Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TRỰC NINH

TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02/2025/DS -ST

Ngày 25 tháng 02 năm 2025

V/v: “Tranh chấp chia di sản thừa kế

và chia tài sản chung vợ chồng”.

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRỰC NINH, TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Văn Dũng.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Văn Chuyết.
  2. Bà Hoàng Thị Thu Hường.

- Thư ký phiên toà: Ông Đào Đức Tài - Thẩm tra viên.

- Đại diện VKSND huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị T - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Trực Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 34/2024/TLST-DS ngày 02/10/2024 về việc “Tranh chấp chia di sản thừa kế và chia tài sản chung vợ chồng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2025/QĐXXST-DS ngày 07/01/2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Cụ Dương Thị T1, sinh năm 1933; Trú tại: Tổ dân phố V, thị trấn C, huyện T, tỉnh Nam Định.
  2. Người đại diện theo uỷ quyền của cụ Dương Thị T1: Bà Nguyễn Thị O, sinh năm 1958; Trú tại: Số A, tổ dân phố A, Phạm Ngũ L, thị trấn D, huyện D, tỉnh Lâm Đồng.

  3. Bị đơn:
    1. Anh Nguyễn Thanh N, sinh năm 1993 (con ông Nguyễn Thanh Đ); Trú tại: Số A N, tổ A, thị trấn D, huyện D, tỉnh Lâm Đồng.
    2. Anh Nguyễn Thanh H, sinh năm 1995 (con ông Nguyễn Thanh Đ); Trú tại: Số A N, tổ A, thị trấn D, huyện D, tỉnh Lâm Đồng.
  4. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Bà Nguyễn Thị O, sinh năm 1958; Trú tại: Số A, tổ dân phố A, Phạm Ngũ L, thị trấn D, huyện D, tỉnh Lâm Đồng.
    2. Ông Nguyễn Thanh H1, sinh năm 1959; Trú tại: Tổ dân phố V, thị trấn C, huyện T, tỉnh Nam Định.
    3. Người đại diện theo pháp luật của ông Nguyễn Thanh H1: Bà Nguyễn Thị T2, sinh năm 1966 (vợ ông H1); Trú tại: Tổ dân phố V, thị trấn C, huyện T, tỉnh Nam Định.

    4. Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1961; Trú tại: Tổ dân phố T, thị trấn C, huyện T, tỉnh Nam Định.
    5. Bà Nguyễn Thị L1, sinh năm 1968; Trú tại: Tổ dân phố V, thị trấn C, huyện T, tỉnh Nam Định.
    6. Anh Nguyễn Thanh L2, sinh năm 1988 (con ông Nguyễn Thanh Đ); Trú tại: Số H N, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
    7. Bà Nguyễn Thị M1, sinh năm 1968 (vợ ông Nguyễn Thanh Đ); Trú tại: Số nhà A, Nguyễn Trung T3, tổ A, thị trấn D, huyện D, tỉnh Lâm Đồng.

Tại phiên tòa: Có mặt cụ T1, bà Nguyễn Thị O, bà Nguyễn Thị L1, bà Nguyễn Thị M, bà Nguyễn Thị T2; Vắng mặt: Bà Nguyễn Thị M1, anh Nguyên Thanh L3, anh Nguyễn Thanh H và anh Nguyễn Thanh N (đều có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại Đơn khởi kiện, Bản tự khai và Biên bản hòa giải, nguyên đơn cụ Dương Thị T1 và người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn trình bày:

Cụ T1 và chồng cụ là cụ Nguyễn Quang O1 (Cụ O1 là liệt sỹ hy sinh năm 1969), sinh được 05 người con gồm: bà Nguyễn Thị O, ông Nguyễn Thanh H1, bà Nguyễn Thị M, bà Nguyễn Thị L1 và ông Nguyễn Thanh Đ (ông Đ chết năm 2018, có hai vợ là bà Phạm Thị Trần D (đã ly hôn) và bà Nguyễn Thị M1. Giữa ông Đ và bà D có một người con là anh Nguyễn Thanh L2. Giữa ông Đ và bà M1 có hai người con là anh Nguyễn Thanh N và Nguyễn Thanh H. Ngoài ra vợ chồng cụ không có con chung hoặc con riêng nào khác.

Quá trình chung sống với nhau vợ chồng cụ có khối tài sản chung là thửa đất số 141, tờ bản đồ số 3, diện tích 910m² (gồm 240m² đất thổ cư, 260m² đất trồng cây lâu năm và 410m² đất ao), tại tổ dân phố V, thị trấn C, huyện T, tỉnh Nam Định. Nguồn gốc thửa đất là của ông cha để lại cho vợ chồng cụ sử dụng. Quá trình sử dụng thửa đất, vợ chồng cụ có xây dựng 01 ngôi nhà diện tích khoảng 30m² để ở. Cụ Nguyễn Quang O1 tham gia kháng chiến hy sinh năm 1969, không để lại di chúc hoặc văn bản tặng cho đối với phần di sản của mình. Sau khi cụ O1 chết cụ T1 cùng các con vẫn ở trên thửa đất này. Năm người con của cụ lớn lên đều đi xây dựng gia đình ra ở riêng, chỉ có vợ chồng ông Nguyễn Thanh H1 và bà Nguyễn Thị T2 ở cùng cụ trên thửa đất này. Thời gian gần đây có chị Nguyễn Thị L1 là con gái cũng về ở cùng cụ để tiện việc trông nom chăm sóc cụ.

Quá trình sử dụng thửa đất 141, ngày 12/7/1994, UBND huyện T (UBND huyện N cũ) đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đối với thửa đất 141 mang tên cụ Nguyễn Thị O2 (lấy theo tên chồng), đến tháng 6/2024 giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đã được đính chính, sửa đổi mang tên cụ Dương Thị T1. Đến nay, do tuổi cao, sức yếu cụ muốn phân chia thửa đất trên cho các con nhưng con trai của ông Nguyễn Thanh Đ là anh Nguyễn Thanh N và anh Nguyễn Thanh H không đồng ý ký giấy tờ đê phân chia đất. Vì vậy cụ khởi kiện, đề nghị Toà án phân chia tài sản chung của vợ chồng cụ là thửa đất 141, tờ bản đồ số 3, tại tổ D, thị trấn C, huyện T, tỉnh Nam Định và chia di sản thừa kế di sản của cụ Nguyễn Quang O1 để lại theo pháp luật.

Cụ đề nghị Tòa án phân chia thửa đất như sau:

- Phân chia tài sản chung của vợ chồng cụ là thửa đất 141, tờ bản đồ số 3, tổ dân phố V, thị trấn C, huyện T, tỉnh Nam Định. Phần tài sản thuộc quyền sử dụng của cụ là ½ thửa đất cụ nhận để sử dụng riêng. Phần di sản của cụ O1 là ½ thửa đất, cụ đề nghị phân chia cho những người thừa kế của cụ O1 theo quy định của pháp luật.

- Để thuận tiện cho việc sử dụng đất và đăng ký Quyền sử dụng đất theo đúng quy định của luật đất đai, Cụ đề nghị: Đối với diện tích đất là di sản của cụ O1 cụ đề nghị mở một ngõ đi chung có chiều rộng khoảng 02 mét, kéo dài từ ngoài đường vào phia trong và gộp kỷ phần của cụ và của ông Nguyễn Thanh H1, ông Nguyễn Thanh Đ thành một thửa để sử dụng chung.

Tại Đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn là anh Nguyễn Thanh N và anh Nguyễn Thanh H có ý kiến thống nhất như sau:

Thửa đất 141 là đất của cha ông nhiều đời để lại, các anh đề nghị duy trì làm nới thờ cúng tổ tiên. Trường hợp không thể hoà giải thống nhất được phải phân chia di sản của cụ O1 các anh đề nghị Tòa án giải theo quy định của pháp luật. Đối với phần di sản các anh được nhận các anh xin được nhận bằng quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật. Do điều kiện ở xa các anh xin vắng mặt khi Tòa án xét xử vụ án.

Tại Đơn đề nghị xét xử vắng mặt, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị M1 có ý kiến như sau:

Bà là vợ ông Nguyễn Thanh Đ (ông Đ chết năm 2018), giữa bà và ông Đ có hai người con chung là Nguyễn Thanh H và Nguyễn Thanh N. Ông Đ có một người con riêng là Nguyễn Thanh L2. Ngoài ra ông Đ không có con nuôi con riêng nào khác.

Về nguồn gốc thửa đất 141 theo bà được biết là của ông bà nội ông Đ để lại cho con cháu. Về việc mẹ chồng bà (cụ Dương Thị T1) khởi kiện chia tài sản chung vợ chồng và chia di sản thửa kế của bố chồng bà là cụ Nguyễn Quang O1, bà đề nghị Tòa án giải quyết theo pháp luật. Về việc chia di sản thừa kế của cụ O1 (bố chồng bà) bà có quan điểm như sau: Bà và hai người con của bà mong muốn được nhận kỷ phần thừa kế của ông Đ là quyền sử dung đất và nhập phần đất vào phần đất bà L1 và bà M được nhận vào chung một thửa để sử dụng chung. Do điều kiện hiện nay bà ở xa, bận nhiều công việc không về trực tiếp tham dự xét xử vụ án, bà xin được vắng mặt.

Tại Đơn đề nghị xét xử vắng mặt, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, anh Nguyễn Thanh L2 có ý kiến như sau:

Anh là con trai của ông Nguyễn Thanh Đ và bà Phạm Thị Trần D. Giữa bố anh với mẹ anh chỉ có một người con là anh (Nguyễn Thanh L2). Bố anh với vợ thứ hai là bà Nguyễn Thị M1 có 02 con chung là Nguyễn Thanh N và Nguyễn Thanh H. Anh đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà nội anh là Dương Thị T1. Anh đề nghị Toà án giao lại phần di sản thừa kế anh được nhận cho bà nội anh là cụ Dương Thị T1 được sử dụng. Do điều kiện hiện nay các anh ở xa, bận nhiều công việc không về trực tiếp tham dự xét xử vụ án, các anh xin được vắng mặt.

Tại Bản tự khai và Biên bản hoà giải, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị O có ý kiến như sau:

Bà đồng ý với yêu cầu khởi kiện và ý kiến phân chia di sản của mẹ bà là cụ Dương Thị T1. Đối với kỷ phần thừa kế của bà được nhận, bà đề nghị được nhận bắng quyền sử dụng đất. Để đảm bảo việc sử dụng và kê khai cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo đúng quy định của Luật đất đai, bà đề nghị gộp 03 phần đất là kỷ phần thừa kế của bà, bà Nguyễn Thị L1 và bà Nguyễn Thị M được nhận thành một thửa để sử dụng chung và giao cho một người được đứng tên kê khai đăng ký quyền sử dụng. Sau này nếu ai sử dụng hoặc bán thì phải thanh toán cho những người còn lại theo giá trị bằng 1/3 giá trị thửa đất. Nếu có sự chênh lệch về giá trị kỷ phần thừa kế với diện tích đất được giao sử dụng bà không yêu cầu những người thừa kế khác phải trả chênh lệch cho bà.

Tại Bản tự khai và Biên bản hoà giải, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị L1 có ý kiến như sau:

Bà đồng ý với nội dung yêu cầu khởi kiện và việc phân chia đất của của mẹ bà (cụ Dương Thị T1) và nhất trí với ý kiến về việc phân chia đất của bà O. Bà nhất trí gộp diện tích đất của bà được nhận với diện tích đất của bà O, bà M được chia thành một thửa để sử dụng chung. Bà đề nghị được đứng tên kê khai đăng ký quyền sử dụng đối với thửa đất bà, bà O và bà M được nhận sử dụng. Sau này nếu chuyển nhượng thửa đất chung cho ai bà có trách nhiệm thanh toán cho bà O, bà M mỗi người được 1/3 giá trị thửa đất, nếu làm sai bà xin chịu trách nhiệm trước pháp luật. Nếu bà được nhận giá trị chênh lệch về kỷ phần thửa kế với quyền sử dụng đất được chia mà cụ T1 và ông H1 phải trả cho bà, bà xin được từ chối không nhận vì hoàn cảnh gia đình ông H1 hiện nay rất khó khăn. Đối với phần đất của ông Nguyễn Thanh Đ được chia, để đảm bảo cho việc quản lý sử dụng bà đề nghị giao phần đất này cho mẹ bà là cụ T1 được sử dụng.

Tại Bản tự khai và Biên bản hoà giải, người đại diện theo pháp luật của ông Nguyễn Thanh H1 là bà Nguyễn Thị Thanh C ý kiến như sau:

Bà đồng ý với yêu cầu khởi kiện và ý kiến của bà Dương Thị T1 về việc phân chia tài sản chung và chia thừa kế di sản của cụ O1 theo pháp luật. Gia đình bà đã ở cùng cụ T1 tại thửa đất 141 từ khi bà lấy ông H1 cho đến nay. Hiện nay hoàn cảnh gia đình bà rất khó khăn, ông H1 mắc bệnh thần kinh bà đề nghị Toà án xem xét chia cho ông H1 được quyền sử diện tích đất trên có ngôi nhà của vợ chồng bà đang ở và gộp chung phần đất ông H1 và bà T1 được chia thừa kế thành 01 thửa để sử dụng chung và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng chung. Nếu vợ chồng bà phải trả chênh lệch về kỷ phần thừa kế vợ chồng bà không có khả năng thanh toán.

Tại Biên bản ghi lời khai, Biên bản hoà giải, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị M có ý kiến như sau:

Bà nhất trí với nội dung đơn khởi kiện của mẹ bà về việc chia tài sản chung và phân chia di sản của bố bà là cụ Nguyễn Quang O1 theo pháp luật. Về phần các con chung và tài sản chung của bố mẹ bà cũng như nguồn gốc thửa đất và quá trình bố mẹ bà cùng các con đã sinh sống tại thửa đất 141. Quan điểm của bà về việc phân chia đất như sau:

- Bà không đồng ý với ý kiến của bà O, bà L1 về việc gộp chung 03 kỷ phần di sản thừa kế mà bà, bà O, bà L1 được chia để sử dụng chung.

- Bà không đồng ý mở ngõ đi chung ở giữa thửa đất như ý kiến của mẹ bà, bà O, bà L1 và bà T2.

- Bà đề nghị để lại một diện tích đất phía trong giáp nhà ông H2 có chiều dài 15m và một chiều giáp đất của cụ T1 để xây nơi thờ cúng chung của gia đình. Sau khi trừ đi diện tích đất để xây nơi thờ cúng chung, diện tích đất còn lại tiến hành chia tài sản chung của bố mẹ bà và chia di sản thừa kế của bố bà để lại.

- Bà đề nghị được nhận kỷ phần thửa kế của bà là quyến sử dụng đất. Đối với phần đất này bà không sử dụng mà để lại làm ngõ để đi vào nơi thờ cúng chung. Ngõ đi này được kéo dài từ ngoài đường đến nhà thờ chung và có diện tích bằng kỷ phần thừa kế mà bà được nhận.

* Theo yêu cầu của đương sự, ngày 05/12/2024 Tòa án nhân dân huyện Trực Ninh thành lập Hội đồng định giá, tiến hành xem xét thẩm định thực tế và định giá đối với di sản thửa đất 141, tờ bản đồ số 3, tổ dân phố V, thị trấn C, huyện T, tỉnh Nam Định.

  1. Kết quả xem xét hiện trạng thửa đất 141 như sau:
  2. - Thửa đất 141 hiện tại có diện tích là 939,8m² (tăng so với giấy chứng nhận là 29,8m²), có tứ cận như sau: Phía Bắc giáp nhà ông H2; Phía Nam giáp đường xóm; Phía Đông giáp đất ông H3, ông T4; Phía Tây giáp đường.

    - Tại phía Bắc, phía Đông và phía Tây thửa đất đã xây tường bao hoặc xây nhà ngăn cách với các hộ liền kề. Phần diện tích đất ao tại thửa 141 đã được san lấp thành vườn.

  3. Các công trình kiến trúc, cây trồng tại thửa đất:
  4. - Công trình kiến trúc gồm: Nhà mái ngói đỏ (nhà số A); Gian buồng giáp nhà mái ngói; Mái tôn trước gian buồng; Sân bê tông trước gian buồng; 01 hố ga; Bể nước; Sân bê tông trước nhà số A; T5 rào trước nhà số A; Nhà lợp tôn (nhà số B) ; Hiên trước nhà số B; Nhà bếp + Nhà tắm + Nhà vệ sinh; Đường bê tông từ ngoài đường vào nhà, đã nứt vỡ; T5 rào phía Tây thửa đất, ao đã bị nấp thành vườn.

    - Cây trồng trên thửa đất gồm: Tại thửa đất có 06 cây mít, 03 cây na, 01 cây khế, 01 cây hồng và một số cây chuối.

    Cụ T1 và bà T2 đều có ý kiến: Các công trình nhà cửa xây dựng trên đất do cụ T1 và vợ chồng bà T2 xây dựng hoặc sửa lại không đề nghị Toà án xem xét định giá. Diện tích đất ao đã san nấp thành vườn và đường bê tông từ ngoài đường vào nhà do cụ T1 làm đã nứt vỡ và một số cây cối do cụ T1, vợ chồng ông H1 trồng trên thửa đất, cụ T1 và bà T2 không đề nghị Tòa án xem xét định giá.

  5. Kết quả định giá.
    1. Về giá đất: Giá trị chuyển nhượng thực tế theo giá thị trường tại thời điểm hiện nay tại vị trí thửa đất số 141 như sau:
    2. - Đất ở là 8.000.000 đồng/1m² (tám triệu đồng/1m²).

      - Đất vườn và đất ao đã san lấp là 3.000.000 đồng/1m² (ba triệu đồng/1m²).

    3. Giá trị thực tế hiện nay của các công trình kiến trúc tại thửa đất số 141 như sau:
    4. - Nhà số 1: Lòng nhà: 27.786.000 đồng; Buồng: 25.337.000 đồng; Hiên nhà: 8.548.000 đồng; Mái tôn: 2.696.000 đồng.

      - Nhà số 2: Nhà: 14.227.000 đồng; Hiên nhà: 10.842.000 đồng.

      - Nhà tắm + Nhà bếp + Nhà vệ sinh tạm: 4.625.000 đồng.

      - Sân bê tông: Trước buồng nhà số 1. 830.000 đồng; Trước nhà số A: 2.576.000 đồng.

      - Hố ga: 341.000 đồng; T5 rào lùn: 1.270.000 đồng; Bể nước: 3.981.000 đồng; T5 rào ngõ: 1.586.000 đồng;. Cột lưới B40: 1.040.000 đồng; Cát san lấp ao: 283.000 đồng/1m³.

Chính quyền UBND thị trấn C cung cấp như sau:

Cụ Dương Thị T1 (tên gọi khác Nguyễn Thị O2, lấy theo tên chồng) và chồng là cụ Nguyễn Quang O1 (là liệt sỹ hy sinh năm 1969) có 05 người con gồm bà Nguyễn Thị O, ông Nguyễn Thanh H1, bà Nguyễn Thị M, bà Nguyễn Thị L1 và ông Nguyễn Thanh Đ (đã chết năm 2018). Ngoài ra không còn con chung hoặc con nuôi, con riêng nào khác.

Nguồn gốc thửa đất số 141, tờ bản đồ số 3, tổ dân phố V, thị trấn C, huyện T, tỉnh Nam Định là của bố mẹ ông O1 để lại cho vợ chồng ông O1 bà T1.

Theo bản đồ năm 1986 (bản đồ 299) thửa đất 141 là thửa đất 429, tờ bản đồ số 1, thị trấn C, huyện T, tỉnh Nam Định có diện tích 810m² mang tên O1.

Theo bản đồ năm 1992 chỉnh lý năm 2022, thửa đất 429 đổi thành thửa đất 141, có diện tích 910 m² gồm: 240m² đất ở, nằm tại vị trí phía Bắc và phía Đông thửa đất; 260m² đất vườn, nằm tại vị trí phía Nam và phía Đông thửa đất và 410m² đất ao, nằm ở vị trí phía Nam thửa đất.

Ngày 12/7/1994 thửa đất 141 đã được UBND huyện N cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Nguyễn Thị O2 (lấy theo tên chồng). Thửa đất của cụ Dương Thị T1 và các hộ liền kề đã ký giáp ranh giữa các thửa đất và không có tranh chấp.

Theo đo đạc hiện trạng ngày 05/12/2024, diện tích thửa đất 141 tăng thêm 29,8m². Phần diện tích đất tăng thêm này được xác định là do sai số khi đo đạc và nằm trong diện tích đất ao. Hiện nay bà T1, bà L1 và gia đình ông H1 đang ở tại thửa đất này.

Tại phiên tòa:

- Nguyên đơn, đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị O, bà Nguyễn Thị L1 và bà Nguyễn Thị T2 (người đại diện cho ông Nguyễn Thanh H1), vẫn giữ nguyên quan điểm như trong lời khai và biên bản hòa giải. Bà L1 không đồng ý gộp chung phần đất của bà được chia vào phần đất của bà M và mẹ con bà M1 để sử dụng chung.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị M có quan điểm: Đối với kỷ phần thừa kế của bà được nhận bà đề nghị được nhận kỷ phần bằng quyền sử dụng đất và gộp phần đất của bà vào phần đất của bà L1 và ba mẹ con bà M1 thành một thửa để sử dụng chung.

- Đại diện VKSND huyện Trực Ninh phát biểu ý kiến:

* Về thủ tục tố tụng:

Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa của Thẩm phán và HĐXX đã thực hiện đúng quy định của BLTTDS. Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền và nghĩa vụ liên quan đã chấp hành đung quy định về quyền và nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70; 71, 72.

Tại phiên tòa, Bà M1, anh L2, anh N, anh H có đơn xin văng mặt, HĐXX xét xử vắng mặt là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

* Về nội dung: Căn cứ khoản 5 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39, Điều 227, Điều 228 BLTTDS

- Căn cứ Điều 33, 59 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 609, 612, 623, 649, 650, 651 Bộ luật dân sự 2015; Điều 166, Điều 167 Luật đất đai; Điều 147 BLTTDS; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Dương Thị T1;
  2. - Chia di sản thừa kế của ông Nguyễn Quang O1 là ½ thửa đất số 141, tờ bản đồ số 03, diện tích là 455m² tại Tổ dân phố V, thị trấn C, huyện T, tỉnh Nam Định cho bà T1, ông H1, bà L1, bà M, bà O, ông Đ. Kỷ phần thừa kế của ông Đ giao cho hàng thừa kế thứ nhất của ông Đ là bà T1, bà M1, anh L2, anh N, anh H được nhận.

    - Chấp nhận sự tự nguyện của anh L2 nhường phần đất được chia cho bà T1 sử dụng.

  3. Về án phí: Đề nghị Tòa án tuyên theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng

  1. Cụ Dương Thị T1 có đơn khởi kiện yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng và chia thừa kế theo pháp luật đối với di sản của cụ Nguyễn Quang O1 (cụ O1 là chồng của cụ T1 đã chết năm 1969) là thửa đất số 141, tờ bản đồ số 3, tổ dân phố V, thị trấn C, huyện T, tỉnh Nam Định đã được UBND huyện N (nay là UBND huyện T) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng năm 1995 mang tên cụ Dương Thị T1. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định theo quy định tại khoản 5 Điều 26, khoản 1 Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
  2. Bà Nguyễn Thị M1, Anh Nguyễn Thanh N, anh Nguyễn Thanh H và anh Nguyễn Thanh L2 là bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án đều đã có bản tự khai, có đơn xin xét xử vắng mặt, Tòa án xét xử vắng mặt bà M1, anh H, anh L2, anh N là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.
  3. Ông Nguyễn Thanh H1 mắc bệnh thần kinh, vì vậy Toà án đưa vợ ông H1 là bà Nguyễn Thị T2 tham gia tố tụng với tư cách là người đại diện theo pháp luật của ông H1 là đúng theo quy định pháp luật.

[2] Về việc phân chia tài sản chung của vợ chồng của cụ T1:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời khai của các đương sự đã có đủ cơ sở kết luận: Thửa đất số 141, tờ bản đồ số 3, tổ dân phố V, thị trấn C, huyện T, tỉnh Nam Định có nguồn gốc là của tổ tiên của cụ O1 để lại cho vợ chồng cụ O1 và cụ T1 sử dụng. Qúa trình sử dụng thửa đất năm 1995, UBND huyện N (nay là UBND huyện T) đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất mang tên cụ Dương Thị T1. Vì vậy, thửa đất số 141 được xác định là tài sản chung của vợ chồng cụ T1 và cụ O1. Theo đo đạc thực tế hiện nay, thửa đất 141 có diện tích 939,8 m² đất (gồm: 240m² đất ở; 260m² đất vườn và 439,8m² đất ao), Theo kết quả định giá thửa đất hiện nay có trị giá là 4.020.000đ (làm tròn). Theo quy định của pháp luật về việc phân chia tài sản chung của vợ chồng, cụ T1 và cụ O1 mỗi người được quyền sử dụng 1/2 thửa đất có diện tích 470m² đất (gồm 120m² đất ở, 130m² đất ao và 220m² đất ao), trị giá theo kết quả định giá là 2.010.000.000 đồng.

- Trước đây trên thửa đất 141 có 01 ngôi nhà tạm, diện tích khoảng 30m² do vợ chồng cụ T1 xây dựng cách đây khoảng 40 năm. Hiện nay ngôi nhà này không còn do cụ T1 đã nhiều lần sửa chữa, cải tạo thành ngôi nhà như hiện nay. Vì vậy ngôi nhà tạm nêu trên không xác định là tài sản chung của vợ chồng cụ T1. Đây là tài sản riêng của cụ T1.

- Để đảm bảo cho việc sử dụng đất và tài sản trên đất, HĐXX xét thấy cần phân chia thửa đất làm đôi, cụ T1 được sử dụng một nửa diện tích đất nằm phía Nam thửa đất 141 có diện tích 470m², toàn bộ là đất vườn ao, trên đất không có xây dựng công trình kiến trúc gì, có giá trị: 1.410.000.000đ. Một nửa diện tích đất còn lại nằm phía Bắc thửa đất 141 trên có nhà của T1 và vợ chồng ông H1 đang ở xác định là là phần diện tích đất thuộc di sản của cụ O1 để lại để phân chia cho các thừa kế sử dụng là phù hợp. Như vậy chênh lệch về giá trị tài sản, cụ T1 được nhận khi phân chia tài sản chung của vợ chồng bằng giá trị là 2.010.000.000 đồng - 1.410.000.000 đồng = 600.000.000 đồng.

[3] Về việc phân chia di sản của cụ Nguyễn Quang O1.

  1. Về xác định di sản và diện, hàng thừa kế di sản của cụ Nguyễn Quang O1:
  2. Cụ Nguyễn Quang O1 và cụ Dương Thị T1 sinh được có 05 người con gồm: bà Nguyễn Thị O, ông Nguyễn Thanh H1, bà Nguyễn Thị M, bà Nguyễn Thị L1 và ông Nguyễn Thanh Đ (ông Đ chết năm 2018 có 03 người con là Nguyễn Thanh L2, Nguyễn Thanh N và Nguyễn Thanh H. Cụ O1 chết năm 1969, không có di chúc để lại, di sản của cụ O1 để lại là quyền sử dụng 1/2 diện tích đất tại thửa 141 là 470,m² đất (gồm 120m² đất ở, 130m² đất vườn và 220m² đất ao), có giá trị 2.010.000 đồng sẽ được phân chia thừa kế theo pháp luật cho những người thừa kế thuộc hàng thừa kế thứ nhất. Gồm: Cụ T1, bà O, ông Đ, ông H1, bà L4, bà M, mỗi người được một kỷ phần thừa kế. Ông Đ đã chết năm 2018, kỷ phần thừa kế của ông Đ được giao cho những người thừa kế thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông Đ là cụ T1, bà Nguyễn Thị M1 (vợ ông Đ) và ba người con của ông Đ là Nguyễn Thanh L2, Nguyễn Thanh H và Nguyễn Thanh N được quyền sử dụng, mỗi người được nhận 1/5 kỷ phần thừa kế ông Đ được nhận.

  3. Về phân chia di sản thừa kế của cụ O1 bằng giá trị:
  4. - Di sản của cụ O1 để lại là là quyền sử dụng 1/2 thửa đất 141 có diện tích 470,m² đất (gồm 120m² đất ở, 130m² đất vườn và 2 20m² đất ao), có giá trị 2.010.000.000₫ đồng. Di sản được chia đều cho 06 thừa kế mối người được nhận một kỷ phần thừa kế có giá trị: 2.010.000.000₫ : 06 = 336.000.000 đồng. Kỷ phần thừa kế của ông Đ có giá trị 336.000.000 đồng được chia cho cụ T1, bà M1 (vợ ông Đ) và 03 người con là anh L2, anh H, anh N mỗi người được1/5 kỷ phần có giá trị là 336.000.000₫ : 4 = 67.500.000 đồng.

  5. Phân chia di sản bằng giá trị quyền sử dụng đất:
  6. Căn cứ theo sơ đồ hiện trạng của thửa đất và yêu cầu phân chia di sản là quyền sử dụng đất của những người thừa kế, để đảm bảo cho việc sử dụng đất và việc đăng ký quyền sử dụng đất theo đúng quy định của Luật đất đai năm 2024, HĐXX xét thấy cần chấp nhận yêu cầu phân chia di sản của cụ O1 để lại bằng quyền sử dụng đất như sau: Mở một ngõ đi chung nằm trên diện tích đất là di sản của cụ O1 để lại có chiều rộng 1,7m, chiều dài 22,3m kéo dài từ ngoài đường xóm vào đến phần đất hiện tại cụ T1 và gia đình ông H1 đang sử dụng. Phần ngõ đi chung này có diện tích 40 m² (phần đất ngõ nằm trên diện tích đất ao) có giá trị: 40m² x 3.000.000đ/1m² = 120.000.000đ. Phần đất còn lại sau khi trừ đi diện tích ngõ đi chung còn lại là 430m² được chia làm 06 kỷ phần, mỗi kỷ phần có diện tích là: 430m² : 6 = 71,66m².

    Do cụ T1 và gia đình ông H1 từ trước đến nay vẫn sinh sống tại ngôi nhà trên một phần thửa đất 141, HĐXX xét thấy cần tiếp tục giao cho cụ T1 và gia đình ông H1 phần đất có nhà để tiếp tục sử dụng là phù hợp. Đối với kỷ phần của ông Đ xét thấy hiện nay bà M1 và hai người con là anh H, anh N đang sinh sống tại D, L5 đồng không có nhu cầu sử dụng đất, anh L2 lại có nguyện vọng để lại cho cụ T1 sử dụng, diện tích đất ông Đ được chia cũng không đủ để cấp Giấy chứng nhận. Vì vậy phần đất thuộc kỷ phần thửa kế của ông Đ HĐXX xét thấy cần giao cho cụ T1 sử dung, cụ T1 có trách nhiệm thanh toán kỷ phần thửa kế theo giá trị cho bà M1, anh N và anh H là phù hợp. Như vậy cụ T1 được quyền sử dụng 143,32m², trị giá 1.146.656.000đ. Vợ chồng ông H1, bà T2 được sử dụng diện tích đất là 71,66, trị giá 259.333.000đ. Tổng diện tích đất cụ T1 và ông H1 được sử dụng là 214m², trị giá: 214m² x 8.000.000đ/m² = 1.712.000.000 đồng.

    Diện tích đất còn lại là 216m² (gồm 26m² đất ở, 190m² đất ao), trị giá : 778.000.000đ, được chia cho bà O, bà M, bà L1 mỗi người được quyền sử dụng: 71,66m², trị giá 259.333.000 đồng.

  7. Xét đề nghị của cụ T1, bà T2 về việc gộp phần đất cụ T1 và ông H1 được chia vào một thửa để để sử dụng chung và cùng đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, HĐXX xét thấy: Yêu cầu của bà T1 và bà T2 là tự nguyện, phù hợp với quy định của pháp luật, phù hợp với hiện trạng sử dụng các công trình kiến trúc trên đất được chia là có căn cứ phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận. Cụ T1 và ông H1 được quyền kê khai, đăng ký quyền sử dụng chung thửa đất theo quy định của pháp luật.
  8. Xét yêu cầu của bà O, bà L1 về việc gộp chung 03 kỷ phần thừa kế của bà O, bà L1 và bà M được nhận thành một thửa đất để sử dung chung, bà L1 được đại diện đứng tên kê khai đăng ký quyền sử dụng đất, HĐXX xét thấy: Phần diện tích đất của mỗi bà được chia không đủ điều kiện để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo Luật đất đai năm 2024. Vì vậy, cần gộp 03 diện tích đất bà O, bà M và bà L1 được chia thành 01 thửa để sử dụng chung là phù hợp. (mỗi bà được quyền sử dụng 1/3 thửa đất). Ba Oanh, bà M và bà L1 được quyền kê khai đăng ký quyền sử dụng chung thửa đất theo quy định của pháp luật.
  9. Xét đề nghị của bà Nguyễn Thị M, bà Nguyễn Thi M2 về gộp phần đất bà M và bà M2, anh H, anh N vào một thửa để sử dụng chung, HĐXX xét thấy bà L1 không đồng ý gộp phần đất của bà được chia với phần đất của bà M và mẹ con bà M2 vào một thửa để sử dụng chung vì vậy đề nghị của bà M về việc phân chia đất không được chấp nhận.
  10. Về việc thanh toán chênh lệch kỷ phần thừa kế bằng giá trị được nhận với quyền sử dụng đất các đương sự được giao sử dụng:
  11. - Theo quy định của pháp luật, di sản thừa kế của cụ O1 được chia cho 06 người thừa kế mỗi người được nhận một kỷ phần có giá trị là 336.000.000đ. (ba trăn ba sáu triệu đồng).

    - Phân chia di sản bằng quyền sử dụng đất: Cụ T1, ông Đ, ông H1 mỗi người được nhận sử dụng 71,66m² đất ở có giá trị là 573.280.000 đồng. So với kỷ phần thừa kế mỗi người được chia theo pháp luật với giá trị quyền sử dụng đất được chia thì cụ T1, ông Đ, ông H1 được chia giá trị quyền sử dụng đất vượt là 573.280.000₫ – 336.000.000đ = 237.280.000 đồng.

    Bà O, bà M, bà L1 mỗi người được nhận sử dụng 71,66m², tổng là 216m² (gồm 26m² đất ở, 190m² đất ao) tổng trị giá: 778.000.000đ. Mỗi bà được nhận kỷ phần bằng quyền sử dụng đất có giá trị là 259.333.000đ. So với kỷ phần thừa kế được nhận theo quy định mỗi người còn thiếu 336.000.000₫ - 259.333.000 = 76.667.000đ. Bà O, bà L1 không yêu cầu cụ T1, ông H1 phải thanh Toán tiền chênh lệch tài sản. Vì vậy cụ T1 và ông H1 phải thanh Toán cho bà M số tiền chênh lệch tài sản là 76.667.000đ; Mỗi người phải trả cho bà M là 38.333.500đ. Cụ T1 được giao sử dụng kỷ phần thừa kế của ông Đ trị giá 336.000.000đ. Cụ T1 phải có trách nhiệm thanh toán giá trị phần thừa kế cho bà M2, anh H, anh N mối người là 336.000.000đ : 5 = 67.500.000 đồng.

    - Bà M được nhận tiền chênh lệch tài sản do cụ T1 và ông H1 thanh toán là 76.667.000đ. Cụ thể: Cụ T1 mỗi 38.333.500đ, ông H1 là 38.333.500 đồng.

    - Bà M2, anh N, anh H được nhận giá trị kỷ phần thừa kế của ông Đ để lại do cụ T1 thanh toán mỗi người là 67.500.000 đồng.

    [4] Về án phí:

    1. Cụ T1, bà O, ông H1 là người cao tuổi có đơn xin miễn án phí nên được miễn án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 12 Nghị quyết số 326/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH.
    2. Bà M, bà L1, anh N, anh H, bà M2 phải nộp án phí dân sự theo quy định của pháp luật. Cụ thể:
    3. - Bà L1, bà M mỗi người phải nộp 336.000.000₫ x 5% = 16.800.000 đồng (mười sáu triệu, tám trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.

      - Anh Nguyễn Thanh N, anh Nguyễn Thanh H và bà Nguyễn Thị M1 mỗi người phải nộp 67.500.000₫ x 5% = 3.375.000 đồng (ba triệu, ba trăm bẩy mươi lăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.

    [5] Chi phí xem xét thẩm định, định giá tài sản: Bà O nhận nộp toàn bộ chi phí xem xét thẩm định, định giá tài sản. Bà O đã nộp đủ nên không xem xét.

    Vì các lẽ trên,

    QUYẾT ĐỊNH:

    Căn cứ vào các Điều 134, 135, 136 609, 610, 611, 612, 613, 623, 649, 650, 651, 652 của Bộ luật dân sự; Các Điều 5, 26, 35, 91, 147, 157, 161, 165 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 203 Luật Đất đai; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

    1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của cụ Dương Thị T1 về việc chia tài sản chung của vợ chồng và chia di sản thừa kế của cụ Nguyễn Quang O1.
      1. Giao cho cụ Dương Thị T1 được sử dụng 470m² đất vườn ao tại thửa đất 141, tờ bản đồ số 3, tổ dân phố V, thị trấn C, huyện T, tỉnh Nam Định. Có tứ cận như sau:
      2. - Phía Bắc: Giáp đất ông H4 dài 13,1 mét.

        - Phía Nam: Giáp đường xóm, dài 12,3 mét.

        - Phía Đông: Giáp đất ông H3 và ông T4, dài 37,2 mét.

        - Phía Tây: Giáp ngõ đi chung và đất sử dụng chung giữa bà T1 và ông H1, dài 40 mét.

        (có sơ đồ kèm theo).

      3. Giao cho cụ Dương Thị T1 và ông Nguyễn Thanh H1 được sử dụng chung và đứng tên chung trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích 214m² đất ở tại thửa đất 141, tờ bản đồ số 3, tổ dân phố V, thị trấn C, huyện T, tỉnh Nam Định. Có tứ cận như sau:
      4. - Phía Bắc: Giáp đất ông H4, dài 11,4 mét.

        - Phía Nam: Giáp đất ngõ đi chung và đất sử dụng chung của bà O, bà M và bà L1, dài 12 mét.

        - Phía Đông: Giáp đất giao cho bà T1, dài 17,7 mét.

        - Phía Tây: Giáp ngõ xóm, dài 18,8 mét.

        (có sơ đồ kèm theo).

      5. Giao cho bà Nguyễn Thị O, bà Nguyễn Thị M và bà Nguyễn Thị L1 được quyền sử dụng chung diện tích 216m² đất (gồm 26m² đất ở và 190m² đất ao tại thửa đất 141, tờ bản đồ số 3, tổ dân phố V, thị trấn C, huyện T, tỉnh Nam Định. Có tứ cận như sau:
      6. - Phía Bắc: Giáp đất sử dụng chung của bà T1 và ông H1, dài 10,3 mét.

        - Phía Nam: Giáp đường xóm, dài 9,2 mét.

        - Phía Đông: Giáp ngõ đi chung, dài 22,5 mét.

        - Phía Tây: Giáp ngõ xóm, dài 21,7 mét.

        (có sơ đồ kèm theo).

      7. Ngõ đi chung có diện tích là 40m², có tứ cận như sau:
      8. - Phía Bắc: Giáp đất sử dụng chung của bà T1 và ông H1, dài 1,7 mét.

        - Phía Nam: Giáp đường xóm, dài 1,7 mét.

        - Phía Đông: Giáp đất giao cho bà T1, dài 22,3 mét.

        - Phía Tây: Giáp đất sử dụng chung của bà O, bà M và bà L1, dài 22,5 mét. (có sơ đồ kèm theo).

    2. Các đương sự có nghĩa vụ liên hệ với các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quyết định của Bản án.
    3. Cụ Dương Thị T1 phải trả cho bà Nguyễn Thị M số tiền chênh lệch kỷ phần thừa kế là 38.333.500 đồng (ba mươi tám triệu, ba trăm ba mươi ba nghìn, năm trăm đồng)
    4. Cụ Dương Thị T1 phải trả cho bà Nguyễn Thị M1, anh Nguyễn Thanh H và anh Nguyễn Thanh N mỗi người là 67.500.000 đồng (sáu mươi bẩy triệu, năm trăm nghìn đồng) là giá trị kỷ phần thừa kế của ông Đ mà bà Nguyễn Thị M1, anh Nguyễn Thanh H và anh Nguyễn Thanh N được nhận.
    5. Ông Nguyễn Thanh H1 phải trả cho bà Nguyễn Thị M 38.333.500 đồng (ba mươi tám triệu, ba trăm ba mươi ba nghìn, năm trăm đồng) tiền chênh lệch giá trị kỷ phần thừa kế được nhận với quyền sử dụng diện tích đất được giao sử dụng.
    6. Về án phí dân sự:
      1. Miễn án phí dân sự sơ thẩm đối với cụ Dương Thị T1, bà Nguyễn Thị O và ông Nguyễn Thanh H1.
      2. Bà Nguyễn Thị L1 phải nộp 16.800.000 đồng (mười sáu triệu tám trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự.
      3. Bà Nguyễn Thị O phải nộp 16.800.000 đồng (mười sáu triệu tám trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự.
      4. Anh Nguyễn Thanh N phải nộp 3.375.000 đồng (ba triệu, ba trăm bẩy năm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
      5. Anh Nguyễn Thanh H phải nộp 3.375.000 đồng (ba triệu, ba trăm bẩy năm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
      6. Bà Nguyễn Thị M1 phải nộp 3.375.000 đồng (ba triệu, ba trăm bẩy năm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
    7. Quyền kháng cáo:
    8. Trong thời hạn 15 ngày: Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo kể từ ngày tuyên án. Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án theo quy định của BLTTDS.

      Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế Thi hành án theo các Điều 6, Điều7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu Thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

    Nơi nhận:

    • - VKSND huyện Trực Ninh;
    • - Chi cục THADS huyện Trực Ninh;
    • - UBND TT. Cổ Lễ;
    • - Các đương sự;
    • - Lưu hồ sơ vụ án; VP.

    TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

    THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

    Bùi Văn Dũng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 02/2025/DS -ST ngày 25/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRỰC NINH, TỈNH NAM ĐỊNH về tranh chấp chia di sản thừa kế và chia tài sản chung vợ chồng

  • Số bản án: 02/2025/DS -ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp chia di sản thừa kế và chia tài sản chung vợ chồng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/02/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRỰC NINH, TỈNH NAM ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp chia di sản thừa kế và chia tài sản chung vợ chồng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger