H dỡ nhà và sau đó một thời gian bà H xếp hàng rào đá, trồng cây chuối.
Trong thời gian ông H14 ở trên đất thì ông H14 có được cấp giấy GCNQSD đất hay chưa tôi cũng không được biết.
Năm 2016 tôi không được viết, không được ký vào Giấy xác nhận về việc cấp nhầm thửa. Nhìn chữ ký và chữ viết hao hao giống chữ ký, chữ viết của tôi nhưng không phải do tôi ký. Tôi không biết ai viết giấy này.
Năm 2019 lợi dụng vợ chồng tôi không hoà hợp, bà H lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho tôi ký, và nói sẽ cho tôi số tiền 20.000.000 đồng, nhưng vợ tôi (bà Đ) không đồng ý nên không ký vào hợp đồng chuyển nhượng.
Sau khi lập hợp đồng chuyển nhượng tôi có ký các giấy tờ cho bà H làm thủ tục đề nghị tách thửa đất với cơ quan đăng ký đất đai. Về số tiền 20.000.000đồng như trong hợp đồng ghi tôi chưa nhận được số tiền nào. Lúc ký bà H chưa ghi tiền trong hợp đồng. Bà H tự ghi số tiền vào hợp đồng, tôi không biết. Do lúc đó vợ chồng tôi không tốt với nhau nên tôi muốn tự bán đất.
Quá trình giải quyết vụ án bị đơn bà Nông Thị Đ trình bày:
Tôi không đồng ý với các yêu cầu khởi kiện của bà Lý Thị H, bởi vì đất đang tranh chấp gia đình tôi đã được cấp GCNQSD đất vào năm 2007. Còn về nguồn gốc đất là của gia đình họ L1, cụ thể là ông Lục Văn V1 và bà Luân Thị C1 (bố mẹ của ông K) để lại cho gia đình tôi.
Năm 1986 tôi về làm dâu đã thấy ông H14 làm nhà trên đất hiện nay đang tranh chấp. Ông H14 ở đến năm 2008 thì đi ở với con trai ở phố H, thị trấn Q, đến năm 2009 bà H dỡ nhà đi thì tôi nghĩ là gia đình bà H trả lại đất cho gia đình tôi.
Về hàng rào đá bà H xếp sau một thời gian dỡ nhà, hôm đó gia đình tôi không ai ở nhà. Sau khi xếp hàng rào thì đất toàn đá, bà H không trồng được gì trên đất.
Năm 2016 tôi không được viết hay ký Giấy xác nhận về việc cấp nhầm thửa, tôi không biết ai viết giấy tờ này.
Năm 2019 do vợ chồng tôi mẫu thuẫn, ông K muốn bán đất để lấy tiền đi viện dưỡng lão ở, nhưng tôi không đồng ý, tôi không được ký hợp đồng chuyển nhượng đất quyền sử dụng đất đối với thửa 251 tách từ thửa số 67 tờ bản đồ số 40 diện tích 559m² cho bà Lý Thị H. Tôi cũng không biết ai ký tên tôi trong giấy tờ này.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các bị đơn, bà Lục Thị H9 – trợ giúp viên pháp lý trình bày:
Tôi nhất trí với ý kiến trình bày của các bị đơn, không đồng ý với các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; Đề nghị công nhận quyền sử dụng đất của ông K, bà Đ theo GCNQSD đất số AH638551 ngày 11/9/2007 do UBND huyện Q đã cấp cho hộ ông K, bà Đ.
Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Lý Văn H2, Lý Thị H3 và Lý Thị V trình bày:
Thửa đất số 251 có nguồn gốc là của bố mẹ đẻ tôi là Lục Thị M (chết năm 2002) và ông Lý Văn H14 (chết năm 2015). Từ lúc sinh ra và lớn lên chúng tôi đều sinh sống tại căn nhà trên thửa đất số 251, đến năm 2009 khi tôi làm được nhà riêng thì mới đón bố tôi lên sống cùng để tiện chăm sóc, khi đó bố đã giao lại nhà và đất cho bà H sử dụng. Đến năm 2019 bà H mới dỡ căn nhà để làm vườn và canh tác liên tục đến nay. Thửa đất này khi bố mẹ chết thì các anh chị em trong gia đình đã họp bàn và thống nhất giao thửa đất cho bà H quản lý và sử dụng nên tôi không yêu cầu chia di sản thửa kế đối với thửa đất số 251. Chúng tôi nhất trí với yêu cầu khởi kiện của bà H. Thửa đất này gia đình đã giao cho bà H, và bà H cũng là người sử dụng thửa đất thực tế, cơ quan Nhà nước đã cấp nhầm gộp phần đất của bà H vào chung thửa đất của ông K, bà Đ.
Những người thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Lý Minh K2 gồm bà Lương Thị C, Lý Minh H4, Đàm Thị Đ1, Lý Lục Minh H6, Lý Thị Thu H7 cùng có ý kiến thống nhất trình bày như sau:
Vào năm 2002, ông Lý Văn H14 đã chia một phần tài sản, đất đai nhà cửa cho bà Lương Thị C, ông Lý Minh H4, ông Lý Minh H5. Sau đó bà C, ông H4, ông H5 đã bán hết toàn bộ phần đất đai, nhà cửa của ông H14 đã chia cho để chuyển vào miền nam sinh sống cho đến nay. Tôi cam kết không đòi hỏi chia thừa kế phần tài sản đất đai và đồng ý để lại toàn bộ thửa đất số 251, tờ bản đồ 40 diện tích 559m² tại xóm Đ, Q, Cao Bằng cho bà Lý Thị H được toàn quyền quản lý, sử dụng, định đoạt; đồng thời cam kết không khiếu nại tranh chấp liên quan đến thửa đất này.
Tại Công văn số 2263/UBND-TNMT ngày 17/12/2024 người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan UBND huyện Q có ý kiến như sau:
Ngày 10/4/2006, ông Lục Văn K và bà Nông Thị Đ có đơn xin cấp GCNQSDĐ bao gồm:
Đơn xin cấp đổi GCNQSD đất số H471679 ngày cấp 07/7/1996 (cấp đổi) cho 13 thửa đất tại xóm Đ, xã C huyện Q, tỉnh Cao Bằng. Trong đó có thửa đất số 67 tờ bản đồ số 28, diện tích 1251,0m² tại xóm Đ, xã C huyện Q, tỉnh Cao Bằng.
Đơn xin được UBND xã C xác nhận ngày 28/7/2006, xác nhận sử dụng ổn định, không có tranh chấp, sử dụng đúng quy hoạch, ranh giới diện tích. Cơ quan chuyên môn của UBND huyện Q là Phòng T2 xác nhận đủ điều kiện cấp GCNQSD đất ngày 16/9/2006.
Thửa đất số 11, sơ đồ tổng thể diện tích 250m² đất ở trong GCNQSD đất số H471670 cấp ngày 07/7/1996 cho ông Lý Văn H14 không được thể hiện trên Tờ bản đồ giải thửa số 36 xã C. Trên bản đồ giải thửa Tờ số 36 xã C thửa đất số 11, diện tích 744 m², có vị trí khác với thửa đất 251 tờ bản đồ số 40 diện tích 559 m² được tách từ thửa 67 như mục IV trong GCNQSD đất số phát hành AH 638551 cấp cho ông K. Do đó, có thể khẳng định thửa đất số 11, sơ đồ tổng thể diện tích 250m² đất ở trong GCNQSD đất số H471670 cấp ngày 07/7/1996 cho ông Lý Văn H14 không phải là thửa đất 251 tờ bản đồ số 40 diện tích 559m² được tách từ thửa 67 như mục IV trong GCNQSD đất số phát hành AH 638551 cấp cho ông K theo ý kiến của bà Lý Thị H.
Trong khoảng thời gian trên, không có Đơn kê khai trùng lặp của các hộ gia đình, cá nhân khác hay đơn thư phản ánh về việc xem xét cấp GCNQSD đất cho ông Lục văn K và bà Nông Thị Đ xóm Đ huyện Q, tỉnh Cao Bằng (nay là xóm Đ, thị trấn Q, huyện Q, tỉnh Cao Bằng).
Do đó, UBND huyện Q đã cấp GCNQSD đất số phát hành AH 638551 ngày 11 9/2007 cho hộ ông Lục Văn K và bà Nông Thị Đ theo đúng trình tự, thủ tục quy định của pháp luật. Không có cơ sở pháp lý để hủy GCNQSD đất đã cấp và công nhận quyền sử dụng đất cho bà Lý Thị H.
Biên bản xác định ranh giới, mốc giới thửa đất (theo hiện trạng sử dụng đất) ngày 14/8/1999 của UBND xã C tiến hành khảo sát xác nhận ranh giới thửa đất số 67, diện tích 1250,6 m, tờ bản đồ gốc số 28, sơ đồ thửa đất (theo hồ sơ kỹ thuật thửa đất) có 02 vị trí đất ở trên cùng sơ đồ thửa đất, chủ sử dụng đất ký tên là ông Lý Văn H14, chủ sử dụng đất liền kề ông Bế Văn E, được cán bộ địa chính và chính quyền xã C ký xác nhận. Điều này khẳng định tại thời điểm đo vẽ bản đồ đã có 02 ngôi nhà được xây dựng trên cùng thửa đất.
Kiểm tra thửa đất số 67 tờ bản đồ số 28 diện tích 1251m² trên giấy chứng nhận số AH 638551 ngày 11/9/2007 cấp cho hộ ông Lục Văn K3 và bà Nông Thị Đ có vị trí, hình thể, kích thước các cạnh trùng khớp với vị trí, hình thế, kích thước các cạnh trên sơ đồ thửa đất ngày 14/8/1999 chủ sử dụng đất ký tên là ông Lý Văn H15 là cùng một thửa đất. Đề nghị Tòa án tiến hành kiểm tra thực địa và quá trình sử dụng của cả 02 bên gia đình để xác định rõ nguyên nhân thiếu sót trong công tác đo vẽ bản đồ địa chính hoặc trong công tác kê khai cấp GCNQSD đất.
Tại Công văn số 128/CV-VPĐK ngày 16/12/2024 người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Văn phòng Đ2 Chi nhánh huyện Q có ý kiến như sau:
Việc Văn phòng Đ2 Chi nhánh Q (nay là Q) tách thửa đất số 67, tờ bản đồ số 40 (tờ 28 xã C) thành 02 thửa theo Đơn đề nghị tách thửa đất, hợp thửa đất của ông Lục Văn K ngày 10/3/2019. Việc thực hiện trình tự, thủ tục hành chính tách thửa đất đối với 02 thửa đất trên được thực hiện theo quy định của pháp luật tại thời điểm thực hiện thủ tục. Việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Lục Văn K, bà Nông Thị Đ với bà Lý Thị H đối với thửa đất số 251, diện tích 559m² được thực hiện đúng theo quy trình, trình tự thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất và đăng ký biến động đất đai, chỉnh lý hồ sơ địa chính và xác nhận nội dung biến động đất đai vào trang số 4 GCNQSD đất theo quy định.
Trên cơ sở giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Lục Văn K, bà Nông Thị Đ với bà Lý Thị H đã được chỉnh lý hồ sơ địa chính, xác nhận biến động đất đai trên GCNQSD đất. Qua kiểm tra hồ sơ địa chính và sổ tiếp nhận thủ tục hành chính từ thời điểm ông Lục Văn K đăng ký biến động đất đai đến nay (từ ngày 22/4/2019 đến nay), Văn phòng Đ2 Chi nhánh Q (nay là Q) chưa nhận được hồ sơ đề nghị cấp GCNQSD đất cho bà Lý Thị H. Vậy, thửa đất số 251, tờ bản đồ số 40 chưa được cấp lại GCNQSD đất cho bà Lý Thị H.
Bà Lý Thị H có đơn khởi kiện yêu cầu huỷ GCNQSD đất số AH 638551, cấp ngày 11/9/2007 do cấp nhầm, cấp gộp 559 m diện tích đất của gia đình bà H. Văn phòng Đ2 Chi nhánh Q có một số ý kiến, quan điểm như sau:
Thửa đất số 11, sơ đồ tổng thể diện tích 250 m đất ở trong GCNQSD đất số H471670 cấp ngày 07/7/1996 cho ông Lý Văn H14 không được thể hiện trên bản đồ giải thửa xã C. Đối với Dự án đo đạc, lập bản đồ giải thửa theo Chỉ thị 299/TTg ngày 10/11/1980 của Thủ tướng Chính phủ về công tác đo đạc, phân hạng và đăng ký ruộng đất trong cả nước, qua đó các khu dân cư (đất ở) không được thể hiện trên bản đồ giải thửa xã C. Diện tích 250m² thuộc sơ đồ tổng thể số 11 trên GCNQSD của ông Lý Văn H14 được kê khai theo hình thức “tự kê”. Hình thức kê khai các thửa đất không được đo đạc, lập bản đồ giải thửa đề nghị cấp GCNQSD đất là phù hợp với pháp luật đất đai tại thời điểm cấp.
Biên bản xác định ranh giới, mốc giới thửa đất (theo hiện trạng sử dụng đất) ngày 14/8/1999 của UBND xã C xác nhận ranh giới thửa đất số 67, diện tích 1250,6m², tờ bản đồ gốc số 28 có 02 vị trí đất ở trên cùng sơ đồ thửa đất, chủ sử dụng đất ký tên là ông Lý Văn H14, chủ sử dụng đất liền kề ông Bế Văn E, được cán bộ địa chính và chính quyền xã C ký xác nhận. Điều này khẳng định tại thời điểm đo vẽ bản đồ đã có 02 ngôi nhà cùng được xây dựng trên cùng thửa đất. GCNQSD đất số AH 638551, cấp ngày 11/9/2007 được cấp cho Hộ ông Lục Văn K và bà Nông Thị Đ được thực hiện đúng theo quy trình, thủ tục tại thời điểm cấp GCN, không có phát sinh tranh chấp. Thửa đất tại thời điểm đo đạc, lập bản đồ địa chính năm 1999, cơ quan đo đạc có thể đã đo thiếu, sót không xác định ranh giới giữa 02 thửa đất và đo bao thửa đất của 02 gia đình ông Lục Văn K và gia đình ông Lý Văn H14.
Văn phòng Đ2 Chi nhánh Q kiến nghị Tòa án nhân dân huyện Quảng Hoà tiến hành kiểm tra, xác minh thực địa và quá trình sử dụng của cả 02 bên gia đình để xác định rõ nguyên nhân thiếu sót trong công tác đo vẽ bản đồ địa chính hoặc trong công tác kê khai cấp GCNQSD đất.
Ý kiến của những người làm chứng theo đề nghị của nguyên đơn Lý Thị H:
Ông Nông Quốc T: Thửa đất số 251 tờ bản đồ số 40 diện tích 559m² có nguồn gốc của gia đình ông Lý Văn H14, đã dựng nhà từ năm 1959, gia đình ông H14 đã sinh sống tại ngôi nhà này ba thế hệ, sử dụng ổn định, không mua bán, không tranh chấp. Thập niên 60 lúc đó có 03 ngôi nhà sàn cạnh nhau, nhà ông Lục Văn K, nhà ông Bế Văn E, nhà ông Lý Văn H14 (nhà ông E ở giữa, nhà ông H14 liền kề với nhà ông E). Qua thời gian nhà ông E đi dựng chỗ khác, nhà ông K và ông H14 mỗi nhà dựng trên một mảnh đất riêng biệt không chung nhau, cách nhau nền nhà ông E.
Ông Bế Ích H10: Tôi không nắm được nguồn gốc thửa đất này. Từ khi còn nhỏ khoảng năm 1970 tôi đi học qua lại đường gần đó đã thấy nhà ông H14. Tôi là bạn học với ông Lý Văn H2 là con trai của ông H14 nên có lần tôi được vào nhà ông H14 chơi với ông H2. Khoảng năm 2004-2005 mẹ ông H2 chết thì còn làm tang lễ tại nhà đó. Trước kia có 3 ngôi nhà sàn liền nhau lần lượt là nhà ông K, đến nhà ông Bế Văn E, đến nhà ông Lý Văn H14. Nhà ông E ở giữa, sau giải phóng M thì ông E dỡ nhà chuyển đi chỗ khác. Từ đó chỉ còn 2 ngôi nhà của gia đình ông K và ông H14. Về ngôi nhà của ông H14 tôi nghe các chú của tôi kể lại nhà ông H14 dựng từ năm 1959, đến khoảng năm 2008- 2009 thì bà H dỡ nhà về để làm nhà cho con trai của bà H và làm chuồng trâu ở ngay gần nhà của tôi nên tôi biết.
Bà Hoàng Thị H11: Tôi còn nhớ lúc tôi còn nhỏ ở Bản C đã có 03 ngôi nhà sàn: nhà ông Lý Văn H14, nhà ông Bế Văn E, nhà bà Luân Thị C1. Đám đất ông H14 dựng nhà từ xưa đến nay gia đình ông vẫn quản lý, canh tác, sử dụng. Ông H14, bà M chết các con ông, bà vẫn canh tác.
Bà Hứa Thị L: Trước đây khu Bản Chang có 03 ngôi nhà sàn là nhà ông Lý Văn H14, nhà ông Bế Văn E, nhà bà Luân Thị C1 (mẹ ông K). Ba nhà dựng liền vách nhau. Có nhà ông nội ông K trước, mới có nhà ông E, năm 1959 nhà ông H14 mới dựng. Tôi đi học, đi chợ, đi làm đều đi qua dưới 3 nhà này. Đám đất tranh chấp đều do gia đình ông H14 quản lý, sử dụng đã 03 đời.
Ý kiến của những người làm chứng theo đề nghị của bị đơn Lục Văn K, Nông Thị Đ:
Bà Chu Thị B: Về nguồn gốc thửa đất tranh chấp tôi cũng không biết. Trong quá trình sinh sống tại đây thì tôi ít đi qua khu vực có đất tranh chấp giữa ông K, bà Đ và bà H nên tôi cũng không nắm được trên đất có bao nhiêu ngôi nhà. Có một hôm bà Đ lấy 01 tờ giấy đến nhà tôi và nói tôi ký cho bà Đ, không ảnh hưởng đến tôi đâu, về nội dung của giấy thì tôi không đọc, bà Đ cũng không đọc cho tôi nghe. Tôi từ chối tham gia tố tụng vì tôi không biết gì về đất đang có tranh chấp.
Ông Nông Văn H12: Về nguồn gốc thửa đất số 251 tôi không nắm rõ. Trên đất có 03 ngôi nhà sàn, nhà đầu tiên của gia đình ông K, ở giữa là nhà ông Bế Văn E, đến nhà ông Lý Văn H14. Ông E là bố vợ của tôi nên tôi biết được, sau khi dỡ nhà đi một thời gian thì phần đất nền nhà của ông E đã bán cho ông K, bán thời gian nào tôi cũng không nhớ. Về ngôi nhà của ông Lý Văn H14 đã được xây dựng trên đất từ trước thời kỳ hợp tác xã, tôi không nhớ chính xác năm, khoảng những năm 2000 ông H14 đi ở hẳn với ông H2, sau đó bà H mới dỡ nhà. Tôi có được ký làm người làm chứng cho bà Đ, khi ký giấy tôi không đọc nội dung, bà Đ cũng không đọc cho tôi nghe.
Bà Hoàng Thị D: Về nguồn gốc đất tranh chấp tôi không biết. Tôi chỉ nhớ trên thửa đất có 03 ngôi nhà sàn của gia đình ông K, ông E và ông H14 (bố của bà H). Nhà ông E và ông H14 dỡ đi thời gian nào tôi không biết. Bà Đ có mang tờ giấy đến nhà tôi nhờ tôi ký và nói tôi là người già nên ký xác nhận vào giấy, tôi không biết giấy có nội dung gì, bà Đ cũng không đọc nội dung cho tôi. Do tuổi đã cao, sức khỏe không đảm bảo nên tôi từ chối tham gia tố tụng.
Bà Nông Thị H13: Nguồn gốc đất đang tranh chấp là của họ Lục. Bố của ông K (ông V1) là con bà cả, bà M là mẹ của bà H là con của bà hai. Do bà hai không có con trai nên lấy ông H14 về ở rể. Ông V1 và bà M là hai anh em cùng cha khác mẹ. Trước đó có 03 ngôi nhà là nhà ông V1, nhà ông E ở giữa, đến nhà bà M. Sau đó nhà ông E chuyển đi chỗ khác, thời gian chuyển đi tôi không nhớ. Ông H14, bà M dựng nhà trên đất năm nào tôi không nhớ, chỉ nhớ là thời kỳ hợp tác xã năm 1960 đã thấy có nhà của ông H14. Tôi không được ký vào giấy người làm chứng do bà Đ viết, tôi không gặp bà Đ và bà Đ cũng không đến gặp tôi, không thấy nói thông tin xác nhận gì. Tôi từ chối tham gia tố tụng vì tôi không được ký vào giấy người làm chứng của bà Đ.
Tại Biên bản hòa giải ngày 28/12/2022 của xóm Đ thể hiện ý kiến ông K cho rằng: Hai đám đất (số B và số 66 tờ bản đồ số 28) đều là của gia đình bà H từ lâu theo lịch sử, do cấp sổ đỏ sai, do UBND Quảng Uyên cấp nhầm lẫn. Đến năm 2019 UBND huyện đã cấp lại quyền sử dụng đất cho bà Lý Thị H. Tuy nhiên, tại Biên bản hòa giải ngày 21/6/2023 của xóm Đ ông K lại cho rằng đất tranh chấp là của ông K. Do đó, Tòa án đã tiến hành lấy lời khai của những thành viên hòa giải tại xóm Đ
Ý kiến của những thành viên được tham gia hòa giải tại xóm Đ:
Bà Bế Thị L2: Tôi là Tổ trưởng tổ hòa giải và là Trưởng xóm Đ Tôi được triệu tập các bên tranh chấp để hòa giải 02 lần vào năm 2022 và năm 2023. Cả hai biên bản hòa giải ngày 21/6/2023 và 28/12/2022, tổ hòa giải đã ghi trung thực và đúng ý kiến của ông K. Lý do tại sao ông K thay đổi lời khai tại 2 buổi hòa giải tôi không biết.
Bà Lương Thị H16: Tôi có được tham gia hòa giải tại xóm 02 lần vào năm 2022 và năm 2023 với tư cách thành viên tổ hòa giải. Tổ hòa giải đã ghi đúng ý kiến của ông K. Ngày 28/12/2022 ông K có thừa nhận đất tranh chấp là của gia đình bà H do UBND huyện cấp nhầm cho ông K, đến buổi hòa giải ngày 21/6/2023 ông K lại thay đổi ý kiến cho rằng đất của ông K.
Ông Đoàn Minh T1: Tôi là Công an viên xóm và là thành viên tổ hòa giải, là người ghi biên bản. Năm 2022 và năm 2023 tại cấp xóm tôi có được tham gia hòa giải tranh chấp đất đai giữa bà H, ông K, bà Đ, kết quả các cuộc hòa giải đều không thành. Biên bản hòa giải ngày 28/12/2022 và biên bản hòa giải ngày 21/6/2023 tôi đã ghi đúng ý kiến của những người tham gia hòa giải và ý kiến của ông K. Tôi không biết lý do tại sao ông K lại thay đổi ý kiến tại hai buổi hòa giải.
Bà Trương Thị D1: Tại biên bản hòa giải ngày 28/12/2022 và biên bản hòa giải ngày 21/6/2023 tổ hòa giải đã ghi đúng ý kiến của ông K. Lý do tại sao ông K thay đổi lời khai thì tôi không biết.
Ông Nông Quốc T: Tôi là người uy tín của xóm, là thành viên tổ hòa giải. Tổ hòa giải đã ghi đầy đủ và đúng nội dung ý kiến của ông K tại 02 buổi hòa giải ngày 21/6/2023 và 28/12/2022. Lý do tại sao ông K thay đổi lời khai tôi không biết.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Về nội dung đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lý Thị H, hủy toàn bộ GCNQSD đất số AH 638551 ngày 11/9/2007 do UBND huyện Q đã cấp cho hộ ông Lục Văn K và bà Nông Thị Đ; Đồng thời công nhận phần diện tích đất này là thuộc quyền sử dụng hợp pháp của bà H.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 03/2025/DS-ST ngày 05/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2- Cao Bằng đã tuyên xử như sau: Căn cứ vào Điều 166 Bộ luật dân sự; Điều 50 Luật đất đai năm 2003; điểm d khoản 2 Điều 152, Điều 236 Luật Đất đai năm 2024; Điều 5 Nghị quyết số: 01/2025/NQ- HĐTP ngày 27/6/2025 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao; Khoản 1 Điều 157 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Lý Thị H. Thu hồi GCNQSD đất số AH 638551, vào sổ cấp GCNQSD đất số H01650 ngày 11/9/2007 do UBND huyện Q đã cấp cho hộ ông Lục Văn K và bà Nông Thị Đ đối với đối với thửa đất số 67 tờ bản đồ số 28 diện tích 1251,0m² tại xóm Đ, xã C, huyện Q (nay là xóm Đ, xã Q), tỉnh Cao Bằng để huỷ và cấp lại.
Nguyên đơn Lý Thị H được tiếp tục quản lý sử dụng 549,1m² đất thuộc thửa 251 tờ bản đồ số 40 tại xóm Đ, xã Q, tỉnh Cao Bằng (Ranh giới thửa đất theo Bản đồ năm 2020, có sơ đồ kèm theo).
Ông Lục Văn K và bà Nông Thị Đ phải nộp lại bản gốc GCNQSD đất số AH 638551 cho Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai khu vực Q để đăng ký biến động quyền sử dụng đất theo quyết định của bản án;
UBND xã Q, tỉnh Cao Bằng có trách nhiệm thực hiện thủ tục cấp GCNQSD đất cho người sử dụng đất tại thửa số 67 tờ bản đồ số 28, diện tích 1251,0 m² (hiện nay là thửa số 250 và thửa số 251 thuộc tờ bản đồ số 40 tại xóm Đ, xã Q, tỉnh Cao Bằng theo đúng đối tượng, diện tích thực tế, hiện trạng sử dụng đất.
Các đương sự có trách nhiệm liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký kê khai cấp GCNQSD đất đối với diện tích đất quản lý thực tế trong các thửa 250 và 251 tờ bản đồ số 40.
Về chi phí thẩm định tại chỗ, chi phí đo đạc: Bị đơn Lục Văn K, Nông Thị Đ phải chịu toàn bộ chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và đo đạc là 4.800.000đồng (Bốn triệu tám trăm nghìn đồng). Do nguyên đơn Lý Thị H đã chi trước số tiền 4.800.000 đồng nên buộc ông K, bà Đ phải có nghĩa vụ đến Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 2- Cao Bằng nộp số tiền 4.800.000 đồng để trả lại cho bà H.
Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm ngày 19/8/2025 ông Lục Văn K và Bà Nông Thị Đ kháng cáo bản án sơ thẩm với nội dung: Không nhất trí với bản án sơ thẩm đã tuyên.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Nguyên đơn; Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Không nhất trí yêu cầu kháng cáo của bị đơn đề nghị cấp phúc thẩm giữ nguyên bản án sơ thẩm đã tuyên.
Bị đơn; Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Yêu cầu Toà cấp phúc thẩm xem xét lại quyết định bản án sơ thẩm là không đúng, đất đang tranh chấp là của bị đơn. Vì bị đơn đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận đơn kháng cáo của bị đơn.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Đại diện văn phòng Đ2 chi nhánh Q nhất trí với quyết định của bản án sơ thẩm.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng phát biểu quan điểm:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa, người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, đảm bảo đúng quy định của pháp luật.
Về đường lối giải quyết: Bản án dân sự sơ thẩm số: 03/2025/DS-ST ngày 05/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2- Cao Bằng đã giải quyết đúng về nội dung. Tuy nhiên cần xem xét sửa một phần quyết định bản án sơ thẩm cho đúng quy định pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của ông Lục Văn K và Bà Nông Thị Đ. Sửa một phần quyết định của Bản án số: 03/2025/DS-ST ngày ngày 05/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Cao Bằng.
Sau khi nghiên cứu hồ sơ và thẩm tra chứng cứ tại phiên tòa, nghe lời trình bày của các đương sự, ý kiến phát biểu của kiểm sát viên và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Tòa án cấp sơ thẩm thực hiện và tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong việc thụ lý, xác định thẩm quyền, quan hệ pháp luật tranh chấp, thu thập và giao nộp chứng cứ, thẩm định, và hòa giải, trình tự và thủ tục phiên tòa sơ thẩm. Đơn kháng cáo của bị đơn nộp trong thời hạn luật định, được miễn nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Xét nội dung đơn kháng cáo và các căn cứ kháng cáo của bị đơn:
Về nguồn gốc và quá trình sử dụng:
Theo lời khai của nguyên đơn, tất cả những người làm chứng và ngay cả các bị đơn đều thừa nhận rằng gia đình ông Lý Văn H14 đã dựng ngôi nhà gỗ 03 gian trên thửa đất tranh chấp từ năm 1959, gia đình ông H14 đã sinh sống tại đây liên lục từ khi làm nhà cho đến năm 2008 ông H2 làm được nhà riêng mới đón ông H14 đến ở cùng, sau đó phần đất này được giao cho bà Lý Thị H quản lý sử dụng, năm 2009 bà H mới dỡ ngôi nhà gỗ 03 gian, nhưng vẫn quản lý sử dụng đất cho đến nay.
Biên bản hòa giải ngày 28/12/2022 của xóm Đ có thể hiện ý kiến ông K cho rằng: “Hai đám đất trên (số 251 tờ bản đồ 40 và số 66 tờ bản đồ số 28) đều là của gia đình bà H từ lâu theo lịch sử, do cấp sổ đỏ sai, do UBND Quảng Uyên cấp nhầm lẫn. Đến năm 2019 U đã cấp lại quyền sử dụng đất cho bà Lý Thị H”. Các thành viên hội đồng hòa giải đều khẳng định đã ghi trung thực và ghi đúng lời khai của ông K. Như vậy có cơ sở để xác định ông K cũng đã từng thừa nhận rằng có việc cấp nhầm GCNQSD đất đối với thửa 251 tờ bản đồ 40 đang có tranh chấp nên mới có việc thực hiện chuyển nhượng lại nhưng đã không thực hiện được.
Tại Quyết định số: 01/2023/QÐST-DS ngày 24/5/2023 của Tòa án nhân dân huyện Quảng Hòa (nay là Tòa án nhân dân Khu vực 2-Cao Bằng) đã công nhận sự thỏa thuận của nguyên đơn Nông Thị Đ và bị đơn Lý Thị H về tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng đối với thửa đất số 251 tờ bản đồ 40 là vô hiệu đang có hiệu lực pháp luật.
Về các biên lai thu thuế nhà đất do bị đơn Lục Văn K và nguyên đơn Lý Thị H giao nộp: Xét thấy, các biên lai này chỉ có họ tên, địa chỉ của người nộp thuế, số tiền nộp thuế mà không thể hiện được việc nộp thuế là nộp cho thửa đất số mấy, tờ bản đồ số nào. Do đó, không có cơ sở để xác định các biên lai mà bị đơn, nguyên đơn giao nộp là để nộp thuế cho thửa đất số 251, tờ bản đồ số 40.
Biên bản xác định ranh giới, mốc giới thửa đất ngày 14/8/1999 do UBND xã C tiến hành khảo sát ranh giới thửa đất tại thực địa của ông Lý Văn H14 thuộc thửa số 67 diện tích 1250.6m² tờ bản đồ số 28 cho thấy có 02 vị trí đất ở trên cùng sơ đồ thửa đất, chủ sử dụng đất ký tên là ông Lý Văn H14, chủ sử dụng đất liền kề ông Bế Văn E, được cán bộ địa chính và chính quyền xã C ký xác nhận.
Đối chiếu thửa đất số 67 tờ bản đồ số 28 diện tích 1251m² trên giấy chứng nhận số AH 638551 ngày 11/9/2007 cấp cho hộ ông Lục Văn K3 và bà Nông Thị Đ có vị trí, hình thể, kích thước các cạnh trùng khớp với vị trí, hình thể, kích thước các cạnh trên sơ đồ thửa đất ngày 14/8/1999 chủ sử dụng đất ký tên là ông Lý Văn H14 là cùng một thửa đất. Biên bản xác định ranh giới, mốc giới thửa đất ông Lý Văn H14 năm 1999 có chủ sử dụng đất liền kề ông Bế Văn E là hoàn toàn phù hợp với lời khai của những người làm chứng đều thừa nhận trước đó có 03 ngồi nhà sàn liền kề nhau gồm nhà của gia đình ông K, nhà ông Bế Văn E ở giữa, rồi đến nhà ông Lý Văn H14.
Ngày 10/4/2006, ông Lục Văn K và bà Nông Thị Đ có đơn xin cấp đổi GCNQSD đất cho 13 thửa đất, trong đó có thửa số 67 tờ bản đồ số 28, diện tích 1251,0 m² (hiện nay là thửa số 250 (diện tích 692m²) và thửa số 251 (diện tích 559m²) thuộc tờ bản đồ số 40).
Gia đình ông Lý Văn H14 đã dựng ngôi nhà sàn gỗ 03 gian tại thửa đất số 251 tờ bản đồ số 40 từ năm 1959, cho đến ngày 10/4/2006 khi ông K và bà Đ làm thủ tục kê khai để xin cấp GCNQSD đất thì gia đình ông Lý Văn H14 vẫn đang sinh sống tại đây và đã ở đây được 47 năm liên tục.
Do vậy, có cơ sở để xác định người quản lý, sử dụng thửa đất số 251 tờ bản đồ số 40 từ năm 1959 đến năm 2006 là gia đình ông Lý Văn H14. Còn ông K và bà Đ mặc dù không phải là hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng phần đất này nhưng vẫn kê khai gộp thửa đất này cùng với các thửa đất khác của gia đình để UBND xã C xác nhận là đất không có tranh chấp, sau đó được UBND huyện Q cấp GCNQSD đất cho hộ ông K và bà Đ cả phần diện tích 559m² của ông Lý Văn H14 trong tổng diện tích 1251,0m² của thửa đất số 67 tờ bản đồ số 28 là chưa đúng về đối tượng và chưa phù hợp với quy định tại Điều 50 của Luật đất đai năm 2003. Ngoài ra, tại thời điểm này, do gia đình ông Lý Văn H14 cũng đã sơ suất khi không thực hiện kê khai xin cấp GCNQSD đất đối với thửa 251 nên không có sự kê khai trùng lặp, vì vậy các cơ quan chuyên môn cũng đã không phát hiện được.
Thửa đất 251 tờ bản đồ 40 có nguồn gốc là của bà Lục Thị M (chết năm 2002) và ông Lý Văn H14 (chết năm 2015). Gia đình ông Lý Văn H14 đã dựng ngôi nhà sàn gỗ 03 gian tại thửa đất số 251 tờ bản đồ số 40 từ năm 1959, cho đến ngày 10/4/2006 khi ông K và bà Đ làm thủ tục kê khai để xin cấp GCNQSD đất thì gia đình ông Lý Văn H14 vẫn đang sinh sống tại đây và đã ở đây được 47 năm liên tục. Những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của bà M, ông H14 (gồm ông Lý Văn H2, bà Lý Thị H3, bà Lý Thị V, những người thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Lý Minh K2) đều đồng ý giao thửa đất này cho bà Lý Thị H quản lý, sử dụng, định đoạt và không yêu cầu chia di sản thửa kế đối với thửa đất số 251. Do đó, cần công nhận quyền sử dụng hợp pháp của bà Lý Thị H đối với thửa đất này đang nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AH 638551 ngày 11/9/2007 cấp cho hộ ông Lục Văn K và bà Nông Thị Đ.
Bà Lý Thị H có yêu cầu hủy một phần GCNQSD đất số AH 638551 đã cấp cho ông K, bà Đ. Tại văn bản số 837/TCQLĐĐC-ĐKĐĐ ngày 11/5/2021 của T3 hướng dẫn về tăng cường biện pháp hủy Giấy chứng nhận đã cấp theo đó cần huỷ toàn bộ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Vì vậy, căn cứ Điều 50 Luật đất đai năm 2003, khoản 2 Điều 152 Luật Đất đai năm 2024 chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lý Thị H, Huỷ GCNQSD đất đã cấp cho ông Lục Văn K, bà Nông Thị Đ đối với thửa đất số 67 tờ bản đồ số 28 diện tích 1251,0m².
Về diện tích, hiện trạng thửa đang đất tranh chấp theo sơ đồ đo vẽ của Trung tâm kỹ thuật tài nguyên môi trường tỉnh C phát hành ngày 06/02/2025 (đo vẽ ngày 09/01/2025): Diện tích tranh chấp là 513.8m; tại phần ghi chú của sơ đồ diện tích 513.8m2 là theo nguyên đơn và bị đơn chỉ. Do vậy, Hội đồng xét xử khẳng định diện tích đất hiện trạng tranh chấp là 513.8m2 từ đó ghi nhận bà Lý Thị H được quyền quản lý, sử dụng diện tích đất là 513.8 m2, tại (thửa đất số 251, tờ bản đồ số 40- theo bản đồ địa chính năm 2012) nay là thửa số 134, tờ bản đồ số 75 (theo bản đô địa chính năm 2020) tại xóm Đ, thị trấn Q, huyện Q, tỉnh Cao Bằng. (Nay là Xóm Đ, xã Q, tỉnh Cao Bằng).
Căn cứ những lập luận trên Hội đồng xét xử thấy rằng, Toà án nhân dân khu vực 2- Cao Bằng quyết định giải quyết vụ án như đã tuyên là đúng. Tại phiên toà phúc thẩm, bị đơn kháng cáo không cung cấp chứng cứ, tài liệu gì mới làm thay đổi quyết định của cấp sơ thẩm. Do vậy, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận đơn kháng cáo của ông Lục Văn K bà Nông Thị Đ.
Toà án cấp sơ thẩm đã tuyên đúng về giải quyết nội dung vụ án. Tuy nhiên, theo Nghị quyết số: 81/2025/UBTVQH15 ngày 27/6/2025; Nghị quyết số: 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27/6/2025 Hướng dẫn áp dụng một số quy định về tiếp nhận nhiệm vụ, thực hiện thẩm quyền của các Toà án nhân dân. Theo đó Toà án nhân dân khu vực có thẩm quyền huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Toà án nhân dân khu vực 2- Cao Bằng đã tuyên thu hồi là chưa đúng. Do vậy, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy, cần sửa phần quyết định của bản án sơ thẩm về việc tuyên thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; số liệu diện tích thực tế hiện trạng thửa đất và phần không tuyên tính lãi xuất chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền (tiền chi phí thẩm định) quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.
[3] Về ý kiến của người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp:
Ý kiến của người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bị đơn: Với những căn cứ đã không chấp nhận kháng cáo của bị đơn. Hội đồng xét xử không chấp nhận ý kiến của người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bị đơn.
Ý kiến của người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Phù hợp với đánh giá của Hội đồng xét xử được chấp nhận.
[4] Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng: Đề nghị sửa phần quyết định của bản án dân sự sơ thẩm số: 03/2025/DS-ST ngày ngày 05/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2- Cao Bằng phù hợp với nhận định, đánh giá của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[5] Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và đo đạc và án phí sơ thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu toàn bộ chi phí thẩm định tại chỗ. Vì vậy, buộc ông Lục Văn K, bà Nông Thị Đ liên đới có nghĩa vụ trả lại cho bà Lý Thị H số tiền chi phí thẩm định tại chỗ và chịu lãi xuất theo quy định khi chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền theo quy định của pháp luật.
[6] Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên Lục Văn K, Nông Thị Đ phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định. Tuy nhiên, do ông K, bà Đ là đối tượng người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên được miễn nộp án phí phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 308; Điều 148; Điều 34 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025; Điều 152, Điều 236 Luật đất đai năm 2024; Điều 12; Điều 29 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Không chấp nhận kháng cáo của ông Lục Văn K và bà Nông Thị Đ. Sửa một phần quyết định của Bản án sơ thẩm số: 03/2025/DS-ST ngày 05/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2- Cao Bằng.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lý Thị H. Bà Lý Thị H được quản lý, sử dụng diện tích đất 513.8m2 (thửa đất số 251, tờ bản đồ số 40- theo bản đồ địa chính năm 2012) nay là thửa số 134, tờ bản đồ số 75 (theo bản đô địa chính năm 2020) tại xóm Đ, thị trấn Q, huyện Q, tỉnh Cao Bằng. (Nay là Xóm Đ, xã Q, tỉnh Cao Bằng)
- Huỷ GCNQSD đất số AH 638551, vào sổ cấp GCNQSD đất số H01650 ngày 11/9/2007 do Ủy ban nhân dân huyện Q, tỉnh Cao Bằng đã cấp cho hộ ông Lục Văn K và bà Nông Thị Đ đối với đối với thửa đất số 67 tờ bản đồ số 28 diện tích 1251,0m² tại xóm Đ, xã C, huyện Q, tỉnh Cao Bằng (nay là xóm Đ, xã Q, tỉnh Cao Bằng).
- Về chi phí tố tụng và án phí phúc thẩm:
(Ranh giới, vị trí, tứ cận của thửa đất theo sơ đồ trích đo địa chính khu đất đo vẽ ngày 09/01/2025 của Trung Tâm kỹ thuật tài nguyên môi trường tỉnh C, sơ đồ trích đo địa chính kèm theo là một phần của bản án không tách rời).
Các đương sự có trách nhiệm liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để đăng ký kê khai cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo diện tích được quyền quản lý, sử dụng.
Chi phí tố tụng: Buộc ông Lục Văn K và bà Nông Thị Đ liên đới trả số tiền 4.800.000đồng cho Bà Lý Thị H, Sinh năm 1960; Địa chỉ: Xóm Đ, xã Q, tỉnh Cao Bằng.
Án phí phúc thẩm: Ông Lục Văn K, bà Nông Thị Đ được miễn án phí phúc thẩm.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Vi Khánh Dần |
Bản án số 02/2025/DS-PT ngày 15/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CAO BẰNG về tranh chấp quyền sử dụng đất; yêu cầu huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Số bản án: 02/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất; yêu cầu huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 15/12/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CAO BẰNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất
