|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TP. MÓNG CÁI TỈNH QUẢNG NINH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 02/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 21-03-2025
“V/V Tranh chấp về ly hôn, nuôi con, chia tài sản khi ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI - TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Chí Mạnh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Quýnh và bà Nguyễn Thị Hảo.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thu Trang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái - tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Ông Vương Hải Nam - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 03 năm 2025 tại Phòng xử án Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 121/2025/TLST-HNGĐ ngày 09/10/2024 về việc “Tranh chấp về ly hôn, nuôi con, chia tài sản khi ly hôn”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 22/01/2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 04/2025/QĐST-HNGĐ, ngày 21/02/2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Vương Thị Y, sinh năm 1975. Nơi thường trú: khu E, phường H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh - có mặt.
- Bị đơn: Ông Đào Văn C, sinh năm 1970. Nơi thường trú: khu E, phường H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh - có mặt.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Vương Văn S, sinh năm 1953 và bà Lê Thị P, sinh năm 1952. Nơi thường trú: khu E, phường H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh - vắng mặt (có đơn xin vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện và bản tự khai của nguyên đơn bà Vương Thị Y trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: tôi (Y) và ông Đào Văn C chung sống với nhau từ năm 2003 nhưng đến năm 2007 mới tiến hành đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Chúng tôi đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện T, tỉnh Bắc Giang. Hôn nhân của chúng tôi là hoàn toàn tự nguyện. Chúng tôi chung sống với nhau đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do chúng tôi không có tiếng nói chung nên thường xuyên cãi vã nhau, ông C có hành vi bạo lực gia đình thường xuyên đánh đập tôi. Hiện nay chúng tôi đã sống ly thân. Nay tình cảm giữa tôi và ông C không còn, mâu thuẫn quá trầm trọng nên tôi đề nghị Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với ông Đoàn Văn C1.
- Về con chung: chúng tôi có 02 con chung là Đào Linh C2, sinh ngày 03/10/2003 (đã thành niên) và Đào Đức T, sinh ngày 05/8/2010. Tôi đề nghị được nuôi con Đào Đức T, không yêu cầu ông C1 phải cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung: trong thời kỳ hôn nhân chúng tôi tạo dựng được khối tài sản chung là công trình xây dựng trên đất gồm nhà ở xây năm 2004 cùng bếp và công trình phụ. 01 dãy nhà trọ 05 gian xây năm 2010 và 01 dãy chuồng trại chăn nuôi xây năm 2014. Theo biên bản định giá tài sản của Hội đồng định giá tổng giá trị tài sản là 26.372.261 đồng nằm trên diện tích 730m2 đất, trong đó có 400m2 đất ở 300m2 đất trồng cây và 30m2 đất giao thông của ông Vương Văn S và bà Lê Thị P theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AG706721, số vào sổ cấp GCN H017970 do UBND thành phố M cấp ngày 12/6/2007 (nguồn gốc đất là của bố mẹ tôi cho mượn xây nhà ở). Quan điểm của tôi, tôi sẽ sở hữu toàn bộ tài sản trên đất và trả tiền chênh lệch chia tài sản chung cho ông C1. Còn tôi sẽ tự thỏa thuận với ông Vương Văn S và bà Lê Thị P.
- Về khoản nợ chung: không có.
* Bị đơn ông Đào Văn C có quan điểm trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: việc chung sống, đăng ký kết hôn, mâu thuẫn vợ chồng giữa tôi và bà Y như bà Y trình bày là đúng. Tôi đồng ý với yêu cầu xin ly hôn của bà Y.
- Về con chung: chúng tôi có 02 con chung như bà Y trình bày là đúng. Tôi đồng ý bà Y là người trực tiếp nuôi con chung Đào Đức T đến tuổi thành niên, tôi không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung: tôi thừa nhận toàn bộ tài sản chung như bà Y trình bày là đúng về nguồn gốc đất và tài sản trên đất. Tôi không đồng ý với giá của Hội đồng định giá đã định giá với lý do tài sản của tôi không có khấu hao vì tôi vẫn đang sử dụng. Tuy nhiên, tôi không yêu cầu định giá lại, tôi có quan điểm tổng giá trị tài sản trên đất là 400.000.000 đồng, đề nghị bà Y phải thanh toán cho tôi số tiền 200.000.000 đồng.
- Về khoản nợ chung: tôi và bà Y còn nợ Ngân hàng N chi nhánh L, V, Bắc Giang số tiền 30.000.000 đồng từ năm 2007 hiện tại chưa trả. Trong quá trình giải quyết tôi yêu cầu bà Y phải có nghĩa vụ trả ½ số tiền nợ trên. Tuy nhiên, hiện nay tôi chưa cung cấp được hợp đồng vay, khi nào tôi thu thập được tài liệu chứng cứ tôi sẽ khởi kiện bằng vụ kiện khác.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Vương Văn S và bà Lê Thị P có quan điểm: chị Vương Thị Y và anh Đào Văn C là con gái và con rể tôi. Thửa đất có diện tích 730m2 đất, trong đó có 400m2 đất ở 300m2 đất trồng cây và 30m2 đất giao thông, tại khu E, phường H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AG706721, số vào sổ cấp GCN H017970 do UBND thành phố M cấp ngày 12/6/2007 mang tên hai vợ chồng tôi là Vương Văn S và bà Lê Thị P là của vợ chồng tôi mua. Năm 2004 tôi cho con gái mượn xây nhà ở và 01 dãy nhà trọ. Nay vợ chồng con gái tôi ly hôn và yêu cầu chia tài sản chung tôi đồng ý với quan điểm của chị Y là chị Y sẽ sở hữu toàn bộ tài sản trên đất và trả tiền chênh lệch cho anh Đoàn Văn C1. Đối với đất là của vợ chồng tôi, tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này, chúng tôi và con gái tôi sẽ tự thỏa thuận với nhau.
Tại biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 14/11/2024 thì hiện trạng thửa đất số 00, tờ bản đồ số 00 có diện tích 730m2 trong đó có 400m2 đất ở, 300m2 đất trồng cây lâu năm và 30m2 đất giao thông, tại khu E, phường H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AG706721, số vào sổ cấp GCN H01970 do UBND thị xã M (nay là thành phố M) cấp ngày 12/6/2007 mang tên hộ ông Vương Văn S, hiện tại không có tranh chấp với hộ giáp ranh.
Về tài sản trên đất gồm có:
* Tài sản của ông C1 và bà Y xây trên 1 phần diện tích đất của ông Vương Văn S và bà Lê Thị P gồm:
- 01 Nhà ở là nhà 1 tầng bao gồm cả bếp và vệ sinh có tổng diện tích 67,3m2, tường xây gạch chỉ d110, mái lợp fibroximang xây năm 2004;
- 01 dãy nhà trọ gồm 05 gian cấp 4 diện tích 58,0m2, tường xây gạch ba banh, mái lợp fibroximang được xây dựng năm 2010. Cuối dãy nhà trọ là nhà vệ sinh diện tích 4,9m2;
- 01 dãy chuồng trại gồm 02 chuồng, 1 chuồng diện tích 37,1m2 và 01 chuồng diện tích 21,9m2;
- 01 bể nước được xây dựng năm 2014;
- xung quanh nhà có xây tường rào bằng gạch chỉ. Ngoài ra trên đất không còn tài sản gì khác.
- Tại biên bản định giá tài sản ngày 14/11/2024: giá trị toàn bộ toàn bộ các công trình trên đất của ông C1 và bà Y sau khi trừ đi khấu hao còn 26.372.261 đồng (hai mươi sáu triệu ba trăm bảy mươi hai nghìn hai trăm sáu mươi mốt đồng).
- Giá trị các đương sự tự thỏa thuận về phần đổ đất tôn tạo không yêu cầu Hội đồng định giá là 25.000.000 đồng (hai mươi lăm triệu đồng).
- Tổng giá trị toàn bộ công trình trên đất là 26.372.261đồng + 25.000.000 đồng giá trị các đương sự tự thỏa thuận = 51.372.261 đồng (năm mươi mốt triệu ba trăm bảy mươi hai nghìn hai trăm sáu mươi mốt đồng).
Tại phiên tòa hôm nay đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái có quan điểm: qua nghiên cứu hồ sơ vụ án thì vụ án được thụ lý, giải quyết đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thụ lý đúng thẩm quyền, xác định đúng tư cách người tham gia tố tụng, đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, việc triệu tập người tham gia tố tụng đảm bảo, quyết định đưa vụ án ra xét xử đảm bảo và có căn cứ. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã làm đầy đủ thủ tục đúng quy định của pháp luật. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều, 51, 56, Điều 81, 82, 83 Điều 33 Điều 38, Điều 39 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận đơn khởi kiện “Tranh chấp ly hôn, con chung, chia tài sản chung khi ly hôn” của chị Vương Thị Y.
Đề nghị Hội đồng xét xử xử:
- Về tình cảm: Bà Vương Thị Y được ly hôn ộng Đào Văn C.
- Về con chung: Giao con chung Đào Đức T, sinh ngày 05/8/2010 cho bà Vương Thị Y là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi thành niên (đủ 18 tuổi). Ông Đào Văn C không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung: Bà Vương Thị Y được quyền sở hữu tài sản trên đất gồm 01 nhà ở là nhà 1 tầng bao gồm cả bếp và vệ sinh có tổng diện tích 67,3m2, tường xây gạch chỉ d110, mái lợp fibroximang xây năm 2004; 01 dãy nhà trọ gồm 05 gian cấp 4 diện tích 58,0m2, tường xây gạch ba banh, mái lợp fibroximang được xây dựng năm 2010. Cuối dãy nhà trọ là nhà vệ sinh diện tích 4,9m2; 01 dãy chuồng trại gồm 02 chuồng, 1 chuồng diện tích 37,1m2 và 01 chuồng diện tích 21,9m2; 01 bể nước được xây dựng năm 2014. Bà Vương Thị Y phải thanh toán tiền chênh lệch chia tài sản chung cho ông Đào Văn C là 25.686.130 đồng (hai mươi năm triệu sáu trăm tám sáu nghìn một trăm ba mươi đồng).
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: ngày 07/10/2024, người khởi kiện là bà Vương Thị Y nộp đơn tại Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh. Tòa án tiến hành thụ lý vụ án bảo đảm đúng quy định tại Điều 195 và 197 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về thẩm quyền: căn cứ vào đơn khởi kiện và yêu cầu của người khởi kiện ngày 07/10/2024, Tòa án xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp về ly hôn, nuôi con, chia tài sản khi ly hôn” thuộc thẩm quyền của Tòa án quy định tại Điều 28; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về sự vắng mặt của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Vương Văn S bà Lê Thị P. Ông S và bà P có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xử vắng mặt họ.
[2] Về tình cảm: Bà Vương Thị Y và ông Đào Văn C về chung sống với nhau từ năm 2003 nhưng đến năm 2007 hai người mới làm thủ tục đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện T, tỉnh Bắc Giang. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2021 thì xảy ra nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân chủ yếu là do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống và không tin tưởng nhau trong cuộc sống vợ chồng nên thường xuyên xảy ra cãi vã xúc phạm nhau có lúc dẫn đến bạo lực gia đình, ông C nhiều lần đánh bà Y làm bà Y không dám ở nhà mà phải đi thuê nơi khác ở. Do đó, bà Y thấy tình cảm với ông C không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn ông C.
Quan điểm của ông C cho rằng tình cảm vợ chồng của ông và bà Y không còn nên nhất trí ly hôn bà Y. Xét nguyện vọng của các đương xự là tự nguyện, chính đáng phù hợp với quy định tại Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3] Về con chung: trong quá trình chung sống bà Y và ông C sinh được 02 (hai) con chung là Đào Linh C2, sinh ngày 03/10/2003 (đã thành niên) và Đào Đức T, sinh ngày 05/8/2010. Các đương sự thỏa thuận sau khi ly hôn bà Vương Thị Y là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung Đào Đức T đến tuổi thành niên (đủ 18 tuổi). Ông Đào Văn C không phải cấp dưỡng nuôi con chung, theo nguyện vọng của con chung là được ở cùng với mẹ nên phù hợp với quy định tại Điều 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình. Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Về tài sản chung: trong thời kỳ hôn nhân ông C và bà Y có tạo dựng được khối tài sản chung là 01 nhà ở là nhà 1 tầng bao gồm cả bếp và vệ sinh có tổng diện tích 67,3m2, tường xây gạch chỉ d110, mái lợp fibroximang xây năm 2004; 01 dãy nhà trọ gồm 05 gian cấp 4 diện tích 58,0m2, tường xây gạch ba banh, mái lợp fibroximang được xây dựng năm 2010. Cuối dãy nhà trọ là nhà vệ sinh diện tích 4,9m2; 01 dãy chuồng trại gồm 02 chuồng, 1 chuồng diện tích 37,1m2 và 01 chuồng diện tích 21,9m2; 01 bể nước được xây dựng năm 2014, trị giá 51.686.130 đồng (năm mươi mốt triệu sáu trăm tám mươi sáu nghìn một trăm ba mươi đồng) theo biên bản định giá tài sản của Hội đồng định giá và sự thỏa thuận của các đương sự. Toàn bộ khối tài sản trên được xây dựng trên diện tích đất 730m2 trong đó có 400m2 đất ở, 300m2 đất trồng cây lâu năm và 30m2 đất giao thông, tại khu E, phường H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AG706721, số vào sổ cấp GCN H01970 do UBND thị xã M (nay là thành phố M) cấp ngày 12/6/2007 mang tên hộ ông Vương Văn S.
Quan điểm của bà Y vì khối tài sản này đang nằm trên diện tích đất của bố mẹ bà nên bà có nguyện vọng khi vợ chồng ly hôn bà sẽ là người sở hữu toàn bộ khối tài sản trên và có nghĩa vụ thanh toán tiền chênh lệch chia tài sản cho ông C theo biên bản định giá của Hội đồng định giá tổng giá trị tài sản là 51.686.130 đồng bà Y sẽ thanh toán cho ông C ½ giá trị tài sản tương đương số tiền là 25.686.130 đồng và bà sẽ tự thỏa thuận với ông bà Lê Thị P và Vương Văn S về quyền sử dụng đất là phù hợp với quy định của pháp luật.
Ông Đào Văn C không đồng ý với việc đề nghị chia tài sản chung vợ chồng như quan điểm của bà Y và không nhất trí với kết luận định giá của Hội đồng định giá nhưng ông không khiếu nại hay yêu cầu định giá lại, ông cho rằng toàn bộ tài sản trên đất có giá trị là 400.000.000 đồng, đề nghị chị Y phải thanh toán cho ông số tiền 200.000.000 đồng. Ngoài ra ông C còn yêu cầu bà Y phải có trách nhiệm trả nợ mỗi người ½ với số tiền nợ Ngân hàng N chi nhánh L, V, Bắc Giang số tiền 30.000.000 đồng vay từ năm 2007 hiện tại chưa trả, nhưng ông không đưa ra được tài liệu chứng cứ nộp cho Tòa án mặc dù trong quá trình giải quyết Tòa án đã yêu cầu ông giao nộp và tại phiên tòa ông có quan điểm về số nợ ông sẽ khởi kiện bằng vụ kiện khác. Do đó, quan điểm của ông Đào Văn C không có căn cứ để Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì thế, chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn, nuôi con và chia tài sản khi ly hôn của bà Vương Thị Y là có căn cứ phù hợp với quy định tại Điều 51, 56, Điều 81, 82, 83, Điều 33, Điều 38 và Điều 39 Luật Hôn nhân và gia đình.
[5] Đối với quan điểm của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông bà Lê Thị P và Vương Văn S đề nghị Tòa án giải quyết việc ly hôn, nuôi con và chia tài sản chung của bà Y và ông C theo quy định của pháp luật, đề nghị Tòa án giao quyền sử dụng toàn bộ tài sản trên đất là tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân của bà Y và ông C cho bà Y sở hữu, bà Y phải thanh toán tiền chênh lệch chia tài sản chung cho ông C. Còn về phần diện tích đất của ông, bà cho bà Y ông C mượn xây dựng khối tài sản trên đất ông bà sẽ tự thỏa thuận với bà Y không yêu cầu Tòa án giải quyết. Yêu cầu này là hoàn toàn tự nguyện phù hợp với quy định của pháp luật Hội đồng xét xử chấp nhận.
[6] Về chi phí tố tụng: số tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản là 14.500.000 đồng (mười bốn triệu năm trăm nghìn đồng) bà Y đã nộp tạm ứng và bà Y có quan điểm tự nguyện chịu không yêu cầu ông C phải chịu nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[7] Về án phí: án phí ly hôn bà Vương Thị Y phải chịu theo quy định của pháp luật. Ngoài ra các đương sự phải chịu án phí chia tài sản chung khi ly hôn tương ứng với giá trị phần tài sản được chia.
[8] Về quyền kháng cáo: các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, khoản 4 Điều 147, Điều 156, 157, Điều 227, 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Căn cứ khoản 1 Điều 51, Điều 56, Điều 81, 82 và 83, Điều 33, Điều 38 và Điều 39 Luật Hôn nhân và gia đình.
- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 24; điểm b khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội 14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Chấp nhận đơn khởi kiện ly hôn, nuôi con và chia tài sản khi ly hôn của bà Vương Thị Y.
1. Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Vương Thị Y được ly hôn ông Đào Văn C.
- Về con chung: Giao con chung Đào Đức T, sinh ngày 05/8/2010 cho bà Vương Thị Y là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi thành niên (đủ 18 tuổi). Ông Đào Văn C không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Về tài sản chung: Bà Vương Thị Y được quyền sở hữu toàn bộ tài sản trên đất gồm 01 nhà ở là nhà 1 tầng bao gồm cả bếp và vệ sinh có tổng diện tích 67,3m2, tường xây gạch chỉ d110, mái lợp fibroximang xây năm 2004; 01 dãy nhà trọ gồm 05 gian cấp 4 diện tích 58,0m2, tường xây gạch ba banh, mái lợp fibroximang được xây dựng năm 2010. Cuối dãy nhà trọ là nhà vệ sinh diện tích 4,9m2; 01 dãy chuồng trại gồm 02 chuồng, 1 chuồng diện tích 37,1m2 và 01 chuồng diện tích 21,9m2; 01 bể nước được xây dựng năm 2014. Tổng giá trị tài sản là 51.686.130 đồng. (Toàn bộ tài sản trên đất nằm trên diện tích 730m2 đất, trong đó có 400m2 đất ở, 300m2 đất trồng cây lâu năm và 30m2 đất giao thông, tại khu E, phường H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AG706721, số vào sổ cấp GCN H01970 do UBND thị xã M (nay là thành phố M) cấp ngày 12/6/2007 mang tên hộ ông Vương Văn S).
Bà Vương Thị Y phải thanh toán tiền chênh lệch chia tài sản cho ông Đào Văn C là 25.686.130 đồng (hai mươi lăm triệu sáu trăm tám sáu nghìn một trăm ba mươi đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, ông Đào Văn C có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bà Vương Thị Y là người phải thi hành án không trả cho người được thi hành án số tiền nêu trên, thì người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án cho đến khi thi hành xong theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
2. Về chi phí tố tụng:
Bà Vương Thị Y phải chịu số tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản là 14.500.000 đồng (mười bốn triệu năm trăm nghìn đồng), nhưng bà Y được trừ đi số tiền đã nộp tạm ứng chi phí tố tụng 14.500.000 đồng (mười bốn triệu năm trăm đồng), bà Y đã nộp đủ chi phí tố tụng.
3. Về án phí:
bà Vương Thị Y phải chịu tổng số tiền án phí là 1.584.306 đồng (một triệu năm trăm tám mươi tư nghìn ba trăm linh sáu đồng), trong đó 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn và 1.284.306 đồng (một triệu hai trăm tám tư nghìn ba trăm linh sáu đồng) án phí chia tài sản chung. Nhưng được trừ đi số tiền tạm ứng án phí mà bà Y đã nộp là 1.500.000đ (một triệu năm trăm nghìn đồng), theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0003234 ngày 09/10/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Móng Cái. Bà Y còn phải nộp số tiền 84.306 đồng (tám mươi tư nghìn ba trăm linh sáu đồng).
Ông Đào Văn C phải chịu số tiền án phí chia tài sản chung sơ thẩm là 1.284.306 đồng (một triệu hai trăm tám tư nghìn ba trăm linh sáu đồng).
4. Về quyền kháng cáo:
án xử công khai sơ thẩm có mặt nguyên đơn, bị đơn, vắng mặt những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Báo cho nguyên đơn, bị đơn biết quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sựthời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Chí Mạnh |
Bản án số 02/2025/HNGĐ-ST ngày 21/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI - TỈNH QUẢNG NINH về tranh chấp về ly hôn, nuôi con, chia tài sản khi ly hôn
- Số bản án: 02/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về ly hôn, nuôi con, chia tài sản khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI - TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
