Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BẮC BÌNH

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 02/2025/DS-ST

Ngày: 26 - 02 - 2025

V/v “Tranh chấp hợp đồng chuyển

nhượng quyền sử dụng đất và yêu

cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử

dụng đất”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC BÌNH

TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lâm Quốc Tuấn.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Hạnh
  2. Ông Bá Đình Tâm

- Thư ký phiên tòa: Bà Minh Thị Thu Hòa – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Bình tham gia phiên tòa: Ông Lâm Đa Cha - Kiểm sát viên

Ngày 26 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 82/2008/TLST-DS ngày 28/8/2008, về việc: “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 85/2024/QĐXXST-DS ngày 09/12/2024 và Quyết định đưa vụ án ra xét xử bổ sung số 89/2024/QĐXXST-DS ngày 30/12/2024, Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 01/2025/QĐXXST-DS ngày 07/01/2025, Thông báo về việc mở lại phiên tòa sơ thẩm số 01/2025/TB-TA ngày 06/02/2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn:

  • +Ông Mai Văn T, sinh năm 1973 (Có mặt)
  • +Ông Mai Văn Đ, sinh năm 1976 (Có mặt)

- Bị đơn: Ông Phạm Đình C, sinh năm 1958(Có mặt)

Cùng địa chỉ: Thôn H, xã H, huyện B, tỉnh Bình Thuận

-Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • + Ủy ban nhân dân huyện B:
  • Địa chỉ: I đường N, thị trấn C, huyện B, tỉnh Bình Thuận.
  • Người đại diện theo ủy quyền: Bà Mãn Thị Thu H – Phó Chủ tịch UBND xã H (Có mặt)
  • (Theo công văn số 3388/UBND-NC ngày 12/11/2024 của UBND huyện B)
  • +Chị Nguyễn Thị Mỹ N, sinh năm 1980 (Có mặt)
  • +Chị Trần Thị H1, sinh năm 1977(Có mặt)
  • +Bà Trần Thị Mỹ X, sinh năm 1959 (Đã chết)
  • Cùng địa chỉ: Thôn H, xã H, huyện B, tỉnh Bình Thuận.

-Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng:

  1. Chị Phạm Thị Mai T1, sinh năm 1980(Vắng mặt)
  2. Địa chỉ: Thôn H, xã H, huyện B, Bình Thuận;
  3. Chị Phạm Thị Mỹ H2, sinh năm 1983(Vắng mặt)
  4. Địa chỉ: Phường B, thành phố P, Bình Thuận;
  5. Chị Phạm Thị Mỹ L, sinh năm 1986(Vắng mặt)
  6. Địa chỉ: Xã P, thành phố P, Bình Thuận;
  7. Anh Phạm Đình T2, sinh năm 1988(Vắng mặt)
  8. Anh Phạm Đình T3, sinh năm 1990(Vắng mặt)
  9. Anh Phạm Đình N1, sinh năm 1993(Có mặt)
  10. Cùng địa chỉ: Thôn H, xã H, huyện B, Bình Thuận;
  11. Chị Phạm Thị Bích P, sinh năm 1994 (Vắng mặt)
  12. Địa chỉ: Phường P, thành phố P, Bình Thuận.

-Người làm chứng:

  • Anh Huỳnh Văn C1, sinh năm 1970 (Vắng mặt)
  • Địa chỉ: Thôn H, xã H, huyện B, Bình Thuận;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Trong đơn khởi kiện, biên bản lấy lời khai và tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay, nguyên đơn ông Mai Văn T và ông Mai Văn Đ trình bày: Trước năm 1980, ông Phạm Đình C được HTX/NN Hồng Lâm cấp cho diện tích đất rẫy là 28.000m² tại khu vực Cóc Giậc thuộc thôn H, xã H. Đến năm 1995, ông Phạm Đình C sang nhượng lại đất cho ông Nguyễn Văn H3.

Ngày 20/11/1996, ông Nguyễn Văn H3 sang nhượng lại cho ông Mai Văn Đ (là em ruột của ông Mai Văn T). Ông Mai Văn T và ông Mai Văn Đ trực tiếp sản xuất diện tích đất này từ năm 1996 đến nay.

Đến đầu năm 2008, ông Phạm Đình C được UBND huyện B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với diện tích là 31.000m² đất màu thuộc khu vực C, thôn H, xã H. Đất có tứ cận như sau:

  • + Bắc giáp đất rẫy của ông Lê T4 và Trương Quang S.
  • + Nam giáp đường xe bò.
  • + Đông giáp đường xe bò.
  • + Tây giáp đất rẫy của Phạm Thị Y.

Sau khi được UBND huyện B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ông Phạm Đình C có ý định chuyển nhượng phần đất trên cho người khác. Vì vậy, ngày 22/3/2008, ông Mai Văn T với ông Phạm Đình C đã lập giấy sang nhượng đất rẫy nêu trên với giá 50.000.000 đồng, ông Phạm Đình C đã nhận số tiền là 30.000.000 đồng. Sau khi lập giấy sang nhượng đất xong, ông Pham Đình C2 không thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên cho ông Mai Văn T. Ông Phạm Đình C lại chuyển nhượng diện tích đất trên cho người khác thông qua anh Huỳnh Văn C1.Việc chuyển nhượng không lập hợp đồng, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hiện nay không rõ ở đâu và cũng không biết ai đang giữ

Nay ông Mai Văn T, ông Mai Văn Đ yêu cầu tuyên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Mai Văn T với vợ chồng ông Phạm Đình C, bà Trần Thị Mỹ X được xác lập tại “Giấy sang nhượng đất rẫy” ngày 22/3/2008 vô hiệu, buộc ông Phạm Đình C trả lại cho ông Mai Văn T với số tiền là 30.000.000 đồng cộng với tiền lãi ngân hàng theo lãi suất vay từ ngày 22/3/2008 đến ngày xét xử sơ thẩm và hủy 01 phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số L032400 cấp ngày 07/2/1998 mang tên ông Phạm Đình C với diện tích được quyền sử dụng 56.461m², đối với thửa đất số 73, diện tích là 31.280m² do cấp không đúng đối tượng sử dụng đất và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AÐ102224 do UBND huyện B cấp cho ông Phạm Đình C vào ngày 31/08/2006 (Cấp đổi) đối với thửa đất số 73, diện tích là 31.280m², đất trồng cây hàng năm khác. Địa chỉ thửa đất: Thôn H, xã H, huyện B, tỉnh Bình Thuận.

- Bị đơn ông Phạm Đình C trình bày: Ông Phạm Đình C thừa nhận có lập “Giấy sang nhượng đất rẫy” ngày 22/3/2008 cho ông Mai Văn T với số tiền là 50.000.000 đồng, ông đã nhận của ông Mai Văn T là 30.000.000 đồng. Ông Phạm Đình C cũng đồng ý tuyên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Mai Văn T với vợ chồng ông Phạm Đình C, bà Trần Thị Mỹ X được xác lập tại “Giấy sang nhượng đất rẫy” ngày 22/3/2008 vô hiệu, ông Phạm Đình C đồng ý trả lại cho anh Mai Văn T với số tiền là 30.000.000 đồng cộng với tiền lãi ngân hàng theo lãi suất vay từ ngày 22/3/2008 đến ngày xét xử sơ thẩm.

Ông Phạm Đình C đồng ý giao thửa đất này lại cho ông Mai Văn T và ông Mai Văn Đ, bởi vì thửa đất số 73, diện tích là 31.280m², ông Mai Văn T canh tác từ năm 1996 đến nay và có trồng cây keo lai. Song do UBND huyện B đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số L032400 cấp ngày 07/2/1998 mang tên ông với diện tích được quyền sử dụng 56.461m², trong đó có thửa đất số 73, diện tích là 31.280m² là không đúng nguồn gốc, không đúng đối tượng. Do đó, ông Phạm Đình C đề nghị UBND huyện B có Quyết định thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AĐ102224 do UBND huyện B cấp đổi cho ông vào ngày 31/8/2006 đối với thửa đất số 73, diện tích là 31.280m², đất trồng cây hàng năm khác và cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Mai Văn T và ông Mai Văn Đ đối với thửa đất số 73, diện tích là 31.280m², đất trồng cây hàng năm khác. Địa chỉ thửa đất: Thôn H, xã H, huyện B, tỉnh Bình Thuận

Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AÐ102224 do UBND huyện B cấp cho ông vào ngày 31/08/2006 đối với thửa đất số 73, diện tích là 31.280m², đất trồng cây hàng năm khác, hiện nay ông không có lưu giữ. Ông đã giao cho ông Huỳnh Văn C1 do ông bán đất này bằng giấy tay thông qua ông Huỳnh Văn C1, lâu rồi, ông không nhớ thời gian.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan chị Phạm Thị Mai T1, chị Phạm Thị Mỹ H2, chị Phạm Thị Mỹ L, anh Phạm Đình T2, anh Phạm Đình T3, anh Phạm Đình N1: Thống nhất theo lời trình bày của ông Phạm Đình C và không có ý kiến bổ sung gì thêm.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị Mỹ N, chị Trần Thị H1 trình bày: Thống nhất theo lời trình bày của ông Mai Văn T, ông Mai Văn Đ và không có ý kiến bổ sung gì thêm.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan UBND huyện B trình bày: Trước năm 1996, diện tích đất tranh chấp này là của gia đình ông Phạm Đình C quản lý, sử dụng. Đến năm 1996, gia đình ông Phạm Đình C chuyển nhượng cho ông Nguyễn Văn H3, công dân thôn H, xã H. Đến tháng 11/1996, ông Nguyễn Văn H3 chuyển nhượng lại cho ông Mai Văn Đ (là em ruột của ông Mai Văn T). Ông Mai Văn Đ và ông Mai Văn T quản lý sử dụng sản xuất nông nghiệp từ năm 1996 đến nay. Hiện nay ông Mai Văn T đang quản lý sử dụng và có trồng cây keo lá tràm

UBND huyện B đã ban hành công văn số 2841/UBND-SX ngày 27/9/2024: UBND huyện B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AĐ102224 cho ông Phạm Đình C vào ngày 31/08/2006 đối với thửa đất số 73, diện tích là 31.280m² là không đúng đối tượng sử dụng đất. Đề nghị Tòa án nhân dân có quyết định tuyên hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AĐ102224 do UBND huyện B cấp cho ông Phạm Đình C vào ngày 31/08/2006 (Cấp đổi)

-Người làm chứng ông Huỳnh Văn C1 trình bày: Ông không trực tiếp nhận chuyển nhượng thửa đất số 73, diện tích là 31.280m², đất trồng cây hàng năm khác. Địa chỉ thửa đất: Thôn H, xã H, huyện B, tỉnh Bình Thuận theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số L032400 cấp ngày 07/2/1998 mang tên ông Phạm Đình C. Ông chỉ là người môi giới. Ông giới thiệu cho bà H4 ở thành phố P (Năm sinh và nơi cư trú thì ông không rõ). Ông giới thiệu cho bà nhận chuyển nhượng thửa đất này, đến đây thì ông không biết kết quả của việc chuyển nhượng thửa đất số 73, diện tích là 31.280m², đất trồng cây hàng năm khác theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số L032400 cấp ngày 07/2/1998 mang tên ông Phạm Đình C ra sao. Nếu ông là người nhận chuyển nhượng trực tiếp thì giữa ông với ông Phạm Đình C phải làm giấy tờ rõ ràng. Giữa ông với ông Phạm Đình C không có chuyển nhượng thửa đất số 73, diện tích là 31.280m², đất trồng cây hàng năm khác theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số L032400 cấp ngày 07/2/1998 mang tên ông Phạm Đình C. Số tiền 110.000.000 đồng mà ông giao cho ông Phạm Đình C là của bà H4 giao cho ông, ông giao lại cho ông Phạm Đình C, không phải tiền của ông. Nay ông không có tranh chấp và không có yêu cầu gì đối với ông Phạm Đình C. Sự việc đã lâu, ông đề nghị Tòa án không làm việc với ông nữa và xử án vắng mặt ông, vì ông không có liên quan gì đến vụ án này.

Theo biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản ngày 13/8/2021 của Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình thì diện tích đất mà các bên tranh chấp là 30.421,8m². Đất tranh chấp thuộc thôn H, xã H, huyện B, tỉnh Bình Thuận, đất tứ cận:

  • *Phía đông: giáp đường đường xe bò
  • *Phía tây: giáp nhà đất bà Phan Thị Y1
  • * Phía nam: giáp đường xe bò
  • * Phía bắc: giáp đất ông Lê Thanh

Đất tranh chấp nằm trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AÐ102224 do UBND huyện B cấp cho ông Phạm Đình C vào ngày 31/08/2006 đối với thửa đất số 73, diện tích là 31.280m² ( Đo thực tế 30.421,8m²)

Giá trị quyền sử dụng của diện tích đất 30.421,8m² là 700.918.272 đồng (30.421,8m² x 16.000 đ/m² x 1,44).

Trên đất tranh chấp có cây keo lai dưới 02 năm tuổi của nguyên đơn, trị giá là 54.756.000 đồng

Các đương sự thống nhất theo nội dung biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản ngày 13/8/2021 của Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình để làm căn cứ giải quyết vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Bình phát biểu ý kiến đối với vụ án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử tuân theo đúng pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án; Xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp. Việc chấp hành pháp luật của nguyên, bị đơn đúng theo quy định tại các điều 70, điều 71, điều 72, điều 73 BLTTDS năm 2015 đảm bảo quyền và lợi ích của nguyên, bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ án. Về thời hạn giải quyết vụ án đúng theo quy định của pháp luật.

Về việc giải quyết vụ án căn cứ vào khoản 3, 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, 147, 157, 158, 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm đ khoản 2 Điều 106, Điều 203 Luật đất đai năm 2013 và các Điều 117, 122 và khoản 1, 2 Điều 131, 407, 408, 357, 468 Bộ luật dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi khiện của nguyên đơn ông Mai Văn Đ và ông Mai Văn T:

  • Hủy giấy CNQSD đất số AÐ102224 do UBND huyện B cấp đổi cho ông Phạm Đình C vào ngày 31/08/2006; ông Mai Văn T, ông Mai Văn Đ có quyền đăng ký cấp Giấy chứng nhận quyền sử sụng đất theo quy định của pháp luật.
  • Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất viết giấy tay ngày 22/3/2008 giữa ông Phạm Đình C với ông Mai Văn T đối với thửa đất số 73, diện tích là 31.280m², với giá trị 50 triệu đồng (đã đưa trước 30 triệu đồng) là vô hiệu. Buộc ông Phạm Đình C hoàn trả lại số tiền 30 triệu đồng và lãi suất là 61.002.740 đồng cho ông Mai Văn T.
  • 2/ Về án phí, chi phí tố tụng: đề nghị Tòa án giải quyết theo đúng quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:

Quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án là tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Bị đơn có địa chỉ tại xã H, huyện B, tỉnh Bình Thuận. Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a, c khoản 1 Điều 39; Điều 34 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận.

[2] Về thủ tục tố tụng:

Chị Phạm Thị Mai T1, chị Phạm Thị Mỹ H2, chị Phạm Thị Mỹ L, anh Phạm Đình T2, anh Phạm Đình T3, anh Huỳnh Văn C1 đã có đơn xin xét xử vắng mặt.Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Toà án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt chị Phạm Thị Mai T1, chị Phạm Thị Mỹ H2, chị Phạm Thị Mỹ L, anh Phạm Đình T2, anh Phạm Đình T3, anh Huỳnh Văn C1 là đúng theo quy định của pháp luật

[3] Về nội dung:

[3.1] Xét tính hợp pháp của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Mai Văn T với vợ chồng ông Phạm Đình C, bà Trần Thị Mỹ X được xác lập tại “Giấy sang nhượng đất rẫy” ngày 22/3/2008

Về hình thức giao dịch dân sự Điều 124 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định:

  1. Giao dịch dân sự được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể. Giao dịch dân sự thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử được coi là giao dịch bằng văn bản.
  2. Trong trường hợp pháp luật quy định giao dịch dân sự phải được thể hiện bằng văn bản, phải có công chứng hoặc chứng thực, phải đăng ký hoặc xin phép thì phải tuân theo các quy định đó.

Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Mai Văn T với vợ chồng ông Phạm Đình C, bà Trần Thị Mỹ X được xác lập tại “Giấy sang nhượng đất rẫy” ngày 22/3/2008. Hợp đồng này được hai bên xác lập thông qua “Giấy sang nhượng đất rẫy”, người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự, hoàn toàn tự nguyện và các bên đã thanh toán hơn 50% giá trị quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, đối tượng của hợp đồng là thửa đất số 73, diện tích là 31.280m², đất trồng cây hàng năm khác. Địa chỉ thửa đất: Thôn H, xã H, huyện B, tỉnh Bình Thuận thì ông Mai Văn T lại là người trực tiếp canh tác từ năm 1996 đến nay.

Về điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự Điều 122 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định:

  1. Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:
    • Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự;
    • Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội;
    • Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện.
  2. Hình thức giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch trong trường hợp pháp luật có quy định.

Điều 127 BLDS 2005 qui định: “Giao dịch dân sự không có một trong các điều kiện được quy định tại Điều 122 của Bộ luật này thì vô hiệu”.

Điều 411 BLDS 2005 qui định trường hợp hợp đồng dân sự vô hiệu do có đối tượng không thể thực hiện được.

HĐXX xét thấy vào thời điểm ông Mai Văn T với vợ chồng ông Phạm Đình C, bà Trần Thị Mỹ X thực hiện việc chuyển nhượng quyền sử dụng theo “Giấy sang nhượng đất rẫy” lập ngày 22/3/2008. Ông Phạm Đình C đã được UBND huyện B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số L032400 cấp ngày 07/2/1998 với diện tích được quyền sử dụng 56.461m², trong đó có thửa đất số 73, diện tích là 31.280m², đất trồng cây hàng năm khác, địa chỉ thửa đất thôn H, xã H, huyện B, tỉnh Bình Thuận.

Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đều công nhận thửa đất số 73, diện tích là 31.280m², đất trồng cây hàng năm khác, địa chỉ thửa đất thôn H, xã H, huyện B, tỉnh Bình Thuận có nguồn gốc là do ông Mai Văn Đ và ông Mai Văn T quản lý sử dụng sản xuất nông nghiệp từ năm 1996 đến nay. Hiện nay ông Mai Văn T đang quản lý sử dụng và có trồng cây keo lá tràm.

Theo công văn số 2841/UBND-SX ngày 27/9/2024 của UBND huyện B: UBND huyện B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AĐ102224 cho ông Phạm Đình C vào ngày 31/8/2006 đối với thửa đất số 73, diện tích là 31.280m² là không đúng đối tượng sử dụng đất.

Như vậy, căn cứ vào Điều 122, Điều 127, Điều 411 BLDS 2005 thì Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa anh Mai Văn T với vợ chồng ông Phạm Đình C, bà Trần Thị Mỹ X được xác lập tại “Giấy sang nhượng đất rẫy” ngày 22/3/2008 là vô hiệu

[3.2] Giải quyết hậu quả pháp lý của hợp đồng vô hiệu

Tại phiên tòa hôm nay, ông Mai Văn T và chị Nguyễn Thị Mỹ N yêu cầu ông Phạm Đình C trả lại cho ông Mai Văn T và chị Nguyễn Thị Mỹ N với số tiền là 30.000.000 đồng cộng với tiền lãi ngân hàng theo lãi suất vay từ ngày 22/3/2008 đến ngày xét xử sơ thẩm là 61.002.740 đồng. Yêu cầu giải quyết hậu quả pháp lý của hợp đồng vô hiệu trên có lợi cho bị đơn. Vì vậy, HĐXX nghĩ nên buộc ông Phạm Đình C cùng người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà Trần Thị Mỹ X phải trả cho ông Mai Văn T và chị Nguyễn Thị Mỹ N số tiền là 91.002.740 đồng là phù hợp

[3.3] Đối với yêu cầu huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông Phạm Đình C

Ngày 07/02/1998, UBND huyện B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số L032400 đứng tên ông Phạm Đình C được quyền sử dụng 56.461m², trong đó có thửa đất số 73, diện tích là 31.280m², đất trồng cây hàng năm khác, địa chỉ thửa đất thôn H, xã H, huyện B, tỉnh Bình Thuận.

Trước năm 1996 diện tích đất tranh chấp này là của gia đình ông Phạm Đình C quản lý, sử dụng. Đến năm 1996 gia đình ông Phạm Đình C chuyển nhượng ông Nguyễn Văn H3, công dân thôn H, xã H. Đến tháng 11/1996 ông Nguyễn Văn H3 chuyển nhượng lại cho ông Mai Văn Đ (là em ruột của ông Mai Văn T). Ông Mai Văn Đ và ông Mai Văn T quản lý sử dụng sản xuất nông nghiệp từ năm 1996 đến nay. Hiện nay ông Mai Văn T đang quản lý, sử dụng và có trồng cây keo lá tràm

Theo công văn số 2841/UBND-SX ngày 27/9/2024 của UBND huyện B: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AÐ102224 do UBND huyện B cấp cho ông Phạm Đình C vào ngày 31/08/2006 đối với thửa đất số 73, diện tích là 31.280m² là không đúng đối tượng sử dụng đất. Đề nghị Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình có quyết định tuyên hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AÐ102224 do UBND huyện B cấp cho ông Phạm Đình C vào ngày 31/08/2006 (Cấp đổi)

Vì thế, yêu cầu của ông Mai Văn T và ông Mai Văn Đ về việc hủy 01 phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số L032400 cấp ngày 07/02/1998 mang tên ông Phạm Đình C với diện tích được quyền sử dụng 56.461m², đối với thửa đất số 73, diện tích là 31.280m² và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AÐ102224 do UBND huyện B cấp cho ông Phạm Đình C vào ngày 31/08/2006 (Cấp đổi) đối với thửa đất số 73, diện tích là 31.280m², đất trồng cây hàng năm khác, địa chỉ thửa đất thôn H, xã H, huyện B, tỉnh Bình Thuận là có cơ sở chấp nhận

Từ những phân tích nêu trên, yêu cầu khởi kiện của ông Mai Văn T và ông Mai Văn Đ là có căn cứ nên chấp nhận toàn bộ

[4] Do ông Phạm Đình C thuộc diện người cao tuổi và đã có đơn xin miễn nộp án phí dân sự sơ thẩm nên được miễn án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Chị Phạm Thị Mai T1, chị Phạm Thị Mỹ H2, chị Phạm Thị Mỹ L, anh Phạm Đình T2, anh Phạm Đình T3, anh Phạm Đình N1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật

[5]Ông Mai Văn T tự nguyện nộp chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản là 7.500.000đ nên HĐXX không xem xét.

[6]Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát đối với vụ án phù hợp với nhận định của Tòa án nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng:

Khoản 3, khoản 9 Điều 26; Điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm a, c khoản 1 Điều 39; Điều 34; Khoản 1 Điều 147; Điều 165, Điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 122; Điều 127; Điều 298; Điều 411 Bộ luật dân sự năm 2005; Khoản 5 Điều 1 Nghị quyết số 104/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội về việc thi hành Luật tố tụng hành chính năm 2015; Khoản 1 Điều 203 Luật Đất đai năm 2013; Điều 6; Điều 7 Nghị định 70/CP ngày 12/6/1997 của Chính phủ về án phí, lệ phí Tòa án. Khoản 1 Điều 48 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

  1. Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Mai Văn T với vợ chồng ông Phạm Đình C, bà Trần Thị Mỹ X được xác lập tại “ Giấy sang nhượng đất rẫy” ngày 22/3/2008 là vô hiệu
  2. Buộc ông Phạm Đình C, chị Phạm Thị Mai T1, chị Phạm Thị Mỹ H2, chị Phạm Thị Mỹ L, anh Phạm Đình T2, anh Phạm Đình T3, anh Phạm Đình N1 phải trả cho ông Mai Văn T và bà Nguyễn Thị Mỹ N số tiền là 91.002.740 đồng
  3. Hủy 01 phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số L032400 cấp ngày 07/02/1998 mang tên ông Phạm Đình C với diện tích được quyền sử dụng 56.461m², đối với thửa đất số 73, diện tích là 31.280m² và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AÐ102224 do UBND huyện B cấp cho ông Phạm Đình C vào ngày 31/08/2006 (Cấp đổi) đối với thửa đất số 73, diện tích là 31.280m², đất trồng cây hàng năm khác. Địa chỉ thửa đất: Thôn H, xã H, huyện B, tỉnh Bình Thuận.
  4. Về án phí:
    • Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho ông Phạm Đình C
    • Chị Phạm Thị Mai T1, chị Phạm Thị Mỹ H2, chị Phạm Thị Mỹ L, anh Phạm Đình T2, anh Phạm Đình T3, anh Phạm Đình N1: Mỗi người phải nộp 650.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm
    • Trả lại cho ông Mai Văn T số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm là 750.000₫ mà ông Mai Văn T đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 008456 ngày 25/08/2008 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bắc Bình.
    • Trả lại cho ông Mai Văn Đ số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm là 1.432.000đ mà ông Mai Văn T đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0009210 ngày 08/01/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bắc Bình.
  5. Về chi phí tố tụng:
    • Ông Mai Văn T tự nguyện nộp số tiền 7.500.000 đồng chi phí xem xét thẩm định và định giá tài sản, ông Mai Văn T đã nộp đủ.
  6. Về quyền kháng cáo: Nguyên, bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (26-02-2025). Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a,7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lâm Quốc Tuấn

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bình Thuận;
  • - VKSND huyện Bắc Bình;
  • - Chi cục THADS huyện Bắc Bình;
  • - Đương sự;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, V.P

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 02/2025/DS-ST ngày 26/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC BÌNH TỈNH BÌNH THUẬN về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 02/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/02/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC BÌNH TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Mai Văn Th
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger