Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN KIẾN AN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Bản án số: 02/2025/DS-ST

Ngày 24/03/2025

V/v tranh chấp thừa kế tài sản

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN KIẾN AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Ngọc Ngà
  • - Các Hội Thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thị Chính
    Bà Trần Thị Trúc Hoa
  • - Thư ký phiên tòa: Bà Mai Thị Thanh Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng
  • - Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Dương Thu Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 03 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 61/2023/TLST-DS ngày 21 tháng 11 năm 2023 về việc tranh chấp thừa kế tài sản theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2025/QĐXXST-DS ngày 24 tháng 01 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 02/2025/QĐST-DS ngày 24 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Phạm Thị M, sinh năm 1949; nơi cư trú: Số C phố P, tổ V, phường T (nay là phường B), quận K, thành phố Hải Phòng, có mặt.

Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn: Ông Đào Văn B, sinh năm 1975; Luật sư thuộc Công ty L; nơi cư trú: Số H đường T, phường A, quận L, thành phố Hải Phòng (theo văn bản uỷ quyền ngày 24/11/2023), có mặt.

Bị đơn: Ông Phạm Đình T (tên gọi khác là Phạm Đình Q), sinh năm 1957; nơi cư trú: Số A đường T, tổ V, phường T (nay là phường B), quận K, thành phố Hải Phòng, vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Phạm Đình Q1, chị Vũ Thị H, chị Bùi Thị S, bà Phạm Thị N, anh Phạm Tiến Q2, chị Đồng Thị Y, anh Phạm Đình S1; cùng nơi cư trú: Số A đường T, tổ V, phường T (nay là phường B), quận K, thành phố Hải Phòng, đều vắng mặt.
  2. Ủy ban nhân dân phường B, quận K, thành phố Hải Phòng; địa chỉ trụ sở: Số A đường Q, phường B, quận K, thành phố Hải Phòng.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Vũ Khắc H1 - Chủ tịch, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản lấy lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà nguyên đơn là bà Phạm Thị M và người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn đều thống nhất trình bày:

Vợ chồng cụ Phạm Đình H2, sinh năm 1923 mất năm 1963 và cụ Phạm Thị N1, sinh năm 1928, mất năm 2005. Các cụ có chung với nhau 02 người con gồm: Bà Phạm Thị M, sinh năm 1949 và ông Phạm Đình T (còn có tên gọi khác là Phạm Đình Q), sinh năm 1957. Ngoài ra, cụ H2 cụ N1 không có con riêng, con nuôi nào khác. Bố mẹ của hai cụ Phạm Đình H2 và cụ Phạm Thị N1 đã chết trước hai cụ.

Khi còn sống, cụ H2 cụ N1 tạo lập được khối tài sản chung là diện tích đất 537m² thuộc thửa đất số 432, tờ bản đồ số 15, số hiệu mảnh bản đồ gốc 300588-3-b tại số A đường T, thuộc tổ dân phố V, phường T (nay là phường B), quận K, thành phố Hải Phòng, trên đất có 01 nhà 03 gian mái ngói do cụ H2 cụ N1 xây, đến nay vẫn còn do ông T bà N đang quản lý, sử dụng. Khi còn sống, cụ H2 cụ N1 chưa chia tài sản cho ai, không chuyển nhượng nhà đất cho ai, không tặng cho ai, khi chết cũng không để lại di chúc, khi còn sống các cụ cũng không chỉ định ai quản lý tài sản và không cho tặng hay thực hiện bất kỳ nghĩa vụ tài sản gì liên quan đến quyền sử dụng đất nêu trên. Các anh chị em cũng chưa bao giờ họp bàn để phân chia di sản thừa kế. Cụ H2 cụ N1 ở trên đất từ bé, là người bản địa nên cũng không làm thủ tục đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và sau khi chết không để lại giấy tờ gì liên quan đến thửa đất. Nhưng việc các cụ sinh sống, sử dụng, quản lý thửa đất thì chính quyền địa phương, họ hàng, người dân hàng xóm xung quanh đều biết. Quá trình các cụ sinh sống, quản lý thửa đất trên cũng không tranh chấp với các hộ giáp ranh, hay với ai khác. Hai chị em bà M và ông T sinh ra và lớn lên trên thửa đất này. Bà M ở trên thửa đất này đến khi lấy chồng sinh con và đến năm 1972 bà mới chuyển về sống ở nhà chồng. Còn ông T ở trên thửa đất với bố mẹ từ nhỏ, đến khi lấy vợ, sinh con thì vẫn ở trên đất. Năm 1963 cụ H2 mất thì ông T, bà M vẫn tiếp tục ở trên đất cùng với cụ N1.

Năm 1998-2000 khi Nhà nước tiến hành đo đạc, lập hồ sơ kỹ thuật thửa đất, yêu cầu người dân kê khai thông tin thửa đất thì cụ N1 còn sống và vẫn ở trên đất cùng với ông T nhưng do lúc đó cụ N1 thường xuyên đi chợ buôn bán, ít ở nhà không nắm được chủ trương kê khai đất đai nên đã không đi kê khai. Còn ông T đi kê khai là chủ sử dụng đất và không thông báo gì với cụ N1 biết. Sau này khi tranh chấp bà M mới biết theo sổ sách địa phương quản lý thửa đất này đứng tên ông Phạm Đình Q (tức ông Phạm Đình T). Ông Phạm Đình T còn có tên gọi là Phạm Đình Q, người dân, hàng xóm hay gọi là Q.

Tại thửa đất 537m² thuộc thửa đất số 432, tờ bản đồ số 15, số hiệu mảnh bản đồ gốc 300588-3-b tại số A đường T, thuộc tổ dân phố V, phường T (nay là phường B), quận K, thành phố Hải Phòng hiện có vợ chồng ông T và vợ là bà Phạm Thị N, con trai ông T là Phạm Tiến Q2, vợ anh Q1 là chị Vũ Thị H cùng các con chị H đang quản lý, sử dụng. Đối với anh Phạm Đình Q1 là chồng chị Vũ Thị H hiện đã ly hôn với chị H, và chuyển đi nơi khác sinh sống từ lâu, hiện bà M không biết địa chỉ. Chị Bùi Thị S là vợ anh Tuấn A, khi anh Tuấn A chết thì chị S và con cũng chuyển đi nơi khác sinh sống từ lâu, không rõ địa chỉ cụ thể. Chị Y vợ anh Q2 cũng chuyển đi nơi khác từ lâu, không rõ địa chỉ cụ thể.

Hiện tài sản trên đất gồm có: 01 căn nhà do chị H và anh Q1 xây dựng, khi vợ chồng chị H, anh Q1 ly hôn thì anh Q1 đã chuyển đi ở nơi khác sinh sống từ lâu (không rõ địa chỉ), hiện chị H đang sử dụng, quản lý căn nhà cùng với 02 con trai; 01 căn nhà bên cạnh nhà chị H đang ở trước đây anh Tuấn A sử dụng, khi anh Tuấn A chết thì ông T, bà N quản lý, sử dụng, còn ai là người xây dựng căn nhà thì bà M không biết, bên cạnh là căn nhà của cụ H2, cụ N1 xây dựng từ lâu, hiện do ông T, bà N quản lý, sử dụng; và 01 căn nhà trước đây do anh Q2 và vợ là chị Đồng Thị Y sử dụng, nhưng chị Y hiện đã bỏ đi từ lâu, không rõ đi đâu, căn nhà do anh Q2 xây dựng lên.

Bà M đã làm đơn đề nghị hoà giải tại phường về việc chia thừa kế phần diện tích đất của cụ H2 cụ N1 để lại và được U nhưng không có kết quả.

Do vậy, bà M làm đơn khởi kiện với nội dung: Yêu cầu chia di sản thừa kế là diện tích đất 537m² tại thửa 432 tờ bản đồ số 15 tại địa chỉ số A đường T, thuộc tổ dân phố V, phường T (nay là phường B), quận K, thành phố Hải Phòng là di sản của cụ Phạm Đình H2 và cụ Phạm Thị N1 để lại theo quy định pháp luật.

Để đảm bảo cho việc sinh hoạt ổn định của gia đình ông T và đảm bảo vật kiến trúc trên đất, bà M đề nghị được chia cho bà phần diện tích đất có một phần đất trống, giáp với hộ hàng xóm lân cận, nếu phần diện tích bà được Toà án chia ít hơn phần diện tích bà được hưởng theo quy định của pháp luật thì bà M cũng không yêu cầu ông T phải trả lại cho bà giá trị đất chênh lệch, đối với các công trình trên phần đất bà được chia bà đồng ý trả lại giá trị cho ông T hoặc những người liên quan. Còn đối với công trình trên đất là 01 căn nhà ba gian của các cụ để lại hiện ông T, bà N đang sử dụng thì bà M không yêu cầu chia.

Ngoài ra, bà M không yêu cầu xem xét, giải quyết các vấn đề về nghĩa vụ tài sản, các khoản chi phí liên quan đến thừa kế như mai táng phí, cấp dưỡng...

Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là ông Phạm Đình T và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Phạm Thị N không hợp tác, không cung cấp lời khai, ý kiến cho Toà án mặc dù đã triệu tập hợp lệ và ra thông báo cung cấp lời khai nhiều lần, từ chối nhận các văn bản, giấy tờ của toà án. Tại Biên bản làm việc ngày 05/12/2024, ông T bà N có trình bày nguồn gốc thửa đất ông bà đang ở là của các cụ để lại cho ông bà thờ cúng tổ tiên, nên bà M không có quyền khởi kiện. Ngoài ra, ông T bà N không cung cấp thêm bất kỳ thông tin nào khác.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là anh Phạm Đình Q1, chị Bùi Thị S, anh Phạm Tiến Q2 và chị Đồng Thị Y mặc dù toà án đã triệu tập hợp lệ và ra thông báo cung cấp lời khai nhiều lần nhưng không cung cấp lời khai, ý kiến cho Toà án. Toà án cũng đã nhiều lần đến nơi cư trú để lấy lời khai nhưng những người tham gia tố tụng trên đều không có mặt ở nơi cư trú.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Vũ Thị H trình bày: Chị Vũ Thị H là vợ của anh Phạm Đình Q1, anh Q1 là con trai thứ hai của ông Phạm Đình T. Chị H và anh Q1 kết hôn từ năm 2004 nhưng đã ly hôn năm 2023. Sau khi ly hôn, chị H vẫn sinh sống tại địa chỉ số A T, phường T, quận K, còn anh Q1 đi nơi khác sinh sống từ lâu, cụ thể sinh sống ở đâu thì chị H không biết. Khi chị H về làm dâu nhà ông T thì anh Q1 chồng chị có nói với chị là thửa đất số 432 đang tranh chấp có nguồn gốc là của ông bà nội anh Q1 tức cụ Phạm Thị N1 và cụ Phạm Đình H2. Khi chị H lấy anh Q1 thì cụ H2 đã chết từ lâu, còn cụ N1 cũng ở cùng trên đất, 02 tháng sau mới chết. Ông T còn có tên gọi khác là Phạm Đình Q.

Hiện trên đất tranh chấp có các công trình xây dựng là:

  • 01 nhà mái ngói ba gian 01 tầng: do cụ H2 và cụ N1 để lại hiện do vợ chồng ông T, bà N và anh Q2 đang quản lý, sử dụng.
  • 01 nhà 02 tầng bê tông cốt thép mái bằng giáp ngõ 141 Trần Văn C (nhà treo biển số 141) là của anh Q1 chị H xây dựng, hiện chị H và 02 con là Phạm Đình S1, sinh năm 2005 và Phạm Tiến Đ, sinh ngày 20/11/2007 (hiện còn nhỏ) đang quản lý, sử dụng.
  • 01 căn nhà 01 tầng mái bằng giáp nhà 141 Trần Văn C là nhà của vợ chồng ông T xây cho con trai là Phạm Tuấn A để ở nhưng anh Tuấn A đã chết năm 2014. Anh Phạm Tuấn A có vợ là Bùi Thị S và 01 con trai là Phạm Gia B1, sinh năm 2014. Sau khi anh Tuấn A chết thì chị S và cháu Gia B1 cũng đi nơi khác sinh sống, hiện không rõ địa chỉ. Hiện căn nhà do ông T bà N quản lý, sử dụng.
  • 01 căn nhà cấp bốn 01 tầng mái tôn proximang giáp nhà số A T trước do vợ chồng anh Phạm Tiến Q2 và chị Đồng Thị Y sử dụng, còn căn nhà do ai xây thì chị H không biết. Nhưng cách đây khoảng hơn chục năm vợ chồng anh Q2 ly hôn, thì vợ anh Q2 và con trai chuyển đi nơi khác sinh sống không rõ hiện ở đâu, căn nhà hiện nay bỏ trống, không có người sử dụng.

Thửa đất 432 vẫn giữ nguyên hiện trạng, không mua thêm hay tặng cho ai. Hiện trên đất chỉ có ông T, bà N, anh Phạm Tiến Q2, chị H và 02 con còn nhỏ ở trên đất.

Quan điểm của chị H đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là: Đề nghị Toà án phân chia di sản của cụ H2 và cụ N1 để lại theo quy định pháp luật. Đối với diện tích đất thì chị không đóng góp công sức gì, cây cối trên đất là do ông T trồng, chị không liên quan, đề nghị không xem xét công sức tôn tạo, trông nom đất đối với chị. Còn đối với phần công trình 01 căn nhà 02 tầng trên đất hiện do chị H và 02 con đang ở thì chị không có yêu cầu độc lập, nhưng nhà đất là do anh Q1 và chị xây dựng nên chị H đề nghị nếu Toà án chia cho ai phần đất có nhà của chị ở trên đất thì người đó phải có nghĩa vụ trả lại cho chị H anh Q1 trị giá nhà đất, lán tôn. Đề nghị trả lại giá trị căn nhà chung cho cả chị H và anh Q1, không yêu cầu phân chia cụ thể phần của từng người.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Phạm Đình S1 trình bày: Anh S1 không có đóng góp công sức gì đối với diện tích đất tranh chấp nên đề nghị không xem xét đến công sức tôn tạo, quản lý đất của anh. Anh S1 không có đề nghị, yêu cầu gì trong vụ án này, và đề nghị Toà án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là UBND phường B, quận K, thành phố Hải Phòng cung cấp ý kiến: Tuyến đường T, phường B, quận K, thành phố Hải Phòng thuộc địa bàn quản lý của UBND phường B, quận K. Theo sơ đồ đo vẽ hiện trạng ngày 26/01/2024, thể hiện: Trên phần diện tích đất tranh chấp hiện có 01 phần tường bao, cổng xây lấn vào hành lang giao thông đường Trần Văn C nên UBND phường có ý kiến như sau: Yêu cầu ông T là người xây dựng và đang trực tiếp quản lý diện tích đất trên phá dỡ, trả lại khoảng không mặt bằng hàng lang giao thông đã lấn chiếm, và đề nghị Toà án khi chia thừa kế thì không chia vào phần đất hành lang giao thông.

Các tài liệu, chứng cứ do Toà án thu thập:

  • - Tại Biên bản xác minh ngày 07/11/2024, 27/12/2024 tại UBND phường T thể hiện: Về nguồn gốc thửa đất: Theo sổ mục kê năm 1998-2000 là sổ mục kê lâu đời nhất còn lưu giữ tại phường, hồ sơ kỹ thuật thửa đất lập năm 1998 thể hiện chủ sử dụng thửa đất số 432 tờ bản đồ số 15 số hiệu mảnh bản đồ gốc số 300588-3-b là Phạm Đình Q được quyền sử dụng 537m², mục đích sử dụng là đất ở tại cụm F phường T, quận K, thành phố Hải Phòng (nay là số A T, phường T, quận K, thành phố Hải Phòng). Nguồn gốc chủ sử dụng trước năm 1998 tại địa phương không còn sổ sách lưu giữ. Thửa đất hiện không có thông tin về tách thửa, không có thông tin về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Thửa đất hiện do vợ chồng ông Phạm Đình T xây nhà, quản lý, sử dụng. Thửa đất có hiện trạng tổng diện tích là 541,7m², trong đó: có 535,2m² đất ở giảm đi so với hồ sơ kỹ thuật thửa đất 1,8m² là do sai số đo đạc, còn phần diện tích còn lại là 6,5m² là đất thuộc hành lang giao thông. Thửa đất 432 hiện không tranh chấp hộ giáp ranh, không thuộc quy hoạch hay dự án phải thu hồi. Đối với cán bộ địa chính thời kỳ năm 1998 là ông Phạm Quang T1 hiện đã chết. Bà Nguyễn Thị T2 làm địa chính từ năm 2001-2006. Đối với diện tích đất tranh chấp trên, hiện nay nếu ông T làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 432 thì UBND phường vẫn phải xác minh lại nguồn gốc đất, kết quả xác minh nếu là đất của bố mẹ ông T để lại thì vẫn phải hỏi ý kiến của các hàng thừa kế.
  • - Tại công văn số 234/UBND ngày 27/12/2024 của Ủy ban nhân dân phường T (nay là phường B) thể hiện: Thửa đất số 432, tờ bản đồ số 15, diện tích 537m² tại địa chỉ tổ dân phố V, phường T ghi tên chủ sử dụng đất là Phạm Đình T, mục đích sử dụng là đất ở. Do sơ suất trong quá trình cung cấp thông tin của chủ sử dụng đất đoàn đo đạc đã ghi tên thành Phạm Đình Q. Đồng thời UBND phường đã tổ chức cuộc họp cụm dân cư thể hiện: Nguồn gốc thửa đất 432 nêu trên có nguồn gốc của cụ Phạm Đình H2 và cụ Phạm Thị N1 để lại. Cụ H2, cụ N1 ở trên đất từ bé cho đến lúc chết, ông T ở cùng bố mẹ từ nhỏ cho đến khi lấy vợ là bà N, hiện vợ chồng ông T và các con đang ở trên đất. Cụ H2 và cụ N1 có 02 người con là Phạm Đình T và Phạm Thị M. Thửa đất 432 vẫn giữ nguyên hiện trạng, trong quá trình sử dụng sau khi ông H2 mất thì ông T có lấp ao, tôn tạo đất để có mặt bằng như hiện nay. Hiện tại thửa đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
  • - Xác minh tại cụm dân cư, tổ trưởng tổ dân phố qua nhiều thời kỳ, người dân sống lâu năm tại địa phương, hàng xóm giáp ranh thửa đất tranh chấp thể hiện: Thửa đất số 432 đang tranh chấp có nguồn gốc là của cụ Phạm Đình H2, cụ Phạm Thị N1 để lại, các cụ sống trên thửa đất cho đến lúc chết. Thửa đất vẫn giữ nguyên hiện trạng, không có tranh chấp, cũng như không nhận chuyển nhượng thêm hay tặng cho ai. Hiện trên đất có vợ chồng ông T bà N và các con là anh Phạm Tiến Q2 (con trai ông T), và con dâu là Vũ Thị H (vợ anh Phạm Đình Q1) đang quản lý, sử dụng. Ông Phạm Đình T còn có tên gọi khác là Phạm Đình Q.
  • - Tại Biên bản xác minh ngày 07/11/2024 tại Văn phòng Đ1 Chi nhánh quận K thể hiện: Thửa đất 432 đang tranh chấp chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Còn đối với nguồn gốc, biến động, hiện trạng sử dụng đất đề nghị xác minh tại địa phương và cụm dân cư.
  • - Tại Biên bản xác minh ngày 03/12/2024 của Phòng Tài nguyên môi trường quận K thể hiện: Hiện tại, Phòng Tài nguyên môi trường quận K cũng chỉ lưu giữ sổ mục kê năm 1998-2000 là sổ lâu đời nhất thể hiện thửa đất số 432 có chủ sử dụng là Phạm Đình Q. Còn nguồn gốc, chủ sử dụng đất trước năm 1998 là ai thì Phòng Tài nguyên môi trường không nắm được do không còn sổ sách lưu giữ. Thửa đất hiện không có thông tin về việc tách thửa hay cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
  • - Tại Biên bản xác minh ngày 27/02/2025 tại Công an phường B thể hiện: Ông Phạm Đình Q, sinh năm 1957 còn có tên gọi khác là Phạm Đình T, có vợ là Phạm Thị N và có con là Phạm Tiến Q2 và các con khác nhưng không thể hiện đầy đủ trên hệ thống dữ liệu dân cư. Ông Q có bố đẻ là Phạm Đình H2 và mẹ là Phạm Thị N1 (đều đã chết). Hiện tại ông Q cùng vợ con đang sinh sống tại nhà số A T, phường B, quận K, thành phố Hải Phòng.
  • - Theo kết quả xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản ngày 26/01/2024 thể hiện: Diện tích đất tại thửa 432, tờ bản đồ số 15 tại số A T, phường T (nay là phường B), quận K, thành phố Hải Phòng có diện tích đất thực tế là 541,7m² trong đó: diện tích đất ở là 535,2m², diện tích đất thuộc hành lang giao thông là 6,5m². Về tài sản gắn liền với đất, bao gồm:
    • - Có 01 nhà 02 tầng bê tông cốt thép mái bằng do anh Phạm Đình Q1 (con trai ông T) xây dựng kèm theo công trình phụ, có sân cửa khép kín.
    • - Có 01 nhà một tầng bê tông cốt thép mái bằng kèm công trình phụ kiên cố do anh Phạm Tuấn A (con ông T đất mất năm 2014) và vợ là chị Bùi Thị S sử dụng từ năm 2006, có sân láng xi măng, lớp mái tôn kẽm mạ màu khung sắt phía trước.
    • - Có 01 nhà một tầng mái ngói 03 gian, hiên đổ mái bằng, phía trước có sân láng xi măng do ông T và bà N xây dựng trước năm 1986, năm 1986 sửa chữa tôn tạo lại, và cây cối của ông T.
    • - 01 nhà cấp bốn một tầng kèm công trình phụ do vợ chồng anh Phạm Tiến Q2, chị Đồng Thị Y xây dựng và sử dụng từ năm 2000, phía trước có lối đi láng xi măng và cổng sắt.
    • - Ngoài ra, trên đất còn có một số cây cối.
  • Theo Biên bản định giá ngày 10/10/2024 của Hội đồng định giá tài sản quận K và Bảng đính chính bảng định giá ngày 12/02/2025 thể hiện: Giá đất tranh chấp tại thửa 432 thời điểm hiện tại là 9.000.000đ/m². Giá trị tài sản trên đất là 119.194.000đ.

Tại phiên toà, nguyên đơn và người đại diện hợp pháp của nguyên đơn vẫn giữ nguyên quan điểm, ý kiến như đã trình bày.

Kiểm sát viên phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:

  • - Về việc chấp hành pháp luật: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình.
  • - Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ khoản 5 Điều 26, Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; căn cứ các Điều 609, 610, 611, 612, 613, 614, 623, 649, 650, 651, 652, 660 Bộ luật Dân sự; căn cứ Nghị quyết số 326 về án phí; đề nghị Hội đồng xét xử tuyên: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc chia di sản thừa kế đối với diện tích 535,2m² tại số A T, phường T, quận K, thành phố Hải Phòng.

Giao cho bà M phần diện tích đất tương ứng với phần di sản được hưởng thừa kế từ cụ H2 và cụ N1.

Giao cho ông T phần diện tích tương ứng với phần di sản thừa kế của cụ H2 và cụ N1 và 1 phần diện tích được hưởng do có công sức gìn giữ, tôn tạo di sản.

Giao bà N, anh Q2 phần diện tích được hưởng do có công sức gìn giữ, tôn tạo di sản.

Nếu trên đất có cây cối, tài sản của ông T, bà N, anh Q2, Chị Y, thì người được hưởng thừa kế phải trả cho ông T trị giá cây cối, tài sản trên đất theo giá trị kết luận của Hội đồng định giá tài sản. Người được hưởng thừa kế có trách nhiệm thanh toán giá trị nhà cho chị H anh Q1 xây theo giá trị ở Kết luận của Hội đồng định giá tài sản.

Để đảm bảo việc ổn định nên chia phần diện tích có nhà ở, công trình kiên cố do ông T xây dựng cho ông T quản lý, sử dụng.

Ông Phạm Đình T, bà Phạm Thị N có trách nhiệm phá dỡ phần công trình xây trên phần diện tích 6,5m² đất hành lang giao thông.

Về án phí: Đương sự là người cao tuổi có đơn xin miễn án phí nên được miễn án phí, đương sự là người cao tuổi nhưng không có đơn xin miễn án phí nên phải nộp án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

[1]. Về thẩm quyền giải quyết và quan hệ pháp luật: Đây là tranh chấp về thừa kế tài sản, bị đơn là ông Phạm Đình T có nơi cư trú tại phường T (nay là phường B), quận K, thành phố Hải Phòng, diện tích đất tranh chấp tại thửa số 432 tờ bản đồ số 15 tại địa chỉ số A đường T, phường T (nay là phường B), quận K, thành phố Hải Phòng thuộc trường hợp chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên theo quy định tại khoản 5 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng.

[2]. Về thời hiệu chia thừa kế: Theo sơ yếu lý lịch của bà Phạm Thị M và trích lục khai tử tại UBND phường T thể hiện: Bố mẹ của bà M, ông T là cụ Phạm Đình H2 chết ngày 15/10/1963, cụ Phạm Thị N1, chết ngày 03/02/2005. Theo Nghị quyết số 02/2016/NQ-HĐTP ngày 30/6/2016 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao thì từ ngày 01/01/2017, Tòa án áp dụng khoản 1 Điều 623 Bộ luật Dân sự năm 2015 về thời hiệu thừa kế. Theo đó, thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản kể từ thời điểm mở thừa kế. Cụ N1 chết ngày 03/02/2005 nên còn thời hiệu khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế. Đối với trường hợp thừa kế mở trước ngày 10/9/1990 thời hiệu khởi kiện được tính từ ngày 10/9/1990. Theo lời khai của nguyên đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là chị H và qua biên bản xác minh tại cụm dân cư thể hiện trên diện tích đất tranh chấp có 01 căn nhà của cụ H2 cụ N1 xây dựng, đến nay vẫn tồn tại do ông T bà N đang quản lý, sử dụng. Do vậy, căn cứ Nghị quyết 58/1998/NQ-UBTVQH của UBTVQH, ngày 20/8/1998 thời hiệu thừa kế được cộng thêm 02 năm 06 tháng. Thời hiệu thừa kế đối với di sản của cụ H2 được tính đến ngày 10/03/2023. Ngày 17/11/2023, nguyên đơn mới có đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng. Tuy nhiên trong vụ án này không có đương sự nào đề nghị áp dụng thời hiệu nên theo quy định tại khoản 2 Điều 184 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 không xem xét, áp dụng về thời hiệu trong vụ án. Do vậy, Hội đồng xét xử tiếp tục giải quyết.

[3]. Về việc tống đạt cho các đương sự: Trong vụ án này, bị đơn là ông T, bà N không hợp tác làm việc, từ chối nhận văn bản của Toà án, không có mặt theo giấy triệu tập, không ký biên bản làm việc. Toà án đã lập các biên bản về việc từ chối nhận văn bản, từ chối làm việc đối với ông T, bà N. Còn đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Q1, anh Q2, chị Y, chị S qua xác minh hiện vắng mặt tại nơi cư trú, nên các văn bản của Toà án được niêm yết hợp lệ tại nơi cư trú và tại trụ sở Toà án cho các đương sự theo đúng quy định pháp luật. Do vậy, việc tống đạt cho các đương sự là hợp pháp.

[4]. Về việc xét xử vắng mặt một số đương sự: Tại phiên tòa, bị đơn, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do (ông T đã được tống đạt Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2025/QĐXXST-DS ngày 24/01/2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 02/2025/QĐST-DS ngày 24/02/2025 nhưng từ chối nhận, còn những người liên quan còn lại vắng mặt tại thời điểm tống đạt nên Toà án đã niêm yết theo đúng quy định pháp luật), UBND phường B có đề nghị vắng mặt. Xét đây là phiên toà lần thứ hai, do vậy Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

- Về nội dung:

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn yêu cầu chia di sản thừa kế là diện tích đất 537m² tại thửa 432 tờ bản đồ số 15 tại địa chỉ số A đường T, thuộc tổ dân phố V, phường T (nay là phường B), quận K, thành phố Hải Phòng là di sản của cụ Phạm Đình H2 và cụ Phạm Thị N1 để lại, Hội đồng xét xử đánh giá như sau:

[5]. Xác định nguồn gốc đất tranh chấp và xác định di sản thừa kế:

[5.1]. Theo Biên bản xác minh ngày 07/11/2024, 27/12/2024 tại UBND phường T (nay là phường B), sổ mục kê năm 1998-2000 (là sổ mục kê lâu đời nhất còn lưu giữ tại phường), hồ sơ kỹ thuật thửa đất lập năm 1998 thể hiện chủ sử dụng thửa đất số 432 tờ bản đồ số 15 số hiệu mảnh bản đồ gốc số 300588-3-b là Phạm Đình Q được quyền sử dụng 537m², mục đích sử dụng là đất ở tại cụm F phường T, quận K, thành phố Hải Phòng (nay là số A T, phường T (nay là phường B), quận K, thành phố Hải Phòng). Nguồn gốc chủ sử dụng trước năm 1998 địa phương không còn sổ sách lưu giữ. Xác minh tại Văn phòng đăng ký đất đai quận Đ1 và Phòng Tài nguyên môi trường quận K cũng thể hiện không còn lưu giữ hồ sơ sổ sách trước năm 1998.

[5.2]. Theo công văn số 234/UBND ngày 27/12/2024 của UBND phường T có nội dung: Chủ sử dụng diện tích đất tại thửa đất số 432 tờ bản đồ số 15 là ông Phạm Đình T, nhưng do sơ suất nên đã đánh nhầm thành Phạm Đình Q. Mặt khác tại các biên bản xác minh cụm dân cư và xác minh tại công an phường B đều phù hợp và thống nhất với lời khai của nguyên đơn, người có quyền lợi liên quan là chị Vũ Thị H đều thể hiện ông Phạm Đình T còn có tên gọi khác ở địa phương là Phạm Đình Q. Như vậy đủ cơ sở khẳng định người đứng tên Phạm Đình Q tại sổ mục kê, hồ sơ kỹ thuật thửa đất năm 1998 chính là ông Phạm Đình T, ông Phạm Đình Q và Phạm Đình T là 1 người.

[5.3]. Đối với việc xác định nguồn gốc diện tích đất trước năm 1998: Căn cứ biên bản xác minh tại cụm dân cư (hàng xóm giáp ranh, những người dân cao tuổi sống tại địa phương, tổ trưởng tổ dân phố qua các thời kỳ, chủ tịch Uỷ ban nhân dân phường qua các thời kỳ) đều thể hiện: Nguồn gốc diện tích đất tại thửa đất số 432 tờ bản đồ số 15 số hiệu mảnh bản đồ gốc số 300588-3-b đang tranh chấp có nguồn gốc là của cụ Phạm Đình H2, cụ Phạm Thị N1, các cụ ăn ở, sinh sống, sinh con và cho đến lúc chết cũng ở trên thửa đất. Ông T, bà M sinh ra và lớn lên trên thửa đất, sau đó bà M đi lấy chồng, còn ông T tiếp tục ở trên đất cùng cụ N1, ông T lấy vợ và sinh con và hiện đang sinh sống trên thửa đất tranh chấp.

Tại biên bản làm việc ngày 05/12/2024 với ông T, bà N cũng trình bày nguồn gốc diện tích đất ông T đang quản lý, sử dụng là của các cụ để lại cho ông T thờ cúng tổ tiên (biên bản này ông T, bà N từ chối ký).

Theo biên bản làm việc ngày 04/12/2024 với tổ trưởng tổ dân phố thể hiện: Tòa án có chuyển các văn bản tố tụng của Tòa án cho tổ trưởng tổ dân phố V, phường T, quận K để giao lại cho ông T, bà N và các con ông T. Tuy nhiên, khi đến giao giấy tờ thì các đương sự từ chối nhận văn bản vì cho rằng thửa đất số 432 là của bố mẹ ông T để lại cho ông T và các con quản lý, sử dụng làm nơi thờ cúng. Ông T đã đóng thuế từ những năm 1990, sử dụng ổn định và không tranh chấp với ai. Lời trình bày trên của tổ trưởng tổ dân phố phù hợp với lời trình bày của ông T, bà N tại Biên bản làm việc ngày 05/12/2024.

Theo công văn số 234/UBND ngày 27/12/2024 của UBND phường T thể hiện: Ngày 15/11/2024 UBND phường đã tổ chức họp cụm dân cư và ý kiến của những người tham gia cuộc họp đều khẳng định diện tích đất tại thửa 432 có nguồn gốc là của cụ H2, cụ N1 để lại. Cũng tại biên bản xác minh tại U1, trường hợp ông T làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng diện tích đất tại thửa 432 thì địa phương sẽ phải xác minh lại nguồn gốc đất, nếu kết quả xác minh nguồn gốc đất là của bố mẹ để lại thì vẫn phải lấy ý kiến của các hàng thừa kế.

Lời khai của nguyên chủ tịch phường T thời kỳ năm 1999-2004, và lời khai của nguyên chủ tịch phường T thời kỳ năm 1994-1998 đều thống nhất với nhau và đều khẳng định: Nguồn gốc diện tích đất tại thửa 432 là của cụ H2, cụ N1 để lại, các cụ ăn ở, sinh sống trên thửa đất cho đến lúc chết do các ông bà đều là người địa phương, ở gần với diện tích đất tranh chấp nên biết. Thời điểm năm 1998 vì sao hồ sơ kỹ thuật thửa đất lại đứng tên ông Phạm Đình Q thì các ông bà không biết. Tuy nhiên, thời kỳ năm 1998 do quy định chưa chặt chẽ nên không bắt buộc chủ sử dụng đất phải lên phường làm thủ tục ký xác nhận, mà có thể là các thành viên khác của gia đình. Thời điểm lập lại bản đồ địa chính năm 1998 cụ N1 thường xuyên đi chợ vắng nhà, bà M đi lấy chồng ở chỗ khác, chỉ còn ông T và vợ con sinh sống trên đất.

Lời khai của tổ trưởng tổ dân phố V, phường T thời kỳ từ năm 1994 đến năm 2004 thể hiện: Nguồn gốc diện tích đất tại thửa 432 là của cụ H2, cụ N1, các cụ ở trên đất, sinh ông T, bà M và chết tại diện tích đất này. Khoảng năm 1998-2000 khi nhà nước tiến hành kiểm kê ruộng đất, T3 tiến hành đo đạc, tổ trưởng tổ dân phố không tham gia việc dẫn đạc nhưng khi UBND phường tổ chức kêu gọi người dân đến kê khai thì tổ trưởng dân phố có đến nhà ông T để thông báo cho gia đình cụ N1 biết chủ trương của nhà nước để đi kê khai, nhưng thời điểm đó cụ N1 thường xuyên đi chợ vắng nhà nên đã báo cho người nhà lên làm thủ tục.

Lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là chị H cũng trình bày khi chị về làm dâu và ở tại diện tích đất tranh chấp thì khi đó cụ N1 cũng ở trên đất, 02 tháng sau mới chết.

Như vậy, nhận thấy lời khai của nguyên đơn, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị H, phù hợp với công văn số 234/UBND ngày 27/12/2024 của UBND phường T, phù hợp với lời khai của cụm dân cư là những người dân sống lâu năm tại địa phương cùng thời điểm hình thành nguồn gốc đất, sống gần với diện tích đất đang tranh chấp, là hàng xóm giáp ranh liền kề với thửa đất 432, là tổ trưởng tổ dân phố các thời kỳ, chủ tịch phường qua các thời kỳ, đồng thời cũng căn cứ vào biên bản lấy ý kiến của ông T, bà N đều thống nhất và phù hợp với nhau nên có cơ sở khẳng định nguồn gốc diện tích đất tại thửa 432 là của cụ N1 cụ H2 để lại.

Diện tích đất tại thửa 432, tờ bản đồ số 15 tại số A T, phường T (nay là phường B), quận K, thành phố Hải Phòng có diện tích đất thực tế là 541,7m² trong đó: diện tích đất ở là 535,2m², diện tích đất thuộc hành lang giao thông là 6,5m². Qua xác minh hàng xóm giáp ranh, các đương sự và lời khai cụm dân cư thể hiện diện tích 535,2m² vẫn giữ nguyên, không chuyển nhượng, tặng cho ai, cũng không có tranh chấp với các hộ giáp ranh, không thuộc quy hoạch hay dự án phải thu hồi. Thửa đất có hiện trạng đất ở là 535,2m² giảm đi so với hồ sơ kỹ thuật thửa đất 1,8m² là do sai số đo đạc, còn phần diện tích còn lại là 6,5m² là đất thuộc hành lang giao thông, hiện do UBND phường B đang quản lý nên xác định 6,5m² không thuộc phạm vi di sản các cụ để lại.

[6]. Tại biên bản làm việc ngày 05/12/2024 với ông T, bà N và tại biên bản làm việc với tổ trưởng tổ dân phố có nội dung ông T, bà N cho rằng diện tích đất tranh chấp là do các cụ để lại cho ông T ở để thờ cúng tổ tiên. Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án, ông T, bà N cũng như các thành viên trong gia đình ông T, nguyên đơn không ai xuất trình bản di chúc hoặc các văn bản, giấy tờ thể hiện cụ H2 cụ N1 tặng cho, chuyển nhượng lại diện tích đất trên cho ông T. Uỷ ban nhân dân phường cũng không có tài liệu lưu trữ thể hiện việc cụ H2 cụ N1 để lại diện tích đất tranh chấp cho ông T.

Do vậy, xác định cụ H2 cụ N1 khi chết không để lại di chúc, di sản thừa kế của hai cụ để lại cũng chưa được phân chia. Nên có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chia di sản của cụ H2 cụ N1 để lại là diện tích 535,2m² đất theo quy định tại Điều 612 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[6.1]. Xác định hàng thừa kế: Cụ Phạm Đình H2, cụ Phạm Thị N1 có chung với nhau 2 người con: Bà Phạm Thị M, ông Phạm Đình T (tức Phạm Đình Q). Ngoài ra không có con chung, con riêng nào khác. Nên căn cứ Điều 651 Bộ luật Dân sự năm 2015 xác định hàng thừa kế thứ nhất của cụ Phạm Đình H2, cụ Phạm Thị N1 là: Bà Phạm Thị M, ông Phạm Đình T (tức Phạm Đình Q).

[6.2]. Phương pháp chia: Diện tích đất tại thửa 432, tờ bản đồ số 15 tại số A T, phường T (nay là phường B), quận K, thành phố Hải Phòng có diện tích đất thực tế là 535,2m² là đất ở, diện tích đất thuộc hành lang giao thông là 6,5m².

Theo kết quả định giá tài sản ngày 10/10/2024 thì giá đất giao dịch trên thị trường là 9.000.000/m², thời điểm hiện tại giá đất theo giá thị trường vẫn không thay đổi theo nội dung Công văn số 01/HĐ-ĐG ngày 21/03/2025 của Hội đồng định giá quận K. Di sản của hai cụ để lại là 535,2m² x 9.000.000₫ = 4.816.800.000đ. Đối với căn nhà của cụ H2 cụ N1 xây trên đất hiện đã cũ, không còn giá trị, bà M cũng không yêu cầu chia căn nhà trên đất nên không xem xét.

[6.3]. Xác định công sức tôn tạo, giữ gìn đất: Theo kết quả xác minh, lời khai các đương sự thể hiện: Tại thời điểm hiện tại, trên đất có ông T, bà N, anh Q2 (con trai ông T bà N), chị H (vợ anh Q1), cháu S1 (con chị H anh Q1) là những người đang trực tiếp ở trên đất. Đối với những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan như chị S, chị Y, anh Q1 bỏ đi nơi khác sinh sống từ lâu, hiện không rõ địa chỉ và hiện không ở trên diện tích đất tranh chấp. Xét chị S, chị Y, anh Q1 không ăn ở ổn định, thường xuyên, liên tục tại diện tích đất của cụ H2 cụ N1 để lại, hiện tại các đương sự cũng không ở trên diện tích đất tranh chấp nên không xem xét đến công sức tôn tạo, giữ gìn đất của anh Q1, chị Y, chị S.

Đối với chị H, cháu S1 đều có ý kiến không liên quan, không đóng góp công sức tôn tạo đối với diện tích đất, và đều đề nghị không xem xét đến công sức tôn tạo đất của chị H, cháu S1 nên không xem xét, giải quyết công sức tôn tạo, giữ gìn đất đối với chị H, cháu S1.

Còn lại ông T, bà N, anh Q2 hiện tại đang ở trên diện tích đất tranh chấp, có công sức tôn tạo, giữ gìn, trông nom diện tích đất nên tính cho ông T, bà N, anh Q2 công sức giữ gìn, trông nom, tôn tạo đất bằng 1 suất thừa kế, trong đó ông T có công sức lớn nhất, sau đó đến bà N và anh Q2 có công sức ít nhất.

[6.4]. Như vậy di sản của cụ H2 cụ N1 để lại là 535,2m² chia như sau: 535,2m² : 3 = 178,4m².

  • - Ông Phạm Đình T (tức Q) được hưởng: 178,4m².
  • - Ông Phạm Đình T, bà Phạm Thị N, anh Phạm Tiến Q2 được hưởng 178,4m² (trong đó xác định ông T được hưởng 100m², bà N được 58,4m², anh Q2 được 20m²).
  • - Bà Phạm Thị M được hưởng 178,4m².

[6.5]. Cách chia: Trên diện tích đất tranh chấp hiện có các công trình sau:

  • - Có 01 nhà 02 tầng bê tông cốt thép mái bằng kèm công trình phụ do vợ chồng anh Phạm Đình Q1 và chị Vũ Thị H xây dựng, có sân cửa khép kín.
  • - Có 01 nhà một tầng bê tông cốt thép mái bằng kèm công trình phụ kiên cố do anh Phạm Tuấn A (con ông T đất mất năm 2014) và vợ là chị Bùi Thị S sử dụng từ năm 2006, có sân láng xi măng, lớp mái tôn kẽm mạ màu khung sắt phía trước. Sau khi anh Tuấn A chết, vợ là chị S cùng con trai đi nơi khác sinh sống, hiện căn nhà do ông T, bà N quản lý, sử dụng.
  • - Có 01 nhà một tầng mái ngói 03 gian, hiên đổ mái bằng, phía trước có sân láng xi măng, do cụ H2 cụ N1 xây dựng, hiện ông T và bà N sửa chữa tôn tạo lại và đang sử dụng, và phía trước có vườn, có trồng một số cây cau, dừa, roi, na, mít, xoài, bên cạnh căn nhà giáp nhà kho.
  • - 01 nhà cấp bốn một tầng và sân xi măng do vợ chồng anh Phạm Tiến Q2, chị Đồng Thị Y xây dựng và sử dụng. Hiện chị Y chuyển đi nơi khác sinh sống từ lâu, trên đất có một số cây trồng.

Để đảm bảo kết cấu vật kiến trúc, sự bền vững khối công trình, đảm bảo sự ổn định sinh hoạt cho gia đình ông T, cũng như căn cứ giá trị vật kiến trúc và hiện trạng sử dụng tài sản của gia đình ông T, Hội đồng xét xử xét thấy cần giao cho bà M được quyền sử dụng 156,8m² phần giáp với hộ hàng xóm giáp ranh, trên diện tích đất có 01 căn nhà do anh Q2, chị Y xây dựng (hiện không còn giá trị) và một phần nhà kho của ông T bà N (hiện không còn giá trị), sân, tường bao, một số cây trồng, còn lại là phần đất trống. Theo lời khai các đương sự thì diện tích cây cối trên phần đất chia cho bà M, một phần sân và tường bao là của ông T, bà N. Đối với phần sân láng xi măng nằm trong khuôn viên căn nhà anh Q2 và vợ là chị Y xây dựng nên xác định là tài sản của anh Q2 chị Y.

Do vậy, bà M có nghĩa vụ trả cho ông T, bà N giá trị bờ tường bao (được đánh dấu số 16,17,18 theo sơ đồ kèm theo trị giá 1.930.640₫), cây trồng, bao gồm: 4 cây cau, 1 cây dừa, 1 cây roi, 01 cây na, tổng trị giá: 1.370.000đ, sân 28m² trị giá 4.135.793đ. Tổng số tiền bà M phải trả cho ông T bà N là 7.436.433đ.

Bà M có nghĩa vụ trả cho anh Q2 chị Y giá trị sân láng xi măng đánh số 19 theo sơ đồ kèm theo trị giá 5.022.035₫.

[6.6] Đối với phần công sức trông nom, tôn tạo đất của ông Phạm Đình T, bà Phạm Thị N, anh Phạm Tiến Q2 được hưởng là 178,4m² (trong đó xác định ông T được hưởng 100m², bà N được 58,4m², anh Q2 được 20m²), do diện tích đất trống còn ít, để đảm bảo công năng sử dụng của vật kiến trúc, đảm bảo kết cấu công trình trên đất, đảm bảo việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên cần chia cho ông T phần diện tích 378,4m² trên đất có căn nhà 3 gian của các cụ để lại, phần công trình lán tôn, nhà cấp bốn, công trình phụ hiện do ông T bà N đang sử dụng (trước đây do vợ chồng anh Tuấn A sử dụng), và phần công trình nhà ở hiện chị H và các con đang sử dụng, ngoài ra còn có diện tích vườn, cây cối và sân.

Ông T có trách nhiệm trả cho chị H, anh Q1 giá trị căn nhà, phần công trình phụ, lán tôn, cửa tổng trị giá 69.746.467₫.

Đối với phần công trình nhà ở ký hiệu số 5 của sơ đồ kèm theo, công trình phụ, nhà bếp, lán tôn hiện do ông T, bà N đang quản lý sử dụng: Theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ, thể hiện các công trình này do anh Tuấn A xây dựng, sử dụng nhưng anh Tuấn A đã chết; chị S vợ anh Tuấn A đã chuyển đi nơi khác ở từ lâu. Quá trình giải quyết, ông T bà N không hợp tác, không làm việc với Toà án không cung cấp ý kiến về việc người xây dựng lên tài sản này, hiện ông T, bà N đang trực tiếp quản lý, sử dụng. Các đương sự trong vụ án cũng trình bày không biết ai là người xây dựng các công trình này, chị S cũng không có lời khai, ý kiến, đề nghị gì trong quá trình giải quyết vụ án. Do vậy, chị S có quyền khởi kiện bằng vụ án khác để đảm bảo quyền lợi của mình đối với các công trình xây dựng này.

Đối với phần công trình nhà 3 gian của các cụ để lại, phía trước có diện tích sân: Bà M đề nghị không xem xét đối với căn nhà 3 gian của các cụ để lại, căn nhà hiện nay cũng không còn giá trị, còn đối với diện tích sân phía trước bà N, ông T cũng đang sử dụng, bà N cũng không có ý kiến gì, cả diện tích nhà và sân vườn, cây cối đều nằm trong khuôn viên diện tích đất chia cho ông T nên người sử dụng tiếp tục sử dụng.

Đối với phần diện tích bà N được 58,4m², anh Q2 được 20m² được hưởng do diện tích đất trống còn ít, nếu chia không đảm bảo điều kiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và hình thể thửa đất nên Hội đồng xét xử chia bằng giá trị đất, ông T có nghĩa vụ trả cho bà N 525.600.000đ tương đương giá trị của 58,4m² đất, trả cho anh Q2 180.000.000đ tương đương giá trị 20m² đất.

Bà M được hưởng 178,4m², nhưng được chia 156,8m² ít hơn phần bà được hưởng là 21,6m², phần giá trị chênh lệch này ông T phải có nghĩa vụ trả cho bà M phần giá trị đất. Tuy nhiên, bà M không đề nghị ông T trả lại cho bà giá trị phần chênh lệch nên không xem xét, giải quyết nghĩa vụ của ông T đối với bà M.

Đối với một phần tường bao, trụ cổng ông T, bà N, anh Q2 xây dựng, sử dụng trên diện tích 6,5m² đất hành lang giao thông thì ông T, bà N, anh Q2 phải có trách nhiệm dỡ bỏ.

Khi bản án có hiệu lực pháp luật, các đương sự có quyền đến cơ quan có thẩm quyền để làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quyết định của bản án.

[7]. Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bà M là người cao tuổi, có đơn miễn án phí nên được miễn án phí dân sự sơ thẩm. Ông T là người cao tuổi nhưng không có đề nghị miễn án phí nên phải nộp án phí dân sự sơ thẩm đối với phần di sản thừa kế được hưởng.

Về chi phí xem xét thẩm định, định giá tài sản: Nguyên đơn không đề nghị giải quyết nên không xem xét, giải quyết.

[8]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 5 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 227, Điều 228, Điều 147, Điều 184, Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự;

Căn cứ Điều 609, Điều 612, Điều 613, Điều 614, Điều 623, Điều 649, Điều 650, Điều 651, Điều 660 Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện nguyên đơn;

  1. Xác định diện tích 535,2m² đất tại thửa 432, tờ bản đồ số 15 tại địa chỉ số A T, phường T (nay là phường B), quận K, thành phố Hải Phòng là di sản của cụ Phạm Đình H2, cụ Phạm Thị N1 để lại, chia di sản thừa kế theo quy định của pháp luật như sau:
    • - Giao cho bà Phạm Thị M được quyền sử dụng diện tích 156,8m² đất tại thửa 432, tờ bản đồ số 15 tại địa chỉ số A T, phường T (nay là phường B), quận K, thành phố Hải Phòng và toàn bộ tài sản trên đất (theo các mốc giới 6a-7-8-9-9a-6a, vị trí, kích thước, tài sản cụ thể trên diện tích đất theo sơ đồ kèm theo).
    • - Giao cho ông Phạm Đình T (tức Phạm Đình Q) được quyền sử dụng diện tích 378,4m² đất tại thửa 432, tờ bản đồ số 15 tại địa chỉ số A T, phường T (nay là phường B), quận K, thành phố Hải Phòng và toàn bộ tài sản trên đất (theo các mốc giới 1-2-3-4-5-6-6a-9a-10-11-1, vị trí, kích thước, tài sản cụ thể trên diện tích đất theo sơ đồ kèm theo).
  2. Ông Phạm Đình T (tức Phạm Đình Q) có nghĩa vụ trả cho:
    • + Bà Phạm Thị N số tiền 525.600.000đ (Năm trăm hai mươi lăm triệu sáu trăm nghìn đồng).
    • + Anh Phạm Tiến Q2 số tiền 180.000.000đ (Một trăm tám mươi triệu đồng).
    • + Trả cho chị Vũ Thị H và anh Phạm Đình Q1 số tiền 69.746.467đ (Sáu mươi chín triệu bảy trăm bốn mươi sáu nghìn bốn trăm sáu mươi bảy đồng).
  3. Bà Phạm Thị M có nghĩa vụ trả cho:
    • + Ông Phạm Đình T (tức Phạm Đình Q), bà Phạm Thị N số tiền 7.436.433đ (Bảy triệu bốn trăm ba mươi sáu nghìn bốn trăm ba mươi ba đồng).
    • + Anh Phạm Tiến Q2, chị Đồng Thị Y số tiền 5.022.035đ (Năm triệu không trăm hai mươi hai nghìn không trăm ba mươi lăm đồng).
  4. Chị Vũ Thị H, anh Phạm Đình S1 có nghĩa vụ giao lại diện tích đất và tài sản trên đất đang quản lý, sử dụng tại thửa 432, tờ bản đồ số 15 tại số A T, phường T (nay là phường B), quận K, thành phố Hải Phòng cho ông Phạm Đình T (tức Phạm Đình Q) quản lý, sử dụng sau khi chị Vũ Thị H nhận được tiền thanh toán của ông Phạm Đình T (tức Phạm Đình Q).

    Anh Phạm Tiến Q2, ông Phạm Đình T (tức Phạm Đình Q), bà Phạm Thị N có nghĩa vụ giao lại diện tích đất và tài sản trên đất đang quản lý, sử dụng theo các mốc giới 6a-7-8-9-9a-6a của sơ đồ kèm theo tại thửa 432, tờ bản đồ số 15 tại số A T, phường T (nay là phường B), quận K, thành phố Hải Phòng cho bà Phạm Thị M quản lý, sử dụng sau khi nhận được tiền thanh toán của bà Phạm Thị M.

  5. Ông Phạm Đình T (tức Phạm Đình Q), bà Phạm Thị N, anh Phạm Tiến Q2 có trách nhiệm phá dỡ phần công trình tường bao, cổng sắt trên phần diện tích 6,5m² đất hành lang giao thông (theo các mốc giới 9-9a-10-12-9 của sơ đồ kèm theo).
  6. Đối với nhà kho đã cũ được ký hiệu số 7 của sơ đồ kèm theo, tại thửa 432, tờ bản đồ số 15 tại số A T, phường T (nay là phường B), quận K, thành phố Hải Phòng không còn giá trị sử dụng, bà Phạm Thị M có nghĩa vụ tự phá dỡ để sử dụng đúng diện tích đất được giao.

    Khi bản án có hiệu lực pháp luật, các đương sự được quyền đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quyết định của bản án.

  7. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
  8. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Phạm Thị M được miễn án phí dân sự sơ thẩm.

    Ông Phạm Đình T (tức Phạm Đình Q) phải nộp 100.112.000đ (Một trăm triệu một trăm mười hai nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

  9. Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

    Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định pháp luật.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - VKSND TP Hải Phòng;
  • - VKS ND quận Kiến An;
  • - Chi cục THSDS quận Kiến An;
  • - TAND TP. Hải Phòng;
  • - Các đương sự (để thi hành);
  • - Lưu: HSVA, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Ngọc Ngà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 02/2025/DS-ST ngày 24/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN KIẾN AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về tranh chấp thừa kế tài sản

  • Số bản án: 02/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp thừa kế tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/03/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN KIẾN AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu KK của nguyên đơn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger