TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - LAI CHÂU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 02/2025/DS-ST Ngày: 27-11-2025 V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng, tuyên bố hợp đồng thế chấp vô hiệu và giải quyết hậu quả của hợp đồng thế chấp vô hiệu” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - LAI CHÂU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lương Văn Đoàn.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lò Văn Chiên và ông Đèo Văn Vĩnh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lù Thị Xuân – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 3 – Lai Châu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Lai Châu tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Xuân - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 11 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3 – Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 09/2025/TLST-DS ngày 14 tháng 5 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng, tuyên bố hợp đồng thế chấp vô hiệu và giải quyết hậu quả của hợp đồng thế chấp vô hiệu” giữa:
Nguyên đơn: Ngân hàng N.
Địa chỉ trụ sở: Số B, L, phường G, thành phố H, người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Toàn V – Chức vụ: Tổng giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền của người đại diện theo pháp luật ông Phạm Toàn V: Bà Vũ Thị L – Chức vụ: Giám đốc Ngân hàng N - Chi nhánh P1, tỉnh Lai Châu (A1 chi nhánh P1), Địa chỉ: Tổ dân phố H, xã P, tỉnh Lai Châu. Người đại diện theo uỷ quyền của bà Vũ Thị L: Ông Đỗ Tuần P – Chức vụ: Phó Giám đốc Ngân hàng N - Chi nhánh P1, tỉnh Lai Châu (A1 chi nhánh P1). Có mặt.
Bị đơn: Bà Trần Thị O, sinh năm 1966.
Nơi cư trú: Thôn T, xã P, tỉnh Lai Châu (Có mặt).
Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Ông Vũ Đình T, sinh năm 1964 (Có mặt).
- Anh Vũ Ngọc A, sinh năm 1987 (Vắng mặt).
- Chị Vũ Thị M, sinh năm 1986 (Vắng mặt).
Đều cư trú tại: Thôn T, xã P, tỉnh Lai Châu.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan – ông Vũ Đình T: Bà Trần Thị H – Luật sư thuộc Văn phòng L1, Đoàn Luật sư tỉnh L, địa chỉ tổ I, phường T, tỉnh Lai Châu (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 09/4/2025 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng N chi nhánh P1, tỉnh Lai Châu (sau đây gọi là A1 chi nhánh P1) bà Vũ Thị L – Chức vụ Giám đốc trình bày:
Ngày 08/6/2020, Ngân hàng A1 chi nhánh P1, phòng G và bà Trần Thị O ký hợp đồng tín dụng số 7802-LAV-202000344 với số tiền cho vay là 1.500.000.000 đồng, mục đích vay để làm nhà ở và mua sắm nội thất, thời hạn vay là 36 tháng kể từ ngày 08/6/2020 đến ngày 08/6/2023, lãi suất cho vay trong hạn là 11,5%/năm, lãi suất nợ quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn, phương thức trả lãi tiền vay là 06 tháng/lần, phương thức áp dụng lãi suất là lãi suất có điều chỉnh.
Thực hiện hợp đồng tín dụng nêu trên Ngân hàng đã giải ngân cho bà O tổng số tiền là 1.500.000.000 đồng được thể hiện ở 02 báo cáo đề xuất giải ngân kiêm giấy nhận nợ các ngày 08/6/2020 và ngày 22/6/2020. Để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ, bà O đã ký với ngân hàng A1 chi nhánh P1, Phòng G hợp đồng thế chấp bất động sản số 7802-LCL-202000117 ngày 01/6/2020, số chứng thực 42, quyển số 01 ngày 02/6/2020 tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện P (Nay là UBND xã P, tỉnh Lai Châu) đối với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và các tài sản gắn liền với đất số phát hành CL 113627, số vào sổ CH02506 do Ủy ban nhân dân huyện P cấp ngày 09/4/2018 tại thửa đất số 38, tờ bản đồ số 69, địa chỉ thửa đất tại thôn T, xã P, tỉnh Lai Châu, diện tích là 536,2m².
Tại đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, Ngân hàng A1 chi nhánh P1 yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Trần Thị O phải hoàn trả tổng số nợ gốc và nợ lãi tạm tính đến ngày 09/4/2025 là 1.701.030.000 đồng, gồm nợ gốc là 1.462.000.000 đồng, nợ lãi tính từ ngày 19/11/2023 đến ngày 09/4/2025 là 239.030.000 đồng. Tại giấy đề nghị kiêm phương án cơ cấu lại thời hạn trả nợ ngày 21/11/2023 và thông báo về việc chấp thuận cơ cấu thời hạn trả nợ ngày 13/12/2023 của Ngân hàng A1 chi nhánh P1, ngân hàng đã chấp thuận cơ cấu lại khoản nợ của bà Trần Thị O đối với hợp đồng tín dụng số 78/02-LAV-202000334 ngày 08/6/2020.
Tại bản tự khai ngày 24/11/2025 và tại phiên tòa đại diện Ngân hàng A1 chi nhánh P1 trình bày, tính đến ngày 27/11/2025 bị đơn bà O còn nợ lại tổng số tiền 1.923.169.943 đồng do vậy đại diện Ngân hàng A1 chi nhánh P1 thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện, đề nghị Tòa án giải quyết buộc bị đơn là bà Trần Thị O phải hoàn trả nợ gốc tính đến ngày 27/11/2025 cụ thể đối với khoản giải ngân 1.000.000.000 đồng còn nợ lại nợ gốc là 942.780.000 đồng, đối với khoản giải ngân số tiền 500.000.000 đồng, nợ lại số tiền gốc 500.000.000 đồng, tổng cộng nợ gốc là 1.442.780.000 đồng. Yêu cầu bà Trần Thị O phải trả nợ lãi là 480.389.943 đồng, cụ thể nợ lãi trong hạn đối với khoản giải ngân 1.000.000.000 đồng còn nợ lại 225.846.795 đồng, nợ lãi quá hạn là 95.386.299 đồng; Đối với khoản giải ngân số tiền 500.000.000 đồng, nợ lại số tiền lãi trong hạn là 109.801.370 đồng, nợ lãi quá hạn là 49.355.479 đồng. Kể từ ngày tiếp theo của ngày Tòa án xét xử sơ thẩm, bà O còn phải trả tiền lãi cho ngân hàng tính trên số tiền nợ gốc chưa trả cho đến khi bà O thực hiện xong nghĩa vụ trả tiền nợ gốc theo lãi suất quy định. Đối với hợp đồng thế chấp bất động sản số 7802-LCL-202000117 ngày 01/6/2020 giữa Ngân hàng A1 chi nhánh P1 và bà Trần Thị O thì đại diện ngân hàng đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Bị đơn bà Trần Thị O trình bày: Ngày 08/6/2020 bà đã ký kết với Ngân hàng A1 chi nhánh P1, phòng G hợp đồng tín dụng số 7802-LAV-202000334 với số tiền 1.500.000.000 đồng, thời hạn vay là 36 tháng, kể từ ngày 08/6/2020 đến hết ngày 08/6/2023. Phía ngân hàng đã tiến hành giải ngân số tiền trên cho bà. Để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ với ngân hàng theo hợp đồng tín dụng, bà đã ký với ngân hàng hợp đồng thế chấp bất động sản số 7802-LCL-202000117 ngày 01/6/2020 đối với thửa đất 38, tờ bản đồ số 69. Quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng, đến ngày trả nợ theo phân kỳ bà chưa thanh toán đầy đủ tiền nợ gốc và nợ lãi theo quy định giống như đại diện ngân hàng đã trình bày, hiện nay khoản vay của bà đã chuyển sang nợ quá hạn. Nay ngân hàng khởi kiện yêu cầu bà phải hoàn trả toàn bộ nợ gốc và nợ lãi theo hợp đồng tín dụng đã ký kết đến khi tất toán xong khoản nợ. Bà đồng ý trả khoản nợ gốc và nợ lãi đối với yêu cầu khởi kiện nêu trên của ngân hàng X do điều kiện gia đình bà hiện nay không thể hoàn trả toàn bộ khoản nợ gốc và nợ lãi cho ngân hàng được nên bà đề nghị Ngân hàng tạo điều kiện cho bà về mặt thời gian để bà thu xếp trả dần, cụ thể mỗi tháng trả mức từ 5 đến 10 triệu đồng. Ngày 01/8/2025 bà có đơn yêu cầu phản tố về việc đề nghị Tòa án giải quyết tuyên bố hợp đồng thế chấp bất động sản số 7802-LCL-000334 ngày 01/8/2020 giữa Ngân hàng A1 chi nhánh P1 và bà là vô hiệu; Đề nghị giải quyết hậu quả của hợp đồng thế chấp vô hiệu.
Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan – Ông Vũ Đình T và người bảo vệ quyền và lợi lích hợp pháp cho ông T trình bày: Ông là chồng của bà Trần Thị O, là đồng sở hữu với bà O đối với phần diện tích đất 536,2 m², có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Trần Thị O và Vũ Đình T có địa chỉ tại thôn T, xã P, tỉnh Lai Châu. Việc bà O ký kết hợp đồng tín dụng số 7802-LAV-202000304 ngày 08/6/2020 và hợp đồng thế chấp bất động sản số 7802-LCL-202000117 ngày 01/6/2020 với Ngân hàng A1 chi nhánh P1, ông đều không biết, thời điểm bà O ký kết các hợp đồng trên ông đang đi chấp hành án phạt tù tại tỉnh Thừa Thiên Huế. Ông cho rằng việc ký kết hợp đồng tín dụng giữa bà O và ngân hàng là chưa đúng về mục đích vay vốn. Đối với hợp đồng thế chấp bất động sản được ký kết giữa bà O và Ngân hàng là không có hiệu lực pháp luật vì quyền sử dụng đất theo hợp đồng thế chấp bất động sản là tài sản chung của ông và bà O, tuy nhiên trong hợp đồng thế chấp chỉ có chữ ký của bà O mà không có chữ ký của ông là chưa đúng. Việc bà O ký kết hợp đồng tín dụng vay vốn số tiền 1.500.000.000 đồng, ông không liên quan, bà O vay thì bà O có trách nhiệm trả. Quá trình giải quyết vụ án ông cung cấp cho Tòa án các đơn kiến nghị, các văn bản phản bác đề nghị tuyên bố hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp là vô hiệu, bảo vệ quyền cư trú, quyền sở hữu tài sản hợp pháp và xem xét trách nhiệm của Ngân hàng trong quy trình nghiệp vụ tín dụng, ông đồng ý với yêu cầu phản tố của bà O đề nghị tuyên bố hợp đồng thế chấp bất động sản là vô hiệu và giải quyết hậu quả của hợp đồng thế chấp bất động sản, ông không đồng ý xử lý tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất là giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành CL 113627, số vào sổ CH02506 do Ủy ban nhân dân huyện P cấp ngày 09/4/2018 tại thửa đất số 38, tờ bản đồ số 69, địa chỉ thửa đất tại thôn T, xã P, tỉnh Lai Châu, diện tích là 536,2m² để thanh toán khoản nợ của bà O, nếu bà O không thực hiện đúng, đầy đủ nghĩa vụ trả nợ với ngân hàng. Trong quá trình chuẩn bị xét xử ông có làm đơn gửi đến Cơ quan cảnh sát điều tra, Công an tỉnh L đề nghị xác định trách nhiệm của ngân hàng trong việc lập hồ sơ tín dụng sai sự thật, bỏ qua quy trình thẩm định tài chính, sử dụng thông tin không đúng để giải ngân và tuyên bố hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp là vô hiệu.
Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là anh Vũ Ngọc A và chị Vũ Thị M là con trai và và con dâu của ông Vũ Đình T và bà Trần Thị O, anh, chị là đồng sử dụng căn nhà trên phần diện tích đất đã thế chấp theo hợp đồng thế chấp bất động sản số 7802-LCL-202000117 ngày 01/6/2020 giữa ngân hàng và bà O, anh, chị vắng mặt tại phiên tòa. Trong quá trình giải quyết vụ án mặc dù đã được Tòa án đưa vào với tư cách là những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và triệu tập tuy nhiên đã từ chối tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan. Ý kiến của anh chị là việc vay nợ giữa bà O và ngân hàng thì anh, chị không liên quan, không có quyền lợi và nghĩa vụ gì trong vụ án, bà O tự vay nên bà O tự có trách nhiệm trả nợ cho ngân hàng.
Tại phiên tòa, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bị đơn giữ nguyên yêu cầu phản tố.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Lai Châu phát biểu quan điểm:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử: Từ giai đoạn thụ lý đến khi mở phiên tòa đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật.
Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn và đại diện của nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng và đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là anh Vũ Ngọc A và chị Vũ Thị M vắng mặt tại các phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, được triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Do vậy Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 227, các khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự để tiến hành xét xử vắng mặt những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là anh Vũ Ngọc A và chị Vũ Thị M là đúng quy định.
Về nội dung: Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 39; Điều 144, Điều 147; Điều 157, khoản 2 Điều 227, các khoản 1, 3 Điều 228, Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Các Điều 117, 122, 131, 357, 407, 427, 463, khoản 5 Điều 466, Điều 468, Điều 470 Bộ luật Dân sự; Các Điều 91, 95, 98 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010; Các Điều 34, 35 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao; Các Điều 12, 13 Nghị định số 126/2014/NĐ-CP ngày 31/12/2014 của Chính phủ; Các khoản 2, 5 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Q, đề nghị:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bà Trần Thị O phải hoàn trả nợ gốc, tiền lãi trong hạn và tiền lãi quá hạn theo nội dung đã thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng số 7802-LAV-202000344 ngày 08/6/2020 và văn bản cơ cấu thời hạn trả nợ là: nợ gốc 1.442.780.000 đồng, lãi suất trong hạn 11,5%/năm, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn.
Bà Trần Thị O phải tiếp tục trả tiền lãi phát sinh đối với hợp đồng tín dụng số 7802-LAV-202000344 ngày 08/6/2020 từ ngày 28/11/2025 cho đến khi trả toàn bộ khoản nợ vay theo lãi suất đã thỏa thuận.
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu phản tố của bị đơn bà Trần Thị O, tuyên bố hợp đồng thế chấp bất động sản số 7802-LCL-202000117 ngày 01/6/2020 vô hiệu toàn bộ. Về việc giải quyết hậu quả của hợp đồng thế chấp vô hiệu, đề nghị buộc Ngân hàng A1 chi nhánh P1 trả lại cho bị đơn bà Trần Thị O 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành CL 113627, số vào sổ CH02506 do Ủy ban nhân dân huyện P cấp ngày 09/4/2018 tại thửa đất số 38, tờ bản đồ số 69, địa chỉ thửa đất tại thôn T, xã P, tỉnh Lai Châu, diện tích là 536,2m², chủ sở hữu là bà Trần Thị O và ông Vũ Đình T.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra trực tiếp tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Lai Châu phát biểu quan điểm giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:
- [1] Về tố tụng: Căn cứ đơn khởi kiện của Ngân hàng A1 Chi nhánh P1 yêu cầu bị đơn là bà Trần Thị O trả nợ số tiền nợ gốc và nợ lãi, bị đơn bà Trần Thị O có yêu cầu phản tố đề nghị Tòa án tuyên bố hợp đồng thế chấp bất động sản số 7802-LCL-202000117 ngày 01/6/2020 là vô hiệu và giải quyết hậu quả của hợp đồng thế chấp bất động sản vô hiệu do vậy xác định quan hệ tranh chấp giữa các bên là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng, tuyên bố hợp đồng thế chấp bất động sản vô hiệu và giải quyết hậu quả của hợp đồng thế chấp bất động sản vô hiệu”. Bị đơn là bà Trần Thị O có nơi cư trú tại thôn T, xã P, tỉnh Lai Châu, căn cứ Điều 26, Điều 35 và Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 tranh chấp này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng không thành nên đưa vụ án ra xét xử là đúng quy định.
- Về sự vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa, những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là anh Vũ Ngọc A và chị Vũ Thị M vắng mặt lần thứ 2. Tại phiên tòa mở ngày 04/11/2015 mặc dù đã được triệu tập hợp pháp nhưng anh A và chị M đã vắng mặt lần thứ nhất nên tại phiên tòa ngày hôm nay Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án vắng mặt những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Vũ Ngọc A và chị Vũ Thị M là đúng quy định tại Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về việc ủy quyền giải quyết vụ án: Trong quá trình giải quyết vụ án bà Vũ Thị L là người đại diện theo ủy quyền của người đại diện theo pháp luật của Ngân hàng N, tại phiên tòa người nhận ủy quyền lại của bà Vũ Thị L là ông Đỗ Tuần P – Chức vụ Phó giám đốc chi nhánh. Căn cứ văn bản ủy quyền số 2665/QĐ-NHNo-PC ngày 01/12/2022 của Ngân hàng N, người đại diện theo pháp luật của Ngân hàng đã ủy quyền lại cho giám đốc chi nhánh và đồng ý ủy quyền lại cho Phó giám đốc là đúng quy định.
- [2] Về nội dung:
- 2.1 Về nội dung khởi kiện của nguyên đơn:
Theo lời khai của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng A1 chi nhánh P1, lời khai của bà O và nội dung hợp đồng tín dụng số 7802-LAV-202000334 ngày 08/6/2020 giữa Ngân hàng A1 chi nhánh P1 và bà Trần Thị O thể hiện bà O đã vay vốn Ngân hàng A1 chi nhánh P1 tổng số tiền là 1.500.000.000 đồng, thời hạn vay là 36 tháng, kể từ ngày 08/6/2020, lãi suất vay là 11,5%/năm, phương thức áp dụng lãi suất là lãi suất có điều chỉnh; Mục đích vay là làm nhà ở và mua sắm nội thất tại thôn T, xã M, huyện P, tỉnh Lai Châu, thực hiện hợp đồng, ngày 08/6/2020 Ngân hàng A1 chi nhánh P1 đã giải ngân số tiền 1.000.000.000 đồng, ngày 22/6/2020 giải ngân số tiền 500.000.000 đồng. Tuy nhiên đến hạn trả nợ, bà O chưa trả cho Ngân hàng A1 chi nhánh P1 số tiền nợ gốc và tiền nợ lãi nên số tiền gốc còn nợ đã bị chuyển nợ quá hạn với lãi suất quá hạn với lãi suất quá hạn theo đúng thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng số 7802-LAV-202000334 ngày 08/6/2020 giữa Ngân hàng A1 chi nhánh P1 và bà Trần Thị O.
Quá trình thực hiện hợp đồng tính đến ngày 09/4/2025 bà Trần Thị O đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền là 626.684.924 đồng (Nợ gốc 38.000.000 đồng; Nợ lãi đối với khoản giải ngân 7802-LDS-202000404 với số tiền 500.000.000 đồng là 199.273.971 đồng, nợ lãi đối với khoản giải ngân 7802-LDS-202000359 với số tiền 1.000.000.000 đồng là 389.410.953 đồng).
Tại giấy đề nghị kiêm phương án cơ cấu lại thời hạn trả nợ ngày 21/11/2023 và thông báo về việc chấp thuận cơ cấu thời hạn trả nợ ngày 13/12/2023 của Ngân hàng A1 chi nhánh P1, ngân hàng đã chấp thuận cơ cấu lại khoản nợ của bà Trần Thị O đối với hợp đồng tín dụng số 78/02-LAV-202000334 ngày 08/6/2020. Sau khi đã cơ cấu lại khoản nợ, đến ngày 07/01/2024 khoản vay đến hạn phân kỳ gốc là 400.000.000 đồng bà O không trả nên chuyển thành nợ quá hạn, tính lãi quá hạn và đang xếp loại nợ nhóm 05, là nợ xấu. Đến ngày 27/11/2025 bà Trần Thị O còn nợ Ngân hàng tổng số tiền là 1.923.169.943 đồng, bao gồm nợ gốc là 1.442.780.000 đồng nợ lãi trong hạn là 335.648.165 đồng và lãi quá hạn là 144.741.778 đồng. Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng A1 chi nhánh P1 là có căn cứ nên cần buộc bà Trần Thị O phải trả lại Ngân hàng A1 chi nhánh P1 số tiền trên và tiếp tục chịu tiền lãi theo hợp đồng tín dụng đã ký kết là đúng quy định của pháp luật tại Điều 463, 466, khoản 2 Điều 470 Bộ luật Dân sự, Điều 91, 95, 98 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao.
Như vậy lãi suất sẽ được tiếp tục tính từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi bà O thanh toán xong số nợ theo mức lãi suất quy định tại hợp đồng tín dụng số 7802-LAV-202000334 ngày 08/6/2020.
- 2.2 Về yêu cầu phản tố của bị đơn:
Căn cứ hợp đồng thế chấp bất động sản số 7802-LCL-202000117 ngày 01/6/2020 giữa Ngân hàng A1 chi nhánh P1 và bà Trần Thị O được giao kết. Hội đồng xét xử xét thấy tài sản thế chấp là giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành CL 113627, số vào sổ CH02506 do Ủy ban nhân dân huyện P cấp ngày 09/4/2018 tại thửa đất số 38, tờ bản đồ số 69, địa chỉ thửa đất tại thôn T, xã P, tỉnh Lai Châu, diện tích là 536,2m², chủ sở hữu là bà Trần Thị O và ông Vũ Đình T. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên được Ủy ban nhân dân huyện P cấp ngày 09/4/2018 cho bà Trần Thị O và ông Vũ Đình T, căn cứ Điều 34 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 và Điều 12 Nghị định số 126/2014/NĐ-CP ngày 31/12/2014 của Chính phủ xác định về việc đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng đối với tài sản chung, trong trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng thì giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng phải ghi tên cả hai vợ chồng, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa không có tài liệu, chứng cứ nào xác định giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên là tài sản riêng của bà O, do vậy xác định đây là tài sản chung hợp nhất không thể phân chia của bà Trần Thị O và ông Vũ Đình T.
Trong nội dung của hợp đồng thế chấp bất động sản có chữ ký của bên thế chấp là bà Trần Thị O, bà O thừa nhận việc này, tại bản tự khai và biên bản lấy lời khai của ông Vũ Đình T đều trình bày quyền sử dụng đất đối với thửa đất có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành CL 113627, số vào sổ CH02506 là tài sản chung của ông và bà Trần Thị O, ông không được ký kết hợp đồng thế chấp bất động sản nêu trên, thời điểm ký kết hợp đồng thế chấp bất động sản trên ông đang đi chấp hành án phạt tù tại tỉnh Thừa Thiên Huế (Nay là Thành phố H). Tại biên bản xác minh tại Chi nhánh Văn phòng Đ xác định việc đăng ký thế chấp bất động sản đối với thửa đất có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành CL 113627, số vào sổ CH02506 là chưa đảm bảo quy định của pháp luật. Căn cứ Điều 35 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 và Điều 13 Nghị định số 126/2014/NĐ-CP ngày 31/12/2014 của Chính phủ thì trong trường hợp này Ngân hàng A1 chi nhánh P1 và bà Trần Thị O ký kết hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 7802-LCL-202000117 ngày 01/6/2020 là giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành CL 113627, số vào sổ CH02506 do Ủy ban nhân dân huyện P cấp ngày 09/4/2018 tại thửa đất số 38, tờ bản đồ số 69, địa chỉ thửa đất tại thôn T, xã P, tỉnh Lai Châu khi không có chữ ký, không có thỏa thuận với ông Vũ Đình T bằng văn bản là chưa đầy đủ, chưa đúng quy định, thiếu sót về chủ thể ký kết hợp đồng. Việc không có chữ ký hay văn bản thỏa thuận của ông Vũ Đình T khi ký kết hợp đồng thế chấp bất động sản làm ảnh hưởng đến việc định đoạt tài sản chung là bất động sản của ông T, khi ký kết hợp đồng thế chấp bất động sản Ngân hàng A1 chi nhánh P1 có thiếu sót, chưa kiểm tra, thẩm định các thủ tục pháp lý và tài sản dùng để thế chấp đảm bảo cho khoản vay. Do vậy hợp đồng thế chấp bất động sản số 7802-LCL-202000117 ngày 01/6/2020 là vô hiệu toàn bộ.
Đối với yêu cầu phản tố đề nghị giải quyết hậu quả của hợp đồng thế chấp bất động sản số 7802-LCL-202000117 ngày 01/6/2020 vô hiệu. Xét thấy hợp đồng thế chấp bất động sản nêu trên là vô hiệu toàn bộ, căn cứ các Điều 131, 407, 427 Bộ luật Dân sự để giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu cụ thể trong quá trình ký kết hợp đồng thế chấp bất động sản giữa Ngân hàng A1 chi nhánh P1 và bà Trần Thị O, bà O đã cung cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành CL 113627, số vào sổ CH02506 do Ủy ban nhân dân huyện P cấp ngày 09/4/2018 tại thửa đất số 38, tờ bản đồ số 69, địa chỉ thửa đất tại thôn T, xã P, tỉnh Lai Châu, diện tích là 536,2m², chủ sở hữu là bà Trần Thị O và ông Vũ Đình T do vậy Ngân hàng A1 chi nhánh P1 phải hoàn trả lại cho bà Trần Thị O giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên.
- 2.3 Về nội dung yêu cầu của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan – ông Vũ Đình T:
Trong quá trình chuẩn bị xét xử, ông Vũ Đình T có cung cấp cho Tòa án các đơn kiến nghị, các văn bản phản bác đề nghị tuyên bố hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp là vô hiệu, bảo vệ quyền cư trú, quyền sở hữu tài sản hợp pháp và xem xét trách nhiệm của Ngân hàng trong quy trình nghiệp vụ tín dụng. Hội đồng xét xử xét thấy đối với nội dung yêu cầu tuyên bố hợp đồng thế chấp của ông T trùng khớp với yêu cầu phản tố của bị đơn là bà Trần Thị O đã được Tòa án thụ lý theo quy định và xem xét giải quyết trong cùng vụ án, đối với các nội dung của yêu cầu phản tố của bị đơn thì ông T cũng hoàn toàn nhất trí. Việc ông đề nghị tuyên bố hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng và bà O vô hiệu là không phù hợp vì ông không phải là chủ thể tham gia hợp đồng tín dụng này, ông không có quyền và nghĩa vụ liên quan đến nội dung hợp đồng này và bà O cũng không có ý kiến gì đối với nội dung hợp đồng. Đối với các nội dung đề nghị xem xét về quy trình nghiệp vụ tín dụng của của Ngân hàng đối với khách hàng mang tính chất nội bộ của Ngân hàng, đã được Ngân hàng Agribank tỉnh A1 trả lời tại Công văn số 801/NHNo.LCh-KTGS ngày 05/8/2025, các yêu cầu tuyên bố hợp đồng tín dụng vô hiệu bảo vệ quyền cư trú, quyền sở hữu tài sản hợp pháp các yêu cầu này không liên quan đến các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và yêu cầu phản tố của bị đơn do vậy Hội đồng xét xử không xem xét.
- [3] Về chi phí tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án Ngân hàng A1 chi nhánh P1 đã nộp tạm ứng số tiền chi phí tố tụng thẩm định tại chỗ là 1.800.000 đồng. Ngân hàng A1 chi nhánh P1 tự nguyện nộp toàn bộ chi phí tố tụng xem xét thẩm định tại chỗ. Bị đơn không phải chịu tiền chi phí tố tụng.
- [4] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, yêu cầu phản tố của bị đơn được chấp nhận nên nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, các khoản 2, 5 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Q, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- [5] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271 và 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
- [6] Quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Lai Châu có căn cứ, do vậy Hội đồng xét xử cần chấp nhận. Quan điểm của người bào chữa cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có căn cứ nên hội đồng xét xử chấp nhận.
- 2.1 Về nội dung khởi kiện của nguyên đơn:
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 39; Điều 147; Điều 157, khoản 2 Điều 227, các khoản 1, 3 Điều 228, Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ các Điều 117, 122, 131, 357, 407, 427, 463, khoản 5 Điều 466, Điều 468, Điều 470 Bộ luật Dân sự;
Căn cứ các Điều 91, 95, 98 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010; Các Điều 34, 35 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014.
Căn cứ Luật số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc Hội.
Căn cứ Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao;
Căn cứ các Điều 12, 13 Nghị định số 126/2014/NĐ-CP ngày 31/12/2014 của Chính phủ.
Căn cứ các khoản 2, 5 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.
Tuyên xử:
- [1] Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
- - Buộc bị đơn là bà Trần Thị O có trách nhiệm trả cho Ngân hàng N số tiền tính đến ngày 27/11/2025 là 1.923.169.943 đồng (Một tỷ chín trăm hai mươi ba triệu một trăm sáu mươi chín nghìn chín trăm bốn mươi ba đồng) trong đó nợ gốc là 1.442.780.000 đồng (Một tỷ bốn trăm bốn mươi hai triệu bảy trăm tám mươi nghìn đồng), nợ lãi là 480.389.943 đồng (Bốn trăm tám mươi triệu ba trăm tám mươi chín nghìn chín trăm bốn mươi ba đồng) cụ thể nợ lãi trong hạn là 335.648.165 đồng (Ba trăm ba mươi lăm triệu sáu trăm bốn mươi tám nghìn một trăm sáu mươi lăm đồng) và nợ lãi quá hạn là 144.741.778 đồng (Một trăm bốn mươi bốn triệu bảy trăm bốn mươi mốt nghìn bảy trăm bảy mươi tám đồng).
- Tiền lãi sẽ được tính từ ngày tiếp theo của ngày Tòa án tuyên án sơ thẩm, trên số tiền nợ còn lại cho đến khi bà O trả xong khoản nợ theo mức lãi suất các bên đã thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng số 7802-LAV-202300201 ngày 07/4/2023 giữa Ngân hàng A1 chi nhánh P1 và bà Trần Thị O.
- [2] Chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn:
- Tuyên bố hợp đồng thế chấp bất động sản số 7802-LCL-202000117 ngày 01/6/2020 giữa Ngân hàng A1 chi nhánh P1 và bà Trần Thị O là vô hiệu toàn bộ.
- Về việc giải quyết hậu quả của hợp đồng thế chấp bất động sản số 7802-LCL-202000117 ngày 01/6/2020 giữa Ngân hàng A1 chi nhánh P1 và bà Trần Thị O là vô hiệu: Buộc Ngân hàng A1 chi nhánh P1 trả lại cho bị đơn bà Trần Thị O 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành CL 113627, số vào sổ CH02506 do Ủy ban nhân dân huyện P cấp ngày 09/4/2018 tại thửa đất số 38, tờ bản đồ số 69, địa chỉ thửa đất tại thôn T, xã P, tỉnh Lai Châu, diện tích là 536,2m², chủ sở hữu là bà Trần Thị O và ông Vũ Đình T.
- Trường hợp bản án được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- [3] Về án phí: Bà Trần Thị O phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 69.695.098 đồng (làm tròn 69.695.000 đồng). Ngân hàng A1 chi nhánh P1 phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Ngân hàng A1 chi nhánh P1 đã nộp số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm là 63.031.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000055 ngày 12/5/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu (Nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 3 – Lai Châu), đối trừ khoản tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm mà Ngân hàng A1 chi nhánh P1 phải chịu, hoàn trả lại cho Ngân hàng A1 chi nhánh P1 số tiền tạm ứng án phí là 62.731.000 đồng (Sáu mươi hai triệu bảy trăm ba mươi mốt nghìn đồng).
Bà Trần Thị O đã nộp số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí dân sự số 0000019 ngày 01/8/2025 tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 3 – Lai Châu, đối trừ khoản tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm mà bà phải chịu, buộc bà Trần Thị O phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là 69.395.000 đồng (Sáu mươi chín triệu ba trăm chín mươi lăm nghìn đồng).
- [4] Về chi phí tố tụng: Ngân hàng A1 chi nhánh P1 tự nguyện chịu toàn bộ số tiền chi phí tố tụng, xác nhận Ngân hàng A1 chi nhánh P1 đã nộp đủ.
- [5] Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm lên Tòa án cấp trên. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo đối với phần quyền và nghĩa vụ liên quan lên Tòa án cấp trên trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo đối với phần quyền và nghĩa vụ liên quan trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết lên Tòa án cấp trên.
- [6] Kiến nghị Cơ quan cảnh sát điều tra, Công an tỉnh L xem xét, giải quyết các nội dung đơn yêu cầu của ông Vũ Đình T theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lương Văn Đoàn |
Bản án số 02/2025/DS-ST ngày 27/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - LAI CHÂU về tranh chấp hợp đồng tín dụng, tuyên bố hợp đồng thế chấp vô hiệu và giải quyết hậu quả của hợp đồng thế chấp vô hiệu
- Số bản án: 02/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng, tuyên bố hợp đồng thế chấp vô hiệu và giải quyết hậu quả của hợp đồng thế chấp vô hiệu
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/11/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - LAI CHÂU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng N - Trần Thị O
