TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 02/2025/HNGĐ-PT
Ngày 04-3-2025
V/v ly hôn, tranh chấp chia tài sản
khi ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: | Ông Nguyễn Xuân Tuyến |
| Các Thẩm phán: | Bà Nguyễn Thị Bích Thủy |
| Bà Ngô Thị Thùy Linh |
- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Thu Huệ - Thư ký của Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Trịnh Văn Thảo - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 01/2025/TLPT-HNGĐ ngày 06 tháng 01 năm 2025 về việc “ly hôn, tranh chấp chia tài sản khi ly hôn”. Do Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 146/2024/HNGĐ-ST ngày 14 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên (nay là Tòa án nhân dân thành phố Thủy Nguyên), thành phố Hải Phòng bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 02/2025/QĐ-PT ngày 21 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1965, nơi cư trú: Thôn T, xã A, huyện T (nay là Tổ dân phố T, phường A, thành phố T), thành phố Hải Phòng; có mặt.
- Bị đơn: Bà Trần Thị T1, sinh năm 1966, nơi cư trú: Thôn T, xã A, huyện T (nay là Tổ dân phố T, phường A, thành phố T), thành phố Hải Phòng; có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Ông Lã Viết N và bà Hoàng Minh P - Luật sư của Công ty L, thuộc Đoàn Luật sư thành phố H; có mặt.
- Người kháng cáo: Bà Trần Thị T1 là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Bản án sơ thẩm và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, nguyên đơn ông Nguyễn Văn T trình bày:
- Về hôn nhân: Ông Nguyễn Văn T và bà Trần Thị T1 kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện T, thành phố Hải Phòng theo Giấy chứng nhận kết hôn số 92 ngày 21/3/1992. Sau khi cưới, vợ chồng sinh sống tại xã A, huyện T, thành phố Hải Phòng. Quá trình chung sống, vợ chồng hoà thuận, hạnh phúc đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm trong cuộc sống nên thường xảy ra cãi nhau. Mặc dù gia đình hai bên và bạn bè đã hòa giải đoàn tụ nhiều lần nhưng không thành. Do mâu thuẫn căng thẳng nên vợ chồng đã ly thân từ năm 2022. Nay ông Nguyễn Văn T xác định tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không có hạnh phúc, mâu thuẫn vợ chồng đã kéo dài và trầm trọng, vợ chồng không còn khả năng đoàn tụ nên ông đề nghị Tòa án giải quyết cho được ly hôn với bà Trần Thị T1.
- Về con chung: Ông Nguyễn Văn T và bà Trần Thị T1 có 02 con chung tên là Nguyễn Trung K sinh ngày 28/12/1989, Nguyễn Thị Việt C sinh ngày 14/11/1991. Do các con chung đều đã thành niên, nên ông T không yêu cầu Tòa án giải quyết về trách nhiệm nuôi dưỡng con chung cho ông và bà T1.
- Về tài sản chung: Ông Nguyễn Văn T không yêu cầu Tòa án giải giải quyết về tài sản chung và nợ chung.
Bị đơn, bà Trần Thị T1 trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị T1 thống nhất lời khai với ông T về điều kiện kết hôn, quá trình chung sống giữa bà và ông T. Bà T1 xác định mẫu thuẫn giữa bà và ông T đã kéo dài nhiều năm. Do ông T đuổi, đánh nên bà đã phải đến ở cùng với người thân từ năm 2022. Đối với yêu cầu xin ly hôn của ông T, bà T1 có quan điểm chỉ đồng ý ly hôn khi giữa bà và ông T đã giải quyết xong về tài sản chung và nợ chung.
- Về con chung: Bà Trần Thị T1 thống nhất lời khai với ông T về việc bà và ông T có 02 con chung là Nguyễn Trung K sinh ngày 28/12/1989, Nguyễn Thị Việt C sinh ngày 14/11/1991. Bà Trần Thị T1 thống nhất quan điểm với ông T về việc không yêu cầu Tòa án giải quyết về trách nhiệm nuôi dưỡng con chung trong trường hợp Tòa án chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông T do các con chung đều đã trưởng thành.
- Về tài sản chung: Sau khi thụ lý vụ án, bà Trần Thị T1 có đơn yêu cầu phân chia tài sản chung gồm: 01 căn nhà 03 tầng nằm trên diện tích đất 100m² tại thôn A, xã A, huyện T có trị giá 10 tỷ đồng; 01 xe đạp mini trị giá 800 nghìn đồng; 01 xe máy Airblade BKS 16G1-620.89 trị giá 30 triệu đồng; 01 xe chở hàng BKS 16M4-2443 trị giá 10 triệu đồng; đồ điện gia dụng trong gia đình trị giá khoảng 80 triệu đồng; 03 đá phong thủy trị giá 200 triệu đồng; 01 giàn hoa lan trị giá 01 tỷ đồng; 02 bức tranh trị giá 20 triệu đồng; 01 bộ bàn ghế sofa, 01 bộ bàn ghế ăn có tổng trị giá 150 triệu đồng; 01 bộ sưu tập hũ rượu trị giá 50 triệu đồng và 02 cửa hàng bán cây cảnh gồm nhiều cây cảnh có trị giá 01 tỷ đồng và lợi nhuận trung bình của 02 cửa hàng là 40 triệu đồng/tháng. Ngoài yêu cầu phân chia tài sản chung, bà T1 yêu cầu Tòa án phân chia trách nhiệm trả nợ chung của bà và ông T1, gồm: Khoản nợ 01 tỷ đồng vay ngân hàng bằng việc thế chấp sổ đỏ của hai vợ chồng tại xã A, huyện T; khoản vay 300 triệu đồng vay ngân hàng bằng việc mượn sổ đỏ của ông Nguyễn Huy B và bà Trần Thị M có địa chỉ tại xã T, huyện T thuộc thửa đất số 1016, tờ bản đồ số 02 có diện tích 270m²; khoản vay 700 triệu đồng của ngân hàng thế chấp bằng việc mượn sổ đỏ của ông Trần Văn T2 và bà Nguyễn Thị P1 có địa chỉ tại xóm C, xã A, huyện T thuộc thửa đất số 1569, tờ bản đồ số 2, diện tích 149,6m².
Tại Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 146/2024/HNGĐ-ST ngày 14 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên (nay là Tòa án nhân dân thành phố Thủy Nguyên), thành phố Hải Phòng đã quyết định:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 92, Điều 147, điểm g khoản 1 Điều 217, điểm c khoản 1 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 51, Điều 56, Điều 33, Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; Xử:
- Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa ông Nguyễn Văn T và bà Trần Thị T1.
- Về con chung: Ông Nguyễn Văn T và bà Trần Thị T1 có 02 con chung tên là Nguyễn Trung K sinh ngày 28/12/1989, Nguyễn Thị Việt C sinh ngày 14/11/1991. Hiện 02 con đã thành niên, khỏe mạnh và có khả năng lao động nuôi bản thân nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
- Về tài sản chung:
- Đình chỉ giải quyết phần chia tài sản khi ly hôn là 100 m² đất ở tại thửa đất số 1560, tờ bản đồ số 01 trên đất có nhà 03 tầng, đã được UBND huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số D 0881207 ngày 15/10/1994 do đã được giải quyết bằng Bản án dân sự phúc thẩm số 36/2012/DS-PT ngày 24/10/2012 của Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.
- Ông Nguyễn Văn T được quyền sở hữu các tài sản trị giá là 44.000.000 đồng là 01 bộ bàn ghế Shopha, 02 ti vi Sony, 01 bộ loa Bose, 01 bộ đầu đĩa Karaoke, 04 chum to, 01 bộ bàn ghế gụ, 02 đôn gỗ, 01 bàn để cổ vật, 01 đèn chùm, 01 bàn để đồ, 01 bàn kính.
- Bà Trần Thị T1 được quyền sở hữu các tài sản trị giá là 44.000.000 đồng là 05 điều hoà Panasonic, 01 tủ lạnh Toshiba, 04 quạt Misumishi, 01 máy giặt, 04 máy nước nóng, 02 con nghê.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 21/8/2024, bà Trần Thị T1 kháng cáo, không đồng ý với quyết định của bản án sơ thẩm và đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét lại toàn bộ bản án sơ thẩm.
Tại phiên toà phúc thẩm, nguyên đơn ông Nguyễn Văn T vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện về việc xin ly hôn. Bị đơn, người kháng cáo vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo. Các đương sự không thống nhất được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tại phiên tòa phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cho đến phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm, Thư ký đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đương sự đã được thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung kháng cáo: Sau khi phân tích tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có ý kiến thể hiện: Cấp sơ thẩm có nhiều vi phạm về tố tụng và sai sót về nội dung giải quyết về phần tài sản. Những sai sót của cấp sơ thẩm đã gây ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của các đương sự và Tòa án cấp phúc thẩm không thể khắc phục được. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 148, khoản 3 Điều 308, Điều 310 của Bộ luật Tố tụng dân sự hủy phần giải quyết tài sản chung của Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 146/2024/HNGĐ-ST ngày 14/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về tố tụng:
- [1] Về thẩm quyền: Nguyên đơn ông Nguyễn Văn T khởi kiện yêu cầu được ly hôn với bà Trần Thị T1, cả ông T và bà T1 đều cư trú tại huyện T, thành phố Hải Phòng, nên Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên thụ lý, giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm là đúng thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- [2] Về thời hạn và thủ tục kháng cáo: Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 21/8/2024, bà Trần Thị T1 kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm. Đơn kháng cáo của bà T1 đảm bảo đúng quy định tại các điều 272, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
- [3] Về thụ lý yêu cầu chia tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Sau khi Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý vụ án, ngày 11/11/2022 bị đơn bà Trần Thị T1 có đơn yêu cầu chia tài sản chung đề nghị Tòa án phân chia tài sản chung và khoản nợ chung giữa bà và ông T. Ngày 15/11/2022, Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên thụ lý yêu cầu chia tài sản chung theo đơn yêu cầu của bà T1. Về thủ tục tố tụng, việc Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý yêu cầu chia tài sản chung khi ly hôn là đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, tuy nhiên trước khi thụ lý yêu cầu phân chia nghĩa vụ về tài sản, Tòa án cấp sơ thẩm chưa làm rõ các khoản nợ mà bà T1 yêu cầu phân chia trách nhiệm trả nợ chung là các khoản vay của ngân hàng nào. Mặt khác, đối với việc phân chia nghĩa vụ về tài sản thì chỉ thụ lý, giải quyết khi người có quyền về tài sản có yêu cầu. Tòa án cấp sơ thẩm chưa làm rõ việc các bên cho vay có yêu cầu giải quyết khoản nợ chung (nếu có). Như vậy, Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý yêu cầu phân chia nghĩa vụ về tài sản của bà T1 là chưa đủ căn cứ.
- [4] Về giải quyết yêu cầu chia tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Theo Thông báo thụ lý yêu cầu chia tài sản chung, Tòa án cấp sơ thẩm đã thụ lý yêu cầu chia tài sản chung của bà T1 gồm: 01 căn nhà 03 tầng nằm trên diện tích đất 100m² tại thôn A, xã A, thành phố T có trị giá 10 tỷ đồng; 01 xe đạp mini trị giá 800 nghìn đồng; 01 xe máy Airblaide BKS 16G1-620.89 trị giá 30 triệu đồng; 01 xe chở hàng BKS 16M4-2443 trị giá 10 triệu đồng; đồ điện gia dụng trong gia đình trị giá khoảng 80 triệu đồng; 03 đá phong thủy trị giá 200 triệu đồng; 01 giàn hoa lan trị giá 01 tỷ đồng; 02 bức tranh trị giá 20 triệu đồng; 01 bộ bàn ghế sofa, 01 bộ bàn ghế ăn có tổng trị giá 150 triệu đồng; 01 bộ sưu tập hũ rượu trị giá 50 triệu đồng và 02 cửa hàng bán cây cảnh gồm nhiều cây cảnh có trị giá 01 tỷ đồng và lợi nhuận trung bình của 02 cửa hàng là 40 triệu đồng/tháng. Theo quy định chung của Bộ luật Tố tụng dân sự thì những yêu cầu mà Tòa án đã thụ lý đều phải được giải quyết đầy đủ hết các yêu cầu. Tại bản án sơ thẩm mới chỉ xem xét giải quyết một phần đối với các tài sản mà bà T1 yêu cầu phân chia và đã được Tòa án chấp nhận xem xét thông qua việc thụ lý yêu cầu, còn một số tài sản chưa được xem xét, giải quyết gồm: 01 xe đạp mini; 01 xe máy Airblade BKS 16G1-620.89; 01 xe chở hàng BKS 16M4-2443; 03 đá phong thủy; 01 giàn hoa lan; 02 bức tranh; 01 bộ sưu tập hũ rượu; 02 cửa hàng bán cây cảnh và khoản lợi nhuận thu được từ việc kinh doanh 02 của hàng hàng bán cây cảnh. Đối với yêu cầu trả các khoản nợ chung, Tòa án cấp sơ thẩm đã thụ lý cũng chưa được xem xét giải quyết. Như vậy, Tòa án cấp sơ thẩm đã giải quyết chưa hết các yêu cầu của đương sự. Tại phiên tòa phúc thẩm, bà T1 yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết đối với các yêu cầu của bà chưa được cấp sơ thẩm xem xét, giải quyết. Xét, Tòa án cấp phúc thẩm không có thẩm quyền giải quyết yêu cầu trên của bà T1 do vụ án được đang giải quyết theo thủ tục phúc thẩm nên chỉ giải quyết những nội dung đã được cấp sơ thẩm giải quyết.
- [5] Về người tham gia tố tụng: Ngoài việc Tòa án cấp sơ thẩm đã thụ lý yêu cầu phân chia nghĩa vụ về tài sản của bà T1, quá trình giải quyết vụ án, ông Nguyễn Văn T có giao nộp văn bản cho Tòa án thể hiện nội dung: Trong thời kỳ hôn nhân giữa ông và bà T1, vợ chồng ông còn vay nợ một số người và hiện chưa trả được khoản nợ, cụ thể: Vay của vợ chồng ông Trịnh Trọng G ở P, Đ, H số tiền 650.000.000đ; vay của vợ chồng anh N (con ông G) ở P, Đông H 960.000.000đ; vay anh D là người Hoa gốc Việt ở Đ, Trung Quốc 30.000.000 NTD tương đương 1.500.000.000đ; vay của anh Đ ở T, Kênh V, Bắc Ninh 630.000.000₫; vay của anh Lê Công T3 ở H, Q 610.000.000đ; vay của anh Tạ Quang T4 ở H, Quảng Ninh 210.000.000đ; vay của anh T5 ở Cửa Ông 1.100.000.000đ và vay của anh T6 ở H, Quảng Ninh 180.000.000đ. Mặt khác, tại các phiên hòa giải ngày 28/11/2023 và 09/4/2024, các đương sự đều nêu về khoản vay của ông Trần Văn T2 và và Nguyễn Thị P1. Tuy nhiên, cấp sơ thẩm không xem xét đối với các khoản nợ chung mà đương sự nêu ra. Trong trường hợp này, Tòa án phải xác định vợ chồng ông T, bà T1 có quyền, nghĩa vụ với người thứ ba hay không để đưa người thứ ba vào tham gia với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Trường hợp người thứ ba có yêu cầu giải quyết các khoản nợ thì Tòa án phải giải quyết khi chia tài sản chung của vợ chồng ông T, bà T1. Trường hợp người thứ ba không có yêu cầu giải quyết thì Tòa án hướng dẫn họ để giải quyết bằng vụ án khác. Tòa án cấp sơ thẩm không xem xét về các khoản nợ mà đương sự nêu ra trong quá trình tham gia tố tụng là chưa đảm bảo được quyền, lợi ích hợp pháp cho các đương sự và đưa thiếu người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia vụ án.
- [6] Về việc thu thập tài liệu, chứng cứ: Tại khoản 1 Điều 95 của Bộ luật tố tụng dân sự quy định “Tài liệu đọc được nội dung được coi chứng cứ nếu là bản chính hoặc bản sao có công chứng, chứng thực hợp pháp hoặc do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cung cấp, xác nhận”. Tuy nhiên trong hồ sơ có nhiều tài liệu là bản photo không được công chứng, chứng thực hoặc được cơ quan có thẩm quyền cung cấp xác nhận, cụ thể các tài liệu đó là: Các bản án dân sự, kinh doanh thương mại, các quyết định do cơ quan Thi hành án dân sự ban hành. Mặt khác, trong hồ sơ không thể hiện các tài liệu trên do đương sự giao nộp hay do Tòa án thu thập. Theo quy định tại Điều 262 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa phải được lưu trong hồ sơ vụ án, tuy nhiên tài liệu có trong hồ sơ vụ án không có văn bản phát biểu của Kiểm sát viên.
- [7] Về nhận định trong bản án: Trong quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa sơ thẩm, người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bà T1 đề nghị Tòa án đưa Ngân hàng Thương mại Cổ phần V vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Song bản án sơ thẩm không nhận định, đánh giá về yêu cầu trên của đương sự là chưa xem xét hết các yêu cầu của đương sự.
- Về nội dung:
- [8] Về quan hệ hôn nhân: Trong quá trình tham gia tố tụng, cả nguyên đơn và bị đơn đều xác định mâu thuẫn giữa vợ chồng đã kéo dài, vợ chồng đã sống ly thân nhiều năm, do vậy việc xem xét, giải quyết yêu cầu xin ly hôn của ông T đưa ra là có căn cứ. Tuy nhiên, bà T1 mặc dù xác định giữa vợ chồng có mâu thuẫn nhưng không đồng ý ly hôn do giữa hai bên chưa giải quyết xong về tài sản và nợ chung. Mặt khác, Tòa án cấp sơ thẩm không thực hiện việc thu thập tài liệu, chứng cứ về tình trạng, nguyên nhân mâu thuẫn để trên cơ sở đó đánh giá lỗi của mỗi bên trong vi phạm về quyền, nghĩa vụ của vợ chồng dẫn đến ly hôn là một trong những căn cứ để xác định tỷ lệ tài sản mà ông T, bà T1 được chia theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 59 của Luật Hôn nhân và Gia đình. Do vậy, Tòa án cấp sơ thẩm chỉ căn cứ vào lời khai của đương sự để quyết định cho ly hôn giữa ông T và bà T1 là chưa đủ căn cứ.
- [9] Về con chung: Ông Nguyễn Văn T và bà Trần Thị T1 đều xác định các con chung đã thành niên và không có nhược điểm về thể chất và tâm thần, nên cấp sơ thẩm không xem xét, giải quyết về nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng con cho chung theo quan điểm của hai bên đương sự là có căn cứ.
- [10] Về tài sản chung: Như đã phân tích tại phần tố tụng, Tòa án cấp sơ thẩm không giải quyết hết các yêu cầu phân chia tài sản chung theo yêu cầu của bị đơn đã được thụ lý không chỉ vi phạm về tố tụng, mà còn vi phạm về nội dung giải quyết, gây ảnh hưởng đến quyền lợi của đương sự. Mặt khác, do Tòa án cấp sơ thẩm không triệu tập, lấy lời khai của Ngân hàng Thương mại Cổ phần V (Ngân hàng) để trên cơ sở đó xác định ngân hàng có yêu cầu giải quyết phân chia nghĩa vụ trả khoản nợ đã được xác định bằng bản án đã có hiệu lực pháp luật hay không. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đình chỉ giải quyết phần chia tài sản khi ly hôn là 100m² đất tại thửa đất số 1560, tờ bản đồ số 01, trên đất có nhà 03 tầng đã được Ủy ban nhân dân huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số D 0881207 ngày 15/10/1994 là chưa đủ căn cứ.
- [11] Về chi phí tố tụng: Bản án sơ thẩm tuyên ông T phải trả cho bà T1 7.500.000đ chi phí tố tụng là đúng quy định của pháp luật nhưng không tuyên lãi suất chậm trả theo các điều 357 và 468 của Bộ luật Dân sự là không đúng, gây ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của bà T1.
- [12] Về nội dung kháng cáo: Những vi phạm về tố tụng và sai sót về nội dung trong việc giải quyết vụ án của cấp sơ thẩm đã gây ảnh đến quyền, lợi ích hợp pháp của các đương sự. Tòa án cấp phúc thẩm không khắc phục được những sai sót của cấp sơ thẩm. Do đó, cần chấp nhận kháng cáo của bà Trần Thị T1, hủy Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 146/2024/HNGĐ-ST ngày 14 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thành phố Thủy Nguyên để giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
- [13] Về án phí: Yêu cầu kháng cáo của bà Trần Thị T1 được chấp nhận nên bà Trần Thị T1 không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình phúc thẩm. Tòa án cấp sơ thẩm sẽ quyết định về án phí sơ thẩm khi giải quyết lại vụ án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 148, khoản 3 Điều 308, Điều 310 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 33, Điều 59 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ khoản 3 Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Tuyên xử:
- Chấp nhận kháng cáo của bà Trần Thị T1: Hủy Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 146/2024/HNGĐ-ST ngày 14 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên (nay là Tòa án nhân dân thành phố Thủy Nguyên), thành phố Hải Phòng và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thành phố Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
- Về án phí: Bà Trần Thị T1 không phải chịu án phí phúc thẩm. Trả lại bà Trần Thị T1 số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0010058 ngày 10 tháng 9 năm 2024 tại Chi Cục thi hành án dân sự huyện Thủy Nguyên (nay là Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thủy Nguyên), thành phố Hải Phòng.
Án phí, tạm ứng án phí và chi phí tố tụng dân sự sơ thẩm sẽ được quyết định khi Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Nguyễn Thị Bích Thủy Ngô Thị Thùy Linh | Nguyễn Xuân Tuyến |
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Xuân Tuyến |
DANH SÁCH GỬI THỪA PHÁT LẠI
(Bản án HNGĐPT số 02/04.3.2025 - T)
- Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1965, nơi cư trú: Thôn T, xã A, huyện T (nay là Tổ dân phố T, phường A, thành phố T), thành phố Hải Phòng;
- Bà Trần Thị T1, sinh năm 1966, nơi cư trú: Thôn T, xã A, huyện T (nay là Tổ dân phố T, phường A, thành phố T), thành phố Hải Phòng;
Người gửi: Trần Thị Thu H1 - 0966287269
DANH SÁCH GỬI BƯU ĐIỆN
(Bản án HNGĐPT số 02/04.3.2025 - T)
- Công ty L (Ông Lã Viết N và bà Hoàng Minh P), địa chỉ: Tầng B, số A đường B, Phường T, Quận H, Hải Phòng
Mã vận đơn: RD 18 259219 4 VN - TAND TP. Thủy Nguyên, Hải Phòng; địa chỉ: T, T, Hải Phòng
Mã vận đơn: RD 18 258221 7 VN - Chi cục Thi hành án dân sự TP. Thủy Nguyên, Hải Phòng; địa chỉ: T, T, Hải Phòng
Mã vận đơn: RD 18 258220 3 V
Người gửi Xác nhận của bưu điện
Trần Thị Thu Huệ
Bản án số 02/2025/HNGĐ-PT ngày 04/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn, tranh chấp chia tài sản khi ly hôn
- Số bản án: 02/2025/HNGĐ-PT
- Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp chia tài sản khi ly hôn
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 04/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận kháng cáo, huỷ để xét xử sơ thẩm lại
