Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - hạnh phúc

Bản án số: 02/2025/KDTM-ST

Ngày 12-3-2025

V/v Tranh chấp Hợp đồng tín dụng.

NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Hằng

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Bùi Thị Hà

Bà Hoàng Thị Thu Hiền

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Thao – Toà án nhân dân tỉnh Thái Bình

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dântỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa:

Ông Phạm Thanh Phong- Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 09/2024/TLST-KDTM ngày 05 tháng 9 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 28/2025/QĐXXST-KDTM ngày 18/02/2025 giữa:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần S (S1)

Địa chỉ: Số B, N, phường V, quận C, thành phố Hồ Chí Minh

Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D – Chức vụ: Tổng giám đốc

Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Nguyễn Việt B – Chức vụ: Trưởng phòng G - Ngân hàng TMCP S chi nhánh H.

2. Bị đơn:

2.1. Anh Nguyễn Xuân M, sinh năm 1982

2.2. Chị Cù Thị O, sinh năm 1981

Đều có nơi ĐKHKTT: Thôn V, xã H, huyện H, tỉnh Thái Bình.

Hiện tại anh M đang lao động tại nước ngoài.

(Ông B, bà O có mặt, vắng mặt những người tham gia tố tụng khác)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, các tài liệu chứng cứ, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Nguyễn Việt B trình bày trình bày:

Ông Nguyễn Xuân M và bà Cù Thị O có nhu cầu vay vốn phục vụ hoạt động kinh doanh. Qua xem xét và thẩm định, Ngân hàng xét thấy đủ điều kiện nên đã cho ông Nguyễn Xuân M và bà Cù Thị O vay số tiền cụ thể như sau:

Ngày 21/01/2022, giữa Ngân hàng TMCP S – Chi nhánh H – P và ông Nguyễn Xuân M và bà Cù Thị O đã ký Hợp đồng tín dụng số [...] ngày 21/01/2022 và Thoả thuận sửa đổi bổ sung HĐTD 202226514298/01 ngày 19/01/2023 với số tiền vay là 1.300.000.000 đồng (Bằng chữ: Một tỷ, ba trăm triệu đồng chẵn). Thời hạn vay: 12 tháng

Thời điểm trả hết nợ:

+ M1 vay Theo Giấy nhận nợ số: LD2321900032 ngày 07/8/2023, thời điểm trả hết nợ là ngày 07/02/2024

Lãi suất cố định 06 tháng là 10.5%/năm

Thực tế, ngày 07/08/2023 phía Ngân hàng đã giải ngân đủ tổng số tiền 800.000.000 đồng cho bên vay là ông Nguyễn Xuân M và bà Cù Thị O.

+ M1 vay Theo Giấy nhận nợ số: LD2321900191 ngày 07/08/2023, thời điểm trả hết nợ là ngày 07/02/2024.

Lãi suất cố định 06 tháng là 10.5%/năm

Thực tế, ngày 07/08/2023 phía Ngân hàng đã giải ngân đủ tổng số tiền 500.000.000 đồng cho bên vay là ông Nguyễn Xuân M và bà Cũ Thị O1.

Biện pháp bảo đảm (nếu có) số 1:

Giá trị quyền sử dụng 120,7 m² đất ở tại nông thôn, thời hạn sử dụng lâu dài, chi tiết thừa đất số 329, tờ bản đồ số 25, địa chỉ thừa đất tại thôn V, xã H, huyện H, tỉnh Thái Bình, mang tên người sử dụng đất là ông Nguyễn Xuân M và bà Cù Thị O theo như Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CC 135960 vào số cấp giấy chứng nhận số CH00354 do UBND huyện H cấp ngày 18/07/2016 và xác nhận của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện H ngày 18/04/2017.

Biện pháp bảo đảm (nếu có) số 2:

Giá trị quyền sử dụng 119,5 m² đất ở tại nông thôn, thời hạn sử dụng lâu dài, chi tiết thửa đất số 330, tờ bản đồ số 25, địa chỉ thửa đất tại thôn V, xã H, huyện H, tỉnh Thái Bình, mang tên người sử dụng đất là ông Nguyễn Xuân M và bà Cũ Thị O1 theo như Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CC 135959 vào số cấp giấy chứng nhận số CH00355 do UBND huyện H cấp ngày 18/07/2016 và xác nhận của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện H ngày 18/04/2017.

Ngoài ra ông Nguyễn Xuân M và bà Cũ Thị O1 còn được Ngân hàng TMCP S – CN Hưng Yên – PGD Phố Hiến cấp hạn mức Thẻ tín dụng cụ thể như sau:

- Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 24/01/2022 với hạn mức là 50.000.000 đồng. Dư nợ đến ngày 22/02/2024 là 21.650.489 đồng. Hiện món vay thẻ tín dụng của ông Nguyễn Xuân M cũng đã bị chuyển quá hạn nhóm 3 tại Ngân hàng.

Hai bên thỏa thuận mức lãi suất cho vay trong hạn: 26,6 %/năm (Mức lãi suất này được S1 ban hành theo quy định của Ngân hàng và tại Giấy đề nghị kiêm hợp đồng đã ký); lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn; ngoài ra hai bên còn thỏa thuận về các loại phí mà chủ thẻ phải chịu (điều 25 của Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng).Việc thỏa thuận lãi này hoàn toàn phù hợp với Luật các Tổ chức tín dụng năm 2017; Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N Quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng.

Sau khi được cấp thẻ tín dụng, ông Nguyễn Xuân M đã thực hiện các giao dịch thẻ tín dụng JCB với tổng số tiền là 45.000.000 đồng

Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay ông Nguyễn Xuân M đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 33.671.102 đồng. Thứ tự thanh toán căn cứ theo Điều 20 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng, số tiền thanh toán sẽ được ưu tiên trừ vào các khoản phí, lãi trước sau đó sẽ trừ tiếp vào các khoản giao dịch. Tổng dư nợ quá hạn là: 29.328.341 đồng (Trong đó Nợ gốc: 19.465.008 đồng; Lãi quá hạn: 9.863.333 đồng). Ngày 10/3/2024 Ngân hàng nhận được đơn đề nghị miễn giảm một phần tiền lãi của bà Cù Thị O xin thanh toán số tiền là 25.000.000 đồng, Ngân hàng đã tiến hành thanh toán số tiền đề nghị vào thẻ tín dụng quá hạn, và miễn giảm số một phần tiền lãi là 4.328.341 đồng. Đồng thời thanh lý thẻ tín dụng nêu trên, dư nợ sau khi tất toán tại thời điểm 12/3/2025 là 0 đồng.

- Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 14/06/2022 với hạn mức là: 150.000.000 đồng. Dư nợ đến ngày 22/02/2024 là: 168.130.538 đồng. Hiện món vay thẻ tín dụng của ông Nguyễn Xuân M cũng đã bị chuyển quá hạn nhóm 3 tại Ngân hàng.

Hai bên thỏa thuận mức lãi suất cho vay trong hạn: 26,6 %/năm (Mức lãi suất này được S1 ban hành theo quy định của Ngân hàng và tại Giấy đề nghị kiêm hợp đồng đã ký); lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn; ngoài ra hai bên còn thỏa thuận về các loại phí mà chủ thẻ phải chịu (điều 25 của Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của

Ngân hàng). Việc thỏa thuận lãi này hoàn toàn phù hợp với Luật các Tổ chức tín dụng năm 2017; Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N Quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng.

Sau khi được cấp thẻ tín dụng, ông Nguyễn Xuân M đã thực hiện các giao dịch thẻ tín dụng Visa Classic với tổng số tiền là 150.300.000 đồng

Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay ông Nguyễn Xuân M đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 37.340.000 đồng. Thứ tự thanh toán căn cứ theo Điều 20 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng, số tiền thanh toán sẽ được ưu tiên trừ vào các khoản phí, lãi trước sau đó sẽ trừ tiếp vào các khoản giao dịch. Cụ thể số tiền ông Nguyễn Xuân M nợ đến ngày 12/3/2025 là: 230.719.466 đồng (Trong đó Nợ gốc: 147.104.570 đồng; Lãi quá hạn: 83.614.896 đồng).

Ngân hàng đã nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng ông Nguyễn Xuân M vẫn không có thiện chí trả nợ. Do ông Nguyễn Xuân M vi phạm hợp đồng, 90 ngày không thanh toán (Điều 2 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng), ngày 15/10/2023 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ ông Nguyễn Xuân M còn thiếu tại thời điểm này số tiền là 147.104.570 đồng sang Nợ quá hạn, Ngân hàng gọi là Nợ gốc (Điều 23 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng), cụ thể số tiền lãi quá hạn (lãi suất trong hạn x 150%), ngân hàng chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn).

Số tiền lãi của ông Nguyễn Xuân M được tính cụ thể như sau:

  • - Lãi suất trong hạn = 26,6%/năm
  • - Lãi suất quá hạn = (Lãi suất trong hạn) x 150%
  • - Số tiền lãi quá hạn = (Nợ gốc quá hạn x Lãi suất quá hạn /360) x Số ngày quá hạn là 514 ngày.
  • => Số tiền lãi quá hạn = (147.104.570 đồng x 26,6%/năm x 150% /360) x 514 ngày = 83.614.896 đồng

- Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 14/06/2022 với hạn mức là 150.000.000 đồng. Dư nợ đến ngày 22/02/2024 là: 187.850.568 đồng. Hiện món vay thẻ tín dụng của bà Cù Thị O cũng đã bị chuyển quá hạn nhóm 3 tại Ngân hàng.

Hai bên thỏa thuận mức lãi suất cho vay trong hạn: 26,6 %/năm (Mức lãi suất này được S1 ban hành theo quy định của Ngân hàng và tại Giấy đề nghị kiêm hợp đồng đã ký); lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn; ngoài ra hai bên còn thỏa thuận về các loại phí mà chủ thẻ phải

chịu (điều 25 của Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Việc thỏa thuận lãi này hoàn toàn phù hợp với Luật các Tổ chức tín dụng năm 2017; Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N Quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng.

Sau khi được cấp thẻ tín dụng, bà Cù Thị O đã thực hiện các giao dịch thẻ tín dụng Visa Classic với tổng số tiền là 238.800.000 đồng

Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay bà Cù Thị O đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 126.849.000 đồng. Thứ tự thanh toán căn cứ theo Điều 20 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng, số tiền thanh toán sẽ được ưu tiên trừ vào các khoản phí, lãi trước sau đó sẽ trừ tiếp vào các khoản giao dịch. Cụ thể số tiền bà Cù Thị O nợ đến ngày 12/3/2025 là: 260.135.088 đồng (Trong đó Nợ gốc: 169.450.872 đồng; Lãi quá hạn: 90.684.216 đồng).

Ngân hàng đã nhiều lần làm việc, nhắc nhở bà Cù Thị O vẫn không có thiện chí trả nợ. Do bà Cù Thị O vi phạm hợp đồng, 90 ngày không thanh toán (Điều 2 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng), ngày 15/10/2023 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ ông Nguyễn Xuân M còn thiếu tại thời điểm này số tiền là 169.450.872 đồng sang Nợ quá hạn, Ngân hàng gọi là Nợ gốc (Điều 23 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng), cụ thể số tiền lãi quá hạn (lãi suất trong hạn x 150%), ngân hàng chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn).

Số tiền lãi của bà Cù Thị O được tính cụ thể như sau:

  • - Lãi suất trong hạn = 26,6%/năm
  • - Lãi suất quá hạn = (Lãi suất trong hạn) x 150%
  • Số tiền lãi quá hạn = (Nợ gốc quá hạn x Lãi suất quá hạn /360) x Số ngày quá hạn 483 ngày
  • => Số tiền lãi quá hạn = (169.450.872 đồng x 26,6%/năm x 150% /360) x 483 ngày = 90.684.216 đồng

Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhớ gửi thông báo cũng như thiết lập biên bản làm việc nhưng ông M và bà O vẫn không có thiện chỉ trả nợ. Do ông M và bà O vi phạm nghĩa vụ thanh toán, Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ của ông M và bà O và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn.

Mặc dù Ngân hàng đã thường xuyên đôn đốc, nhiều lần làm việc với ông Nguyễn Xuân M và bà Cù Thị O yêu cầu khách hàng có trách nhiệm thanh toán ngay khoản nợ quá hạn, đồng thời Ngân hàng cũng tạo điều kiện về mặt thời gian để khách

hàng trả nợ, tuy nhiên khách hàng vẫn chưa thanh toán khoản nợ vay quá hạn cho Ngân hàng, vi phạm các điều khoản qui định tại Hợp đồng đã ký.

Nay, Ngân hàng TMCP S (S1) khởi kiện anh Nguyễn Xuân M và chị Cù Thị O, đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xem xét, giải quyết các nội dung sau:

1/ Buộc anh Nguyễn Xuân M và chị Cù Thị O phải trả cho Ngân hàng TMCP S - Chi nhánh H – Phòng G tính đến ngày 12/3/2024 với tổng số tiền là 2.023.748.854 đồng (Bằng chữ: Hai tỷ, không trăm hai mươi ba triệu, bẩy trăm bốn mươi tám nghìn, tám trăm năm mươi bốn đồng).

Trong đó:

+ Món vay thế chấp dư nợ quá hạn đến ngày 12/3/2025 là: 1.532.894.300 đồng (Bằng chữ: Một tỷ năm trăm mười bảy triệu, năm trăm chín mưới chín nghìn, chín trăm hai mươi hai đồng) Bao gồm:

  • - Nợ gốc: 1.294.000.000 đồng
  • - Lãi quá hạn: 228.894.300 đồng

+ Món vay Thẻ tín dụng dư nợ quá hạn đến ngày 12/3/2025 là: 490.854.554 đồng (bằng chữ: Bốn trăm chín mươi triệu, tám trăm năm mươi bốn nghìn, năm trăm năm mươi bốn đồng) Bao gồm:

  • - Nợ gốc: 316.555.442 đồng
  • - Lãi quá hạn: 174.299.112 đồng

Và toàn bộ các khoản lãi, chi phí phát sinh cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng tín dụng đã ký.

2/ Buộc anh Nguyễn Xuân M và chị Cù Thị O phải có nghĩa vụ thanh toán số nợ lãi phát sinh được quy định tại Hợp đồng tín dụng và Giấy nợ đã ký với S1 cho đến thi thanh toán hết toàn bộ khoản nợ;

3/ Trường hợp Bản án/ Quyết định của Toà án có hiệu lực pháp luật mà anh M và chị O không thực hiện trả cho Ngân hàng S1 toàn bộ số tiền nợ nêu trên và các khoản lãi phát sinh thì S1 có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền kê biên, phát mại tài sản bảo đảm bao gồm:

  • - Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất cùng toàn bộ các quyền, lợi ích phát sinh từ hoặc có liên quan đến thửa đất số 329, tờ bản đồ số 25, có diện tích 120,7m², loại đất ở nông thôn, thời hạn sử dụng lâu dài tại địa chỉ thôn V, xã H, huyện H, tỉnh Thái Bình. Thửa đất đã được UBND huyện H cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CC135960 mang tên anh Nguyễn Xuân M và chị Cù Thị O ngày 18/7/2016;
  • - Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất cùng toàn bộ các quyền, lợi ích phát sinh từ hoặc có liên quan đến thửa đất số 330, tờ bản đồ số 25, có diện tích 119,5m2, loại đất ở, có địa chỉ tại: thôn V, xã H, huyện H, tỉnh Thái Bình. Thửa đất đã được UBND huyện H cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CC135959 mang tên anh Nguyễn Xuân M và chị Cù Thị O ngày 18/7/2016;

4/ Trong trường hợp số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ thì anh M và chị O vẫn phải tiếp tục thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ gốc và nợ lãi phát sinh cho S1 theo Hợp đồng tín dụng và Giấy nợ đã ký;

5/ Anh M2 và chị O phải chịu mọi chi phí tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án.

Bị đơn là chị Cù Thị O trình bày:

Chị và anh Nguyễn Xuân M là vợ chồng. Do nhu cầu cần vốn để kinh doanh nên năm 2023 vợ chồng chị đã vay 3 thẻ tín dụng của Ngân hàng TMCP S chi nhánh H – phòng G tiền để làm vốn kinh doanh (trong đó có 2 thẻ mang tên anh Nguyễn Xuân M và một thẻ mang tên chị Cù Thị O) với tổng số tiền vay của 3 chiếc thẻ là 350.000.000 đồng (Ba trăm năm mươi triệu đồng chẵn) và món vay thế chấp là 1.300.000.000 đồng (Một tỷ ba trăm triệu đồng chẵn). Chị O thế chấp 2 thửa đất mang tên vợ chồng anh chị đúng như Ngân hàng đã trình bày. Số tiền mà vợ chồng anh chị vay ngân hàng S1 chi nhánh H thời gian đầu anh chị vẫn đóng lãi đầu đủ nhưng thời gian sau do Về quá trình thực hiện Hợp đồng tín dụng đúng như Ngân hàng đã trình bày, thời gian đầu anh chị vẫn đóng lãi đầy đủ, tuy nhiên việc vi phạm nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi tại Hợp đồng tín dụng nêu trên là do kinh tế thị trường nên vợ chồng anh chị đã làm ăn thua lỗ và không hoàn trả được gốc và lãi theo hợp hợp đồng đã ký kết cho ngân hàng và số tiền vợ chồng anh chị vay đã chuyển sang nợ quá hạn. Cho đến thời điểm hiện tại, chị O đã trả ngân hàng được 31.000.000 đồng (Ba mươi mốt triệu đồng chẵn) tiền gốc. Hiện tại, vợ chồng anh chị chưa có khả năng hoàn trả số tiền đã vay của ngân hàng S1 chi nhánh H.

Đối với các yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng, chị đề nghị Tòa án và Ngân Hàng G1 cho chị trong vòng 3 đến 4 năm vợ chồng anh chị sẽ hoàn tất số tiền gốc mà vợ chồng anh chị đã vay bên ngân hàng, còn số tiền lãi do điều kiện khó khăn nên chị xin miễn giảm. Hiện nay Anh M2 do làm ăn thua lỗ, không có vốn để duy trì công việc ở Việt Nam nên đã đi xuất khẩu lao động ở nước ngoài, vẫn thường xuyên liên lạc về nhà hàng ngày. Anh M2 biết Tòa án đang thụ lý, giải quyết vụ án, nhưng

anh M2 bận công việc không thể về Tòa án tham gia tố tụng nên đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.

Quá trình giải quyết vụ án, anh Nguyễn Xuân M vắng mặt, không có ý kiến trình bày.

Tại phiên tòa, các đương sự không thỏa thuận được về việc giải quyết vụ án.

Theo kết quả thẩm định và định giá tài sản:

  • + Giá trị quyền sử dụng đất thửa số 329, tờ bản đồ số 25, có diện tích 120,7m²: 6.000.000 đồng/1m² x 120,7m² = 724.200.000 đồng
  • + Giá trị quyền sử dụng đất thửa số 330, tờ bản đồ số 25, có diện tích 119,5m² = 6.000.000 đồng/1m² x 119,5m² = 717.000.000 đồng
  • + Giá trị nhà mái tôn 01 tầng tường xây gạch sau khấu hao: 379.002.761 đồng
  • + Giá trị gác xếp sau khấu hao: 973.934 đồng
  • + Giá trị mái tôn sau khấu hao: 39.738.611 đồng
  • + Phần tường bao xây gạch sau khấu hao: 3.210.278 đồng
  • + Phần dậu theo sau khấu hao: 13.390.503 đồng
  • + Cửa thép sau khấu hao: 21.451.383 đồng
  • + Nề bê tông sau khấu hao: 6.994.423 đồng

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến tại phiên tòa về giải quyết vụ án:

- Việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng từ thủ tục thụ lý vụ án, thu thập tài liệu chứng cứ; mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; mở phiên tòa và xét xử tại phiên tòa. Những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung vụ án:

+ Đối với khoản vay thẻ tín dụng: Ngân hàng khởi kiện yêu cầu anh M, chị O phải trả số tiền là 490.854.554 đồng trong đó nợ gốc: 316.555.442 đồng và lãi quá hạn: 174.299.112 đồng. Ngân hàng yêu cầu trả lãi quá hạn trên số dư nợ gốc quá hạn và cộng cả phí, lãi quá hạn vào gốc quá hạn để tính lãi suất quá hạn đối với toàn bộ dư nợ gốc, lãi trong hạn quá hạn nhập gốc và phí là không chính xác, ảnh hưởng đến quyền lợi của bị đơn. Không tuân thủ theo quy định khoản 5 Điều 466 Bộ luật Dân sự; khoản 2 Điều 8 của Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng

một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận cách tính lãi suất quá hạn này của nguyên đơn.

+ Đối với khoản vay thế chấp dư nợ quá hạn tính đến ngày 12/3/2025 là 1.532.894.300 đồng (Bằng chữ: Một tỷ, năm trăm ba mươi hai triệu, tám trăm chín mươi tư nghìn ba trăm đồng). Bao gồm: Nợ gốc: 1.294.000.000 đồng; Lãi quá hạn: 228.894.300 đồng là có căn cứ đề nghị Hội đồng xét xử TAND tỉnh Thái Bình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Trường hợp ông M, bà O không trả được nợ thì Ngân hàng được quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý, phát mãi tài sản bảo đảm để thu hồi nợ cho Ngân hàng theo Hợp đồng thế chấp tài sản số 369; 370 ngày 21/01/2022 đối với 02 thửa đất số 329, 330; tờ bản đồ số 25 có địa chỉ tại thôn V, xã H, huyện H, tỉnh Thái Bình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được kiểm tra, xem xét tại phiên tòa, kết quả việc tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của kiểm sát viên, Hội đồng xét xử sơ thẩm thấy:

[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Đây là vụ án tranh chấp Hợp đồng tín dụng có bị đơn đang lao động tại nước ngoài nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình.

[2] Sự có mặt, vắng mặt của các đương sự: Tại phiên tòa ngày 12/3/2025, có mặt người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, có mặt bị đơn là bà Cù Thị O, anh M đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt những người này là đúng quy định pháp luật.

[3] Về nội dung:

[3.1] Xét hình thức và nội dung của Hợp đồng tín dụng số [...] ngày 21/01/2022; Thoả thuận sửa đổi bổ sung HĐTD 202226514298/01 ngày 19/01/2023 và Hợp đồng thế chấp số 369 ngày 21/01/2022:

Ngày 21/01/2022, anh Nguyễn Xuân M và chị Cù Thị O đã ký Hợp đồng tín dụng vay vốn tại TMCP S – Chi nhánh H – PGD Phố Hiến theo hợp đồng tín dụng số Hợp đồng tín dụng số [...] ngày 21/01/2022 và Thoả thuận sửa đổi bổ sung HĐTD 202226514298/01 ngày 19/01/2023 với số tiền vay là 1.300.000.000 đồng (Bằng chữ: Một tỷ, ba trăm triệu đồng chẵn). Thời hạn vay: 12 tháng; lãi suất cố định tại thời điểm giải ngân trong hạn là 10.5%/năm; Lãi suất phạt nợ gốc quá hạn: bằng 50% lãi suất cho vay trong hạn. Để đảm bảo cho

khoản vay trên, anh M và chị O đã thế chấp quyền sử dụng đất theo Hợp đồng thế chấp là Giá trị quyền sử dụng 120,7 m2 đất ở tại nông thôn, thời hạn sử dụng lâu dài, chi tiết thừa đất số 329, tờ bản đồ số 25, địa chỉ thừa đất tại thôn V, xã H, huyện H, tỉnh Thái Bình, mang tên người sử dụng đất là ông Nguyễn Xuân M và bà Cù Thị O theo như Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CC 135960 vào số cấp giấy chứng nhận số CH00354 do UBND huyện H cấp ngày 18/07/2016 và xác nhận của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện H ngày 18/04/2017 và Giá trị quyền sử dụng 119,5 m2 đất ở tại nông thôn, thời hạn sử dụng lâu dài, chi tiết thửa đất số 330, tờ bản đồ số 25, địa chỉ thửa đất tại thôn V, xã H, huyện H, tỉnh Thái Bình, mang tên người sử dụng đất là ông Nguyễn Xuân M và bà Cũ Thị O1 theo như Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CC 135959 vào số cấp giấy chứng nhận số CH00355 do UBND huyện H cấp ngày 18/07/2016 và xác nhận của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện H ngày 18/04/2017. Khi ký Hợp đồng, anh M và chị O1 đã đọc và ký vào từng trang của Hợp đồng. Hội đồng xét xử thấy về hình thức của Hợp đồng nêu trên là đúng quy định tại các điều 117, 118, 119, 463, 468 Bộ luật dân sự năm 2015 và Điều 91 Luật tổ chức tín dụng. Hợp đồng thế chấp đã được chứng thực, tài sản đã được đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định pháp luật. Hợp đồng tín dụng đã giao kết giữa hai bên được thực hiện về hình thức và nội dung theo đúng quy định tại các Điều 292, 295, 298, 317, 318, 319 320, 322 Bộ luật dân sự năm 2015 nên cả hai hợp đồng đều hợp pháp, vì vậy các bên có quyền và nghĩa vụ theo thỏa thuận của hợp đồng.

[3.2]. Về việc thực hiện hợp đồng: Thời gian đầu thực hiện hợp đồng, anh M và chị O1 đã thực hiện việc trả gốc, lãi theo đúng hợp đồng đã ký kết. Thời gian sau do kinh tế thị trường nên vợ chồng anh chị đã làm ăn thua lỗ và không hoàn trả được gốc và lãi theo hợp hợp đồng đã ký kết cho ngân hàng dẫn đến vi phạm các điều khoản trong hợp đồng tín dụng đã ký. Các tài liệu chứng cứ do Ngân hàng cung cấp thể hiện anh M, chị O1 và Ngân hàng đã có nhiều buổi làm việc và cam kết trả nợ gốc và lãi thể hiện tại những buổi làm việc các ngày 05/5/2023; 02/6/2023; 31/7/2023; 05/7/2023; 05/10/2023; thể hiện chị O1 đã cam kết “Hôm nay ngày 05/5/2023 tôi đã nhận thông báo, tôi hẹn chiều nay trước 15h tôi sẽ TT món vay”. Vì vậy cần căn cứ điểm Điều 10 của Hợp đồng tín dụng số [...] ngày 21/01/2022 để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Ngân hàng yêu cầu anh Nguyễn Xuân M và chị Cù Thị O phải trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần S – Chi nhánh H – Phòng G phải trả số tiền thế chấp là 1.532.894.300 đồng là có căn cứ chấp nhận.

[3.3] Về khoản vay thẻ tín dụng của anh M và chị O:

Ngày 24/01/2022 anh M ký giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng với hạn mức là 50.000.000 đồng. Dư nợ đến ngày 22/02/2024 là 21.650.489 đồng. Tuy nhiên ngân hàng nhận được đơn đề nghị miễn giảm một phần tiền lãi của chị Cù Thị O xin thanh toán số tiền là 25.000.000 đồng, Ngân hàng đã tiến hành thanh toán số tiền đề nghị vào thẻ tín dụng quá hạn, và miễn giảm số một phần tiền lãi là 4.328.341 đồng. Đồng thời thanh lý thẻ tín dụng nêu trên, dư nợ sau khi tất toán tại thời điểm 12/03/2025 là 0 đồng.

Ngày 14/6/2022 anh M ký giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng với hạn mức là: 150.000.000 đồng. Dư nợ đến ngày 22/02/2024 là: 168.130.538 đồng.

Ngày 14/6/2022 chị O ký giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng với hạn mức là 150.000.000 đồng. Dư nợ đến ngày 22/02/2024 là: 187.850.568 đồng.

Căn cứ các Giấy đề nghị trên, Ngân hàng đã phát hành thẻ tín dụng cho anh M và chị O. Xét thấy đề nghị phát hành thẻ tín dụng của anh M, chị O và Ngân hàng là thoả thuận tự nguyện, nội dung và hình thức phù hợp với quy định tại Điều 100, Điều 103 Luật các tổ chức tín dụng; Điều 116, Điều 117 Bộ luật dân sự nên có giá trị pháp lý làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia giao kết hợp đồng.

Quá trình sử dụng thẻ tín dụng trên, anh M và chị O đã sử dụng hết hạn mức thẻ và đã phát sinh nợ quá hạn từ kỳ thanh toán ngày 22/02/2024 nhưng sau đó không thanh toán sao kê nhiều kỳ cho Ngân hàng. Ngân hàng đã nhiều lần thông báo bằng văn bản cho anh M và chị O yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trả nợ phát sinh theo thẻ tín dụng nhưng anh M và chị O không thực hiện là vi phạm nghĩa vụ theo hợp đồng.

Việc thoả thuận về lãi suất cho vay giữa anh M, chị O và Ngân hàng, HĐXX thấy rằng: Theo cách tính của Ngân hàng thì tổng 3 món vay thẻ tín dụng của anh Nguyễn Xuân M và chị Cù Thị O nợ quá hạn tính đến ngày 12/3/2025 là 490.854.554 bao gồm: Nợ gốc: 316.555.442 đồng và lãi quá hạn: 174.299.112 đồng. Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông M, bà O phải trả số tiền lãi quá hạn trên số dư nợ gốc quá hạn và cộng cả phí, lãi quá hạn vào gốc quá hạn để tính lãi suất quá hạn đối với toàn bộ dư nợ gốc, lãi trong hạn quá hạn nhập gốc và phí là không chính xác, ảnh hưởng đến quyền lợi của bị đơn. Không tuân thủ theo quy định

khoản 5 Điều 466 Bộ luật Dân sự; khoản 2 Điều 8 của Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm. Vì vậy cần xác định lại số tiền lãi quá hạn mà chị O và anh M phải trả đối với khoản vay thẻ tín dụng như sau: Món vay Thẻ tín dụng dư nợ quá hạn đến ngày 12/3/2025 là: 482.855.714 đồng bao gồm: nợ gốc là 316.555.442 đồng và lãi quá hạn là: 166.300.272 đồng

[3.3] Xét yêu cầu của nguyên đơn trong trường hợp anh M và chị O không thực hiện trả cho Ngân hàng S1 toàn bộ số tiền nợ nêu trên và các khoản lãi phát sinh thì S1 có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền kê biên, phát mại tài sản bảo đảm để thu hồi nợ cho Ngân hàng đối với Thửa đất số 329, tờ bản đồ số 25, có diện tích 120,7m², loại đất ở nông thôn, thời hạn sử dụng lâu dài tại địa chỉ thôn V, xã H, huyện H, tỉnh Thái Bình và Thửa 330, tờ bản đồ số 25, có diện tích 119,5m², loại đất ở, có địa chỉ tại: thôn V, xã H, huyện H, tỉnh Thái Bình. Trường hợp số tiền thu được từ việc xử lý tài sản thế chấp sau khi trừ đi các chi phí xử lý tài sản, các khoản phải nộp cho Nhà nước (nếu có) không đủ thu nợ cho Ngân hàng TMCP S thì anh Nguyễn Xuân M và chị Cù Thị O vẫn có trách nhiệm trả nợ cho đến khi hoàn thành nghĩa vụ theo bản án/quyết định của Tòa án.

Tại điểm d khoản 1 Điều 1 của Hợp đồng thế chấp quy định: “Nghĩa vụ được bảo đảm theo hợp đồng này còn bao gồm nghĩa vụ thanh toán, hoàn trả của bên được cấp tín dụng trong trường hợp Hợp đồng tín dụng bị huỷ bỏ, chấm dứt, vô hiệu”. Do hợp đồng thế chấp là hợp pháp nên yêu cầu này của nguyên đơn có căn cứ chấp nhận.

[4] Từ những phân tích trên Hội đồng xét xử thấy có căn cứ chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn.

[5] Về chi phí tố tụng: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên nguyên đơn không phải chịu chi phí tố tụng. Buộc bị đơn phải thanh toán cho Ngân hàng C toàn bộ chi phí thẩm định tại chỗ và định giá tài sản là 11.000.000 đồng.

[6] Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Bùi Xuân M3 và chị Cù Thị O phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Trả lại Ngân hàng TMCP S 34.900.000 đồng tại biên lai 0003943 ngày 28/10/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.

[7] Về Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng các điều 117;118; 119; khoản 1 điều 319; 320; 322; 323; 429; 468 Bộ luật dân sự năm 2015; các điều 26; khoản 1 Điều 37; 147; 203; 271; 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điều 100, điều 105 Luật các tổ chức tín dụng; các điều 24; 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Điều 30 Luật thi hành án dân sự:

Tuyên xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

1. Buộc anh Nguyễn Xuân M và chị Cù Thị O phải trả cho Ngân hàng TMCP S - Chi nhánh H – Phòng G tính đến ngày 12/3/2024 với tổng số tiền là 2.015.748.854 đồng (Bằng chữ: Hai tỷ, không trăm mười lăm triệu, bảy trăm bốn mươi tám nghìn, tám trăm năm mươi tư đồng).

Trong đó:

+ Món vay thế chấp dư nợ quá hạn đến ngày 12/3/2025 là: 1.517.599.922 đồng (Bằng chữ: Một tỷ năm trăm mười bẩy triệu, năm trăm chín mưới chín nghìn, chín trăm hai mươi hai đồng)

Bao gồm:

  • - Nợ gốc: 1.294.000.000 đồng
  • - Lãi quá hạn: 223.259.944 đồng

+ Món vay Thẻ tín dụng dư nợ quá hạn đến ngày 12/3/2025 là: 482.854.554 đồng (bằng chữ: Bốn trăm tám mươi hai triệu, tám trăm năm mươi tư nghìn, năm trăm năm mươi tư đồng)

Bao gồm:

  • - Nợ gốc: 316.555.442 đồng
  • - Lãi quá hạn: 166.300.272 đồng

Và toàn bộ các khoản lãi, chi phí phát sinh cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng tín dụng đã ký.

2. Khi bản án có hiệu lực pháp luật, trường hợp chị anh Nguyễn Xuân M và chị Cù Thị O không thực hiện được nghĩa vụ trả nợ theo Hợp đồng tín dụng số [...] ngày 21/01/2022 và Thoả thuận sửa đổi bổ sung HĐTD 202226514298/01 ngày 19/01/2023 và Giấy nợ đã ký thì Ngân hàng S – Chi nhánh H – Phòng G có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền thi hành án tiến hành kê biên, bán các tài sản bảo đảm gồm:

  • - Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất cùng toàn bộ các quyền, lợi ích phát sinh từ hoặc có liên quan đến thửa đất số 329, tờ bản đồ số 25, có diện tích 120,7m2, loại đất ở nông thôn, thời hạn sử dụng lâu dài tại địa chỉ thôn V, xã H, huyện H, tỉnh Thái Bình. Thửa đất đã được UBND huyện H cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CC135960 mang tên anh Nguyễn Xuân M và chị Cù Thị O ngày 18/7/2016;
  • - Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất cùng toàn bộ các quyền, lợi ích phát sinh từ hoặc có liên quan đến thửa đất số 330, tờ bản đồ số 25, có diện tích 119,5m2, loại đất ở, có địa chỉ tại: thôn V, xã H, huyện H, tỉnh Thái Bình. Thửa đất đã được UBND huyện H cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CC135959 mang tên anh Nguyễn Xuân M và chị Cù Thị O ngày 18/7/2016 để thu hồi nợ.

3.Trong trường hợp số tiền thu được từ việc xử lý tài sản thế chấp sau khi trừ đi các chi phí xử lý tài sản, các khoản phải nộp cho Nhà nước (nếu có) không đủ thu nợ cho Ngân hàng S1 thì anh Nguyễn Xuân M và chị Cù Thị O vẫn có trách nhiệm trả nợ cho đến khi hoàn thành nghĩa vụ kể từ sau ngày tuyên án sơ thẩm đối với khoản nợ cho đến khi thanh toán xong, theo mức lãi suất thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng.

Trong trường hợp số tiền thu được từ việc xử lý tài sản thế chấp sau khi trừ đi các chi phí xử lý tài sản, các khoản phải nộp cho Nhà nước (nếu có), trả nợ cho Ngân hàng còn thừa thì Ngân hàng phải trả lại cho anh Nguyễn Xuân M và chị Cù Thị O.

4. Về chi phí tố tụng: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên nguyên đơn không phải chịu chi phí tố tụng. Buộc chị anh M và chị O phải thanh toán cho Ngân hàng S1 toàn bộ chi phí thẩm định tại chỗ và định giá tài sản là 11.000.000 đồng (do Ngân hàng đã nộp tạm ứng chi phí tố tụng này cho Tòa án).

5. Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm: Anh Nguyễn Xuân M và chị Cù Thị O phải chịu 72.314.000 đồng án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm, trong đó mỗi người phải chịu 36.157.000 đồng án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm. Trả lại cho Ngân hàng S1 34.900.000 đồng đồng tiền tạm ứng án phí tại biên lai số 0003943 ngày 28/10/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.

6. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, chị O có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 12/3/2025. Anh Nguyễn Xuân M có quyền kháng cáo trong hạn 01 tháng kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án sơ thẩm./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Thái Bình
  • - Cục THADS tỉnh Thái Bình;
  • - Các đương sự;
  • - UBND xã Hoà Tiến, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình;
  • - Lưu hồ sơ;
  • -Lưu HCTP

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Kim Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 02/2025/KDTM-ST ngày 12/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 02/2025/KDTM-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/03/2025
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận KC
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger