Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TU MƠ RÔNG

TỈNH KON TUM

Bản án số: 02/2025/HSST

Ngày: 04/03/2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TU MƠ RÔNG- TỈNH KON TUM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Thị Bình Thanh;

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Quyền và ông Nguyễn Thuận Hóa;

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Đỗ Phương Thảo- Thẩm tra viên, Tòa án nhân dân huyện Tu Mơ Rông, tỉnh Kon Tum;

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tu Mơ Rông tham gia phiên toà: Ông Trần Ngọc Thành- Kiểm sát viên.

Ngày 04/03/2025, Toà án nhân dân huyện Tu Mơ Rông, tỉnh Kon Tum mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số: 02/2025/TLST-HS ngày 23/01/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2025/QĐXXST-HS, ngày 20/02/2025 đối với bị cáo:

Lê Văn T (Tên gọi khác: Không), sinh ngày 06/6/1983 tại Bình Định. Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: khối E, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum. Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Số căn cước công dân [...]; Con ông Lê Văn L, sinh năm 1948 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1948. Có vợ là Dương Thị H1, sinh năm 1985; Bị cáo có 02 con: con lớn sinh năm 2010, con nhỏ sinh năm 2012. Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/10/2024 cho đến nay có mặt tại phiên tòa.

- Người bị hại:

  1. Anh A P, sinh năm 1999.
  2. Trú tại: Thôn N, xã Đ, huyện T, tỉnh Kon Tum. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

  3. Anh Nguyễn Phước H2, sinh năm 1970.
  4. Trú tại: Thôn N, xã Đ, huyện T, tỉnh Kon Tum. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

  5. Chị Y S, sinh năm 2001.
  6. Trú tại: Thôn K, xã Đ, huyện T, tỉnh Kon Tum. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

  7. Anh A N, sinh năm 1972.
  8. Trú tại: Thôn Đ, xã Đ, huyện T, tỉnh Kon Tum. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

  9. Anh A N1, sinh năm 1985. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
  10. Trú tại: Thôn Đ, xã Đ, huyện N, tỉnh Kon Tum.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Lê Văn D, sinh năm 1974.

Trú tại: khối I, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

Điểm cầu trung tâm: Trụ sở TAND huyện Tu Mơ Rông, thôn M, xã Đ, huyện T, tỉnh Kon Tum.

Điểm cầu thành phần: Trại Tạm giam Công an tỉnh K, thôn G, xã N, huyện Đ, tỉnh Kon Tum.

Công chức Tòa án tại điểm cầu thành phần: Phạm Chí D1; Thư ký TAND huyện Tu Mơ Rông, tỉnh Kon Tum.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Sáng ngày 14/10/2024, T1 rủ Lê Văn T đi trộm cắp tài sản là chó tại huyện T thì T đồng ý. T1 sử dụng xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius BKS: 36H7-026.26 chở T đi đến các xã Đ, Đ, huyện T với mục đích trộm cắp tài sản là chó. Đến khoảng 08 giờ 00 phút cùng ngày, T và T1 đi đến thôn N, xã Đ, huyện T thì thấy một con chó đực màu đen đang đi trên đường. T1 ném “bả chó” cho chó ăn, khoảng một phút sau thì con chó bị chết, T lấy băng keo đen bịt miệng rồi bỏ vào bao đi tiếp. T1 và T tiếp tục đi đến thôn N, xã Đ, huyện T thì thấy một con chó đực màu trắng xám đang đi trên đường, T1 ném “bả chó” cho chó ăn, khoảng một phút sau thì con chó bị chết và T nhặt bỏ vào bao. Sau đó T và T1 cất giấu hai con chó vừa trộm cắp được vào một bụi cây cà ri ngay sát bên đường thuộc thôn N, xã Đ rồi tiếp tục đi về hướng xã Đ, huyện T. Khi đến thôn K, xã Đ thì thấy một con chó cái màu xám đang đi trên đường, T1 ném “bả chó” cho chó ăn, khoảng một phút sau thì con chó bị chết, T lấy băng keo đen bịt miệng rồi dấu vào bên đường. T1 và T tiếp tục đi đến thôn Đ, xã Đ thì phát hiện một con chó đực màu vàng đang đi trên đường, T1 ném “bả chó” cho chó ăn, khoảng một phút sau thì con chó bị chết, T nhặt chó, sau đó quay lại lấy con chó vừa cất giấu tại thôn K, xã Đ để đi về nơi cất giấu hai con chó đã giấu trước đó tại xã Đ. Khoảng 11 giờ cùng ngày thì về đến nơi cất giấu, T nhặt tất cả các con chó bỏ vào bao xác rắn màu đỏ rồi bỏ trước xe mô tô và di chuyển về thị trấn Đ. Quá trình T1 và T nhặt chó bỏ vào bao thì bị ông A C trú thôn N, xã Đ, huyện T nhìn thấy. Sau đó A C báo cho lực lượng Công an xã Đ để đón bắt, còn A C âm thầm bám theo sau. Đến khoảng 11 giờ 15 phút cùng ngày, T1 và T vừa đi qua đèo V thì bị lực lượng Công an xã Đ bắt quả tang Lê Văn T cùng tang vật là 04 con chó. Công an xã Đ lập biên bản bắt người phạm tội quả tang về hành vi trộm cắp tài sản là chó, tiến hành tạm giữ tang vật theo quy định. Đồng thời chuyển vụ việc cho Công an huyện T để điều tra theo thẩm quyền. Riêng T1 đã kịp tẩu thoát.

Quá trình điều tra, bị cáo Lê Văn T còn khai nhận cùng T1 thực hiện hành vi trộm cắp xe mô tô BKS: 82E1-192.00 tại thôn Đ, xã Đ, huyện N như sau:

Vào sáng ngày 07/9/2024, T1 rủ T đi đến huyện N để tìm kiếm nhà dân nào có tài sản sở hở để trộm cắp bán lấy tiền tiêu xài cá nhân thì T đồng ý. T1 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu đen (không nhớ biển kiểm soát) chở T hướng theo đường Quốc lộ 40B rồi đi theo đường nhựa qua hai xã N và Đăk Rơ N2, huyện Đ rồi rẽ vào đường hướng ra Quốc lộ H thuộc huyện N để tìm kiếm tài sản trộm cắp. Đến khoảng 10 giờ 00 phút cùng ngày, T1 điều khiển xe chở T rẽ vào đường bê tông thôn Đ, xã Đ, huyện N để tìm kiếm tài sản là (chó) của người dân thả rông nhưng không có. Khi đi đến cuối đường bê tông thì T1 dừng xe lại ở lề đường, còn T cũng xuống đi vệ sinh gần đó. Lúc đó T thấy T1 đi đến chỗ xe mô tô BKS: 82E1-192.00 anh A N1 đang dựng ở lề đường (cách chỗ T đứng khoảng 10m) không có người trông coi rồi ngồi lên yên xe. T1 mở khóa xe, quay đầu xe và chưa di chuyển xe rồi nổ máy và nói với T “Chạy nhanh về thôi” rồi điều khiển xe mô tô trên chạy lên phía trước. Nghe vậy T liền điều khiển xe mô tô chạy theo phía sau theo đường cũ về lại nhà trọ tại thôn Đ, thị trấn Đ, huyện Đ. Sau đó T1 thay biển số xe mô tô BKS: 82E1-192.00 trộm cắp được thành BKS: 36H7- 026.26 để sử dụng làm phương tiện đi lại. Đến ngày 14/10/2024, T1 điều khiển xe mô tô trộm cắp được tại thôn Đ, xã Đ, huyện N đã gắn biển kiểm soát 36H7-026.26 chở T đến huyện T để trộm cắp tài sản là chó thì bị bắt quả tang Thương cùng tang vật. Quá trình điều tra, xác minh, Lê Văn T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội.

Tại bản kết luận định giá tài sản số: 06/KL-HĐ ngày 21/10/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T xác định giá trị đối với 04 (Bốn) con chó, trong đó: 01 (Một) con chó đực đã chết, màu đen, trọng lượng 09kg trị giá 540.000 đồng (Năm trăm bốn mươi ngàn đồng); 01 (Một) con chó đực đã chết, màu trắng xám, trọng lượng 18kg trị giá 1.080.000 đồng (Một triệu không trăm tám mươi ngàn đồng); 01 (Một) con chó cái đã chết, màu xám, trọng lượng 13kg trị giá 780.000 đồng (Bảy trăm tám mươi ngàn đồng); 01 (Một) con chó đực đã chết, màu vàng, trọng lượng 10kg trị giá 600.000 đồng (Sáu trăm ngàn đồng). Tổng giá trị tài sản bị thiệt hại là 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng).

Tại bản kết luận định giá tài sản số: 25/KL-HĐĐG ngày 14/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện N xác định giá trị đối với xe mô tô YAMAHA Sirius BKS: 82E1-192.00 là 6.166.667 đồng (Sáu triệu một trăm sáu mươi sáu ngàn sáu trăm sáu mươi bảy đồng).

Bản kết luận giám định chất độc số: 1507/KLGĐĐC-PYQG ngày 14/11/2024 của P1 tại thành phố Hồ Chí Minh đối với vật không rõ màu đen được chứa trong túi ni lông theo như lời khai của Lê Văn T là “bả chó” kết luận mẫu vật có tìm thấy C1 (chất độc).

Bản cáo trạng số: 02/CT-VKS ngày 22/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tu Mơ Rông truy tố bị cáo Lê Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Lê Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng và tài liệu có tại hồ sơ vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tu Mơ Rông sau phần xét hỏi và tranh luận vẫn giữ nguyên quyết định truy tố như cáo trạng đã nêu. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lê Văn T phạm tội "Trộm cắp tài sản"; Áp dụng khoản 1 Điều 173, Điều 38; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo Lê Văn T từ 09 tháng đến 12 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 14/10/2024. Không áp dụng hình phạt bổ sung.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho các bị hại là: anh A P 600.000 đồng, anh Nguyễn Phước H2 1.200.000 đồng, chị Y S 600.000 đồng, anh A N 500.000 đồng. Anh A N1 đã nhận lại chiếc xe và không có yêu cầu bồi thường gì khác nên đề nghị không xem xét.

Về xử lý vật chứng của vụ án: Quá trình điều tra xác định: 01 (Một) con chó đực đã chết, màu đen, trọng lượng 09kg thuộc sở hữu của anh A P; 01 (Một) con chó đực đã chết, màu trắng xám, trọng lượng 18kg thuộc sở hữu của anh Nguyễn Phước H2; 01 (Một) con chó cái đã chết, màu xám, trọng lượng 13kg thuộc sở hữu của chị Y S; 01 (Một) con chó đực đã chết, màu vàng, trọng lượng 10kg thuộc sở hữu của anh A N; 01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA Sirius mang BKS 36H7-026.26 số khung RLCUE3220JY111045, số máy E3X9E-541203 được đăng ký BKS 82E1-192.00 thuộc sở hữu của anh A N1. Vì vậy Cơ quan điều tra đã trả lại các vật chứng trên cho các chủ sở hữu là đúng quy định pháp luật.

Đối với 01 (Một) túi ni lông chứa vật không rõ màu đen là bả chó; 01 (Một) bao tải màu đỏ đã qua sử dụng; 01 (Một) cuộn băng keo màu đen đã qua sử dụng; 01 (Một) BKS: 36H7-026.26 qua xác minh có tên chính chủ là Nguyễn Mạnh C2 trú tại thị trấn Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa. Cơ quan điều tra đã ủy thác điều tra nhưng chưa xác minh được chủ sở hữu. Các vật chứng trên hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tu Mơ Rông đề nghị tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Bị cáo nhất trí và không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát và nói lời sau cùng: Bị cáo biết mình đã sai, xin Hội đồng xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo tích cực học tập, cải tạo trở thành người tốt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thẩm quyền, thủ tục tố tụng: Bị cáo Lê Văn T đã có hành vi trộm cắp tài sản tại xã Đ, Đ, huyện T và bị bắt quả tang tại đây nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết, xét xử của Tòa án nhân dân huyện Tu Mơ Rông theo quy định tại Điều 268, Điều 269 Bộ luật tố tụng hình sự.

Cơ quan điều tra Công an huyện T và điều tra viên; Viện kiểm sát và kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự và thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo cũng như những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa những người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người làm chứng vắng mặt nhưng họ đều có đơn xin xét xử vắng mặt và đã có lời khai tại cơ quan điều tra, không có yêu cầu gì khác, sự vắng mặt của họ không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên căn cứ Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[3] Về căn cứ định tội, định khung hình phạt: Quá trình xét hỏi công khai tại phiên tòa, bị cáo Lê Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người làm chứng cũng như các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Lê Văn T có quen biết từ trước và ở nhà trọ cùng Phạm Bá T1 tại thôn Đ, thị trấn Đ, Huyện Đ, tỉnh Kon Tum. Quá trình sống cùng nhau, T1 và T thường xuyên nói chuyện về việc đi trộm cắp tài sản là chó và tài sản khác trong đó có xe máy để lấy tiền tiêu xài. Vào sáng ngày 7/9/2024, T1 rủ T đi lên N để trộm cắp tài sản và T1 dùng xe mô tô Yamaha Siruis màu đen (không nhớ biển kiểm soát) chở T lên N. Khi đến thôn Đ, xã Đ, huyện N thì phát hiện xe mô tô Yamaha Siruis màu xanh đen biển kiểm soát 82E1-192.00 của anh A N1 trị giá 6.166.667 đ không có người trông coi, T1 đã trực tiếp mở khóa xe và điều khiển xe vừa trộm cắp được, còn T điều khiển xe còn lại về nhà trọ, sau đó T1 đổi biển số xe vừa trộm cắp thành biển số 36H7-026.26 để T1 và T làm phương tiện đi lại. Đến ngày 14/10/2024, T1 rủ T đi trộm chó và T1 dùng xe này chở T vào xã Đ, Đ, huyện T trộm cắp 4 con chó trị giá 3.000.000đ. Tổng giá trị tài sản mà T trộm cắp 2 lần là 9.166.667 đồng.

Bị cáo Lê Văn T thực hiện hành vi trộm cắp khi đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự với lỗi cố ý, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Do đó, bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Tu Mơ Rông truy tố về tội "Trộm cắp tài sản" theo khoản 1 điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo:

Bị cáo thực hiện 02 lần trộm cắp tài sản tại 02 huyện khác nhau và thời điểm khác nhau, mỗi lần thực hiện hành vi phạm tội đều đủ định lượng truy cứu trách nhiệm hình sự nên phải chịu 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự phạm tội 02 lần trở lên theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Do đó, cần xử phạt bị cáo mức án tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội để răn đe riêng và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, cũng xét thấy trong suốt quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo luôn thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, quá trình điều tra, bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho các bị hại là: Anh A P 600.000 đồng, anh Nguyễn Phước H2 1.200.000 đồng, chị Y S 600.000 đồng, anh A N 500.000 đồng; tài sản trộm cắp đã được trả lại cho chủ sở hữu và những người bị hại đều có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Ngoài ra, trong cả hai vụ trộm cắp tài sản bị cáo đều giữ vai trò thứ yếu, không phải là người khởi xướng hay thực hành tích cực. Trong vụ trộm chó bị cáo là người ngồi sau, khi chó bị chết thì nhặt rồi dán băng keo vào miệng chó bỏ vào bao, còn việc tìm địa điểm, chuẩn bị công cụ phạm tội là bả chó, tìm mối tiêu thụ đều do T1 thực hiện. Đối với vụ trộm cắp xe mô tô bị cáo chỉ là người giúp sức về tinh thần và lái chiếc xe ban đầu để đối tượng T1 lái xe trộm cắp được về nhà trọ. Do đó, HĐXX cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự giảm một phần hình phạt để bị cáo thấy sự khoan hồng của pháp luật mà tích cực học tập, cải tạo trở thành người có ích cho xã hội.

Bị cáo không có thu nhập ổn định, hoàn cảnh gia đình khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Những người bị hại đã được bị cáo bồi thường thiệt hại về tài sản: anh A P 600.000 đồng, anh Nguyễn Phước H2 1.200.000 đồng, chị Y S 600.000 đồng, anh A N 500.000 đồng, anh A N1 đã nhận lại tài sản là xe mô tô nên không có yêu cầu bồi thường. Các bị hại không có yêu cầu gì thêm về mặt dân sự.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Lê Văn D cho bị cáo 2.900.000 đồng để bồi thường cho những người bị hại, không yêu cầu bị cáo phải trả lại nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về vật chứng của vụ án: Quá trình điều tra xác định: 01 (Một) con chó đực đã chết, màu đen, trọng lượng 09kg thuộc sở hữu của anh A P; 01 (Một) con chó đực đã chết, màu trắng xám, trọng lượng 18kg thuộc sở hữu của anh Nguyễn Phước H2; 01 (Một) con chó cái đã chết, màu xám, trọng lượng 13kg thuộc sở hữu của chị Y S; 01 (Một) con chó đực đã chết, màu vàng, trọng lượng 10kg thuộc sở hữu của anh A N; 01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA Sirius mang BKS 36H7-026.26 số khung RLCUE3220JY111045, số máy E3X9E-541203 được đăng ký BKS 82E1-192.00 thuộc sở hữu của anh A N1 nên đã trả lại cho chủ sở hữu là đúng quy định pháp luật.

Đối với xe mô tô Yamaha Sirius mà T và T1 dùng để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản là xe mô tô BKS: 82E1-192.00 tại huyện N, Cơ quan điều tra đã truy tìm nhưng không thấy nên không xem xét.

Đối với 01 (Một) túi ni lông chứa vật không rõ màu đen là bả chó có chất Cyanid là chất độc; 01 (Một) bao tải màu đỏ đã qua sử dụng; 01 (Một) cuộn băng keo màu đen đã qua sử dụng; 01 (Một) BKS: 36H7-026.26 không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

[7] Các vấn đề khác: Đối với đối tượng Phạm Bá T1: Quá trình điều tra, xác minh, bị cáo T khai nhận chính T1 là người khởi xướng và cùng T thực hiện hành vi phạm tội đối với hai vụ án nêu trên. Tuy nhiên đến thời điểm kết thúc điều tra, Cơ quan điều tra vẫn chưa làm việc được với T1, chỉ có lời khai của bị cáo T mà chưa thu thập được các tài liệu khác chứng minh hành vi phạm tội đối với T1. Vì vậy Cơ quan điều tra đã tách hành vi trộm cắp tài sản của T1 để tiếp tục xác minh, điều tra và xử lý khi có đủ căn cứ là đúng quy định.

Đối với hành vi tàng trữ, sử dụng chất độc (bả chó) của các đối tượng: Bản kết luận giám định chất độc số: 1507/KLGĐĐC-PYQG ngày 14/11/2024 của P1 tại thành phố Hồ Chí Minh đối với vật không rõ màu đen được chứa trong túi ni lông theo như lời khai của bị cáo Lê Văn T là “bả chó” kết luận mẫu vật có tìm thấy C1 (chất độc). Quá trình điều tra, Lê Văn T khai nhận T1 là người trực tiếp sử dụng ném cho chó ăn, T1 mua ở đâu T không biết. T không biết đó là chất độc gì, mà chỉ đi theo để lượm chó. Vì vậy Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, xác minh khi nào có đủ chứng cứ sẽ xử lý sau là đúng quy định.

[8]Về án phí: Bị cáo Lê Văn T bị kết án nên phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Áp dụng khoản 1 điều 173; điểm g khoản 1 Điều 52, Điểm b, s khoản 1, khoản 2 điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự.

  • - Tuyên bố bị cáo Lê Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • - Xử phạt bị cáo Lê Văn T 08 (tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 14/10/2024.

[2] Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên tịch thu, tiêu hủy 01 (Một) túi ni lông chứa vật không rõ màu đen là bả chó; 01 (Một) bao tải màu đỏ đã qua sử dụng; 01 (Một) cuộn băng keo màu đen đã qua sử dụng; 01 (Một) BKS: 36H7-026.26.

(Vật chứng có đặc điểm giống như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 23/01/2025 giữa Công an huyện T và Chi cục thi hành án dân sự huyện Tu Mơ Rông, tỉnh Kon Tum).

[2] Về án phí hình sự: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Áp dụng Điều 6, khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, phí, lệ phí Toà án.

Buộc bị cáo Lê Văn T bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

[3] Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (04/03/2025). Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sựngười được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Người bị hại;
  • - Người có QLNVLQ;
  • - TAND tỉnh Kon Tum;
  • - VKSND tỉnh Kon Tum;
  • - VKSND huyện Tu Mơ Rông;
  • - Công an huyện Tu Mơ Rông;
  • - CCTHADS huyện Tu Mơ Rông;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Trịnh Thị Bình Thanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 02/2025/HSST ngày 04/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TU MƠ RÔNG, TỈNH KON TUM về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 02/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TU MƠ RÔNG, TỈNH KON TUM
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger