Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN DIỄN CHÂU

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

Bản án số: 02/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 28-02-2025

V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU, TỈNH NGHỆ AN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vương Thanh Minh
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thế Anh
  • Ông Phạm Văn Sơn

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Xuân Quảng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Hân - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 305/2024/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 11 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Chị Trần Thị L, sinh năm 1990 (Có mặt)
  • Trú tại: Xóm D, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An.
  • - Bị đơn: Anh Đinh Văn P, sinh năm 1983 (Có đơn xin vắng mặt)
  • Trú tại: Xóm D, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Trần Thị L trình bày:

Chị L và anh Đinh Văn P đăng ký kết hôn vào ngày 03/02/2010 tại Ủy ban nhân dân xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Hôn nhân có tìm hiểu, hoàn toàn tự nguyện, hợp pháp không bị ai ép buộc. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian đầu, đến cuối năm 2019 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng về cách sống, tính tình không hòa hợp, vợ chồng thiếu sự thương yêu, chăm sóc nhau. Mâu thuẫn đã được hai bên gia đình nội ngoại khuyên bảo, hòa giải nhưng không có kết quả. Do mâu thuẫn đã kéo dài, ngày càng trầm trọng nên đầu năm 2020 cho đến nay chị L và anh P sống ly thân và cắt đứt mọi quan hệ, chị L đã đưa con chung về nhà bố mẹ đẻ để ở. Nay tình cảm không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, chị L yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Đinh Văn P.

Về con chung: Chị L và anh Đinh Văn P chỉ có 01 người con chung, cháu Đinh Thị Kim N, sinh ngày 01/6/2011. Từ ngày chị L và anh P sống ly thân cho đến nay, chị L là người trực tiếp nuôi con. Ly hôn, chị L có nguyện vọng tiếp tục được trực tiếp nuôi con chung cho đến khi cháu N trưởng thành và không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con cùng chị.

- Về tài sản chung và nợ: Chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn anh Đinh Văn P: Trong quá trình giải quyết vụ án, anh Đinh Văn P vắng mặt tại nơi cư trú. Do đó Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An không thể tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng trực tiếp cho anh P. Thông qua người nhà anh P là chị Đinh Thị T (chị T là chị gái của anh P), Tòa án đã tống đạt các văn bản cho anh P, chị Thu N1 và cam đoan giao trực tiếp cho anh P để Tòa án tiến hành giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Và cũng thông qua chị T thì anh P có bản trình bày gửi cho Tòa án với nội dung: Anh P đã nhận được các văn bản của Tòa án và đề nghị Tòa án giải quyết vụ án vắng mặt anh theo quy định của pháp luật.

Về quan hệ hôn nhân: Anh P thừa nhận về quan hệ hôn nhân giữa anh và chị L như chi L trình bày. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian, đến cuối năm 2019 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng về tính cách cũng như quan điểm sống, vợ chồng hay cãi vã, xúc phạm lẫn nhau nên thiếu sự thương yêu, chăm sóc nhau, đến nay tình cảm vợ chồng không còn và đã sống ly thân và cắt đứt mọi quan hệ. Nay chị L yêu cầu ly hôn thì anh P cũng đồng ý ly hôn.

Về con chung: Anh P và chị Trần Thị L chỉ có 01 người con chung, cháu Đinh Thị Kim N, sinh ngày 01/6/2011. Cháu N hiện ở cùng chị L. Ly hôn, chị L có nguyện vọng được trực tiếp nuôi con chung nên anh P cũng đồng ý giao con cho chị L được trực tiếp nuôi dưỡng. Anh P và chị L tự thỏa thuận việc cấp dưỡng nuôi con chung, anh P xin tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Anh P không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về vay nợ và nợ: Anh P không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An phát biểu ý kiến:

- Ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Thẩm phán đã xác định tư cách pháp lý của các đương sự; thu thập chứng cứ; cấp tống đạt các văn bản tố tụng cho các đương sự; thực hiện thời hạn chuẩn bị xét xử theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Thư ký Tòa án thực hiện đúng các quy định về phổ biến nội quy phiên tòa, kiểm tra báo cáo danh sách những người được triệu tập đến phiên tòa.

Hội đồng xét xử tiến hành thủ tục bắt đầu phiên tòa, thực hiện nội dung, phương thức, thứ tự tranh tụng đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án.

- Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51; Điều 55; Điều 57; Điều 58; Điều 81; Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên:

  • - Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Trần Thị L và anh Đinh Văn P
  • - Về con chung: Ly hôn, giao con chung Đinh Thị Kim N, sinh ngày 01/6/2011 cho chị Trần Thị L được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục. Anh Đinh Văn P có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
  • - Về cấp dưỡng nuôi con chung: Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Đinh Văn P vì chị L chưa có yêu cầu.
  • - Về tài sản chung và nợ chung: Chị Trần Thị L và anh Đinh Văn P không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét.
  • - Về án phí: Nguyên đơn chị Trần Thị L phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Về tố tụng:

[1.1]. Nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, nuôi con. Bị đơn cư trú tại huyện D, tỉnh Nghệ An. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền.

[1.2]. Bị đơn vắng mặt tại phiên toà nhưng có bản trình bày xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn là đúng quy định tại khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2]. Về nội dung vụ án:

[2.1]. Theo lời khai của chị Trần Thị L và bản trình bày của anh Đinh Văn P thì thấy: Chị Trần Thị L và anh Đinh Văn P kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An vào ngày 03/02/2010, được Ủy ban nhân xã D cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 13/2010, quyển số 02; hôn nhân hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm các quy định về điều kiện kết hôn tại Điều 8, Điều 9 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Như vậy, quan hệ hôn nhân giữa chị Trần Thị L và anh Đinh Văn P là hợp pháp được pháp luật bảo vệ.

[2.2]. Xét yêu cầu của đương sự:

- Đối với yêu cầu về ly hôn:

Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn, bị đơn đều thừa nhận vợ chồng không còn tình cảm gì. Hiện đã sống ly thân và cắt đứt mọi quan hệ. Chị L và anh P đều xác định hôn nhân không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.

Hội đồng xét xử thấy rằng: Việc kết hôn là để vợ chồng cùng chung sống xây dựng gia đình hạnh phúc, yêu thương, chia sẻ với nhau khó khăn trong cuộc sống. Đó cũng là nghĩa vụ, bổn phận của người làm vợ, làm chồng. Qua lời khai của người làm chứng bà Phạm Thị S (bà S là mẹ đẻ của chị L) và lời khai của chị Đinh Thị T (chị T là chị gái của anh P) cho thấy: Chị L và anh P kết hôn trên tinh thần tự nguyện. Sau khi kết hôn, chị L về chung sống với gia đình anh P tại xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An, quá trình chung sống đến năm 2019 thì vợ chồng có xẩy ra mâu thuẫn với nhau và đến nay chị L đã đưa cháu Đinh Thị Kim N về bên gia đình chị L sinh sống từ năm 2020. Những lúc chị L và anh P xẩy ra mâu thuần thì bà S cũng đã khuyên bảo vợ chồng quay về đoàn tụ nhưng không có kết quả. Như vậy, có thể khẳng định, hôn nhân giữa chị L và anh P đã lâm vào tình trạng mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, cần áp dụng khoản 1 Điều 51 và Điều 55 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 để công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Trần Thị L và anh Đinh Văn P.

- Về con chung: Chị Trần Thị L và anh Đinh Văn P chỉ có 01 con chung, cháu Đinh Thị Kim N, sinh ngày 01/6/2011. Hiện nay chị L là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu N. Hội đồng xét xử thấy rằng; việc nuôi con là quyền, nghĩa vụ của người làm bố và người làm mẹ; giao con cho bố hay mẹ là nhằm đảm bảo tốt nhất cho sự phát triển của con chung, cháu N từ trước tới nay ở cùng chị L, cháu N có nguyện vọng được ở với chị L. Vì vậy, căn cứ vào các Điều 81; Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình giao con chung cháu Đinh Thị Kim N cho chị Trần Thị L được trực tiếp nuôi dưỡng, trông nom, chăm sóc và giáo dục là phù hợp.

Anh P có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.

- Về cấp dưỡng nuôi con: Chị L không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con chung nên tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho anh P.

- Về tài sản chung, nợ chung: Chị Trần Thị L và anh Đinh Văn P không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3]. Về án phí: Nguyên đơn chị Trần Thị L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[4]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời gian quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
  • - Khoản 1 Điều 51; Điều 55; Điều 57; Điều 58; Điều 81; Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
  • - Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Trần Thị L và anh Đinh Văn P.
  2. Về con chung: Giao con chung Đinh Thị Kim N, sinh ngày 01/6/2011 cho chị Trần Thị L được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi về quyền nuôi con.

    Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

    Trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

    Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

    Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

  3. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Đinh Văn P vì chị L chưa có yêu cầu.
  4. Về tài sản chung, nợ chung: Chị Trần Thị L và anh Đinh Văn P không yêu cầu Toà án giải quyết.
  5. Về án phí: Chị Trần Thị L phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số: 0013201 ngày 07/11/2024 tại Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An, chị L đã nộp đủ án phí.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014). Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014).

  6. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án; bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND huyện Diễn Châu;
  • - Thi hành án DS H. Diễn Châu;
  • - UBND xã Diễn Phú (nơi ĐKKH);
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Vương Thanh Minh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 02/2025/HNGĐ-ST ngày 28/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU, TỈNH NGHỆ AN về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 02/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU, TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger