|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG THỦY THÀNH PHỐ HUẾ |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 02/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 13/3/2025
V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn"
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG THỦY, THÀNH PHỐ HUẾ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Châu.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Quốc Toản và bà Nguyễn Thị Mỹ Nhung.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Thùy Dương - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Hương Thủy, thành phố Huế.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Thủy, thành phố Huế tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Khánh Nhạc - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Hương Thủy, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 135/2024/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 10 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Trần Văn T, sinh năm 1993; Địa chỉ: Số F Quốc lộ A, Khu phố B, Phường E, thị xã C, tỉnh Tiền Giang, có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Chị Võ Thị Diệu T1, sinh năm 1993; Địa chỉ: Thôn T, xã T, thị xã H, thành phố H, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ly hôn ngày 25 tháng 07 năm 2024, lời khai trong quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn là anh Trần Văn T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Năm 2016, anh Trần Văn T kết hôn với chị Võ Thị Diệu T1, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường E, thị xã C, tỉnh Tiền Giang. Sau thời gian chung sống vợ chồng không hợp nhau, phát sinh mâu thuẫn trong cuộc sống thường xuyên cãi vã, cuộc sống không hạnh phúc, đã ly thân chấm dứt quan hệ vợ chồng từ tháng 6 năm 2019, không hòa giải hàn gắn được, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh T yêu cầu được ly hôn với chị T1.
Về con chung: Anh Trần Văn T trình bày vợ chồng có 01 người con chung là Trần Võ Thiên Đ, sinh ngày 21/12/2016, hiện do chị T1 nuôi dưỡng. Khi ly hôn, anh T đồng ý để chị T1 tiếp tục nuôi dưỡng cháu Đ và anh T tự nguyện cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng cho đến khi con đủ 18 tuổi.
Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Anh Trần Văn T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai ngày 14 tháng 10 năm 2024 và trong quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, bị đơn là chị Võ Thị Diệu T1 trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Võ Thị Diệu T1 và anh Trần Văn T tự nguyện đăng ký kết hôn vào ngày 19/4/2016 tại Ủy ban nhân dân phường E, thị xã C, tỉnh Tiền Giang. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc với nhau được khoảng 02 năm thì chị T1 cùng con chuyển về nhà ba mẹ đẻ ở xã T, thị xã H, thành phố H để đi làm. Trong khi đó, anh T vẫn sinh sống và làm việc tại Thành phố Hồ Chí Minh, do sống xa nhau nên hai vợ chồng không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Vợ chồng đã sống ly thân được hơn 06 năm nay. Nay anh T yêu cầu ly hôn thì chị T1 đồng ý.
Về con chung: Chị T1 thừa nhận vợ chồng có 01 người con chung là Trần Võ Thiên Đ, sinh ngày 21/12/2016, hiện do chị T1 nuôi dưỡng. Khi ly hôn, chị T1 yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Trần Võ Thiên Đ, anh T phải cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng cho đến khi con đủ 18 tuổi.
Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Chị Võ Thị Diệu T1 không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Qua xác minh tại Ủy ban nhân dân xã T, thị xã H, thành phố H cho biết: Anh Trần Văn T và chị Võ Thị Diệu T1 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường E, thị xã C, tỉnh Tiền Giang vào ngày 19/4/2016. Quá trình chung sống, vợ chồng anh T và chị T1 có 01 người con chung là cháu Trần Võ Thiên Đ, sinh ngày 21/12/2016. Nguyên nhân mâu thuẫn dẫn đến việc anh T yêu cầu ly hôn với chị T1 thì chính quyền địa phương không rõ. Chị T1 trở về địa phương sinh sống từ năm 2019, vợ chồng sống ly thân từ đó cho đến nay.
Do nguyên đơn là anh T có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt tại phiên họp, phiên hòa giải nên Tòa án không tiến hành hòa giải được, đồng thời ngày 05/12/2024 bị đơn là chị T1 có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải nên Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Quá trình thụ lý, giải quyết, xét xử vụ án, Thẩm phán và Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đầy đủ các quy định của pháp luật. Nguyên đơn, bị đơn chấp hành đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình. Nguyên đơn có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt nguyên đơn.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, cho anh Trần Văn T được ly hôn chị Võ Thị Diệu T1; giao cháu Trần Võ Thiên Đ, sinh ngày 21/12/2016 cho chị T1 tiếp tục nuôi dưỡng, anh Trần Văn T phải cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng cho đến khi cháu Trần Võ Thiên Đ trưởng thành (đủ 18 tuổi). Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Anh Trần Văn T và chị Võ Thị Diệu T1 không yêu cầu Toà án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét. Về án phí: Anh Trần Văn T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
- Về Thẩm quyền giải quyết: Bị đơn là chị Võ Thị Diệu T1 có địa chỉ cư trú tại xã T, thị xã H, thành phố H nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Hương Thủy là đúng quy định tại khoản 1 Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Về sự vắng mặt của nguyên đơn: Nguyên đơn anh Trần Văn T có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt, do đó Toà án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn là đúng quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
[2] Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Anh Trần Văn T và chị Võ Thị Diệu T1 có đăng ký kết hôn vào ngày 19/04/2016 tại Ủy ban nhân dân phường E, thị xã C, tỉnh Tiền Giang trên cơ sở tự nguyện. Như vậy, quan hệ hôn nhân giữa anh T và chị T1 là hợp pháp. Quá trình chung sống, giữa anh T và chị T1 đã phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chủ yếu do hai vợ chồng tính tình không hợp nhau, thường xuyên cãi vã, vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 6 năm 2019 đến nay và không còn quan tâm, yêu thương nhau. Xét thấy, tình trạng mâu thuẫn giữa vợ chồng anh T và chị T1 đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên anh T yêu cầu được ly hôn với chị T1 là có căn cứ, cần chấp nhận.
Về con chung: Anh Trần Văn T và chị Võ Thị Diệu T1 trình bày vợ chồng có 01 người con chung là Trần Võ Thiên Đ, sinh ngày 21/12/2016.
Xét yêu cầu nuôi con thì thấy rằng: Hiện nay cháu Đ đang ở với chị T1, cháu Đ có nguyện vọng được tiếp tục sống với mẹ. Anh T và chị T1 đều thống nhất ý kiến giao cháu Trần Võ Thiên Đ, sinh ngày 21/12/2016 cho chị Võ Thị Diệu T1 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi cháu Đ trưởng thành (đủ 18 tuổi). Do đó, để đảm bảo điều kiện sống ổn định của cháu Đ, cần giao cháu Đ cho chị T1 tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp.
Về cấp dưỡng nuôi con chung, anh T và chị T1 đều thống nhất ý kiến là anh Trần Văn T tự nguyện cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng cho đến khi cháu Trần Võ Thiên Đ trưởng thành (đủ 18 tuổi). Do đó, cần buộc anh Trần Văn T phải cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi cháu Trần Võ Thiên Đ trưởng thành (đủ 18 tuổi) là phù hợp, đúng quy định pháp luật.
Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Anh Trần Văn T và chị Võ Thị Diệu T1 không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3] Về án phí: Anh Trần Văn T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
Áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 110, Điều 116 và Điều 117 Luật hôn nhân và gia đình. Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Trần Văn T. Anh Trần Văn T được ly hôn chị Võ Thị Diệu T1.
- Về con chung và cấp dưỡng nuôi con chung: Giao cháu Trần Võ Thiên Đ, sinh ngày 21/12/2016 cho chị Võ Thị Diệu T1 chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi cháu Đ trưởng thành (đủ 18 tuổi).
Anh Trần Văn T phải cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 2.000.000 đồng (hai triệu đồng) kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi cháu Trần Võ Thiên Đ trưởng thành (đủ 18 tuổi).
Anh Trần Văn T có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung theo quy định của pháp luật.
Kể từ ngày Bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án mà người phải thi hành án không thi hành hoặc thi hành không đầy đủ khoản tiền cấp dưỡng nuôi con hàng tháng thì người phải thi hành án còn phải trả thêm khoản tiền lãi tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành án theo quy định tại Điều 357 và Điều 468 Bộ luật Dân sự.
- Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Anh Trần Văn T và chị Võ Thị Diệu T1 không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về án phí: Buộc anh Trần Văn T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm và 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí cấp dưỡng nuôi con nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng mà anh T đã nộp theo biên lai số 0003800 ngày 02/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là thành phố H). Anh Trần Văn T phải nộp thêm số tiền án phí là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng).
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, được bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung Luật thi hành án dân sự năm 2014, thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật thi hành án dân sự và Điều 7a, 7b Luật sửa đổi, bổ sung Luật thi hành án dân sự năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
5. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; nguyên đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết/tống đạt theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Quỳnh Châu |
Bản án số 02/2025/HNGĐ-ST ngày 13/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG THỦY, THÀNH PHỐ HUẾ về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 02/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG THỦY, THÀNH PHỐ HUẾ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: - Nguyên đơn: Anh Trần Văn T, sinh năm 1993; Địa chỉ: Số F Quốc lộ A, Khu phố B, Phường E, thị xã C, tỉnh Tiền Giang, có đơn xin xét xử vắng mặt. - Bị đơn: Chị Võ Thị Diệu T1, sinh năm 1993; Địa chỉ: Thôn T, xã T, thị xã H, thành phố H, có mặt.
