|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÕ NHAI TỈNH THÁI NGUYÊN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 02/2025/HS-ST
Ngày 24/02/2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÕ NHAI, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thanh Huyền;
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thị Thúy và ông Nguyễn Thành Nhật.
Thư ký phiên toà: Bà Nông Thị Lý, Thư ký Toà án nhân dân huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Võ Nhai tham gia phiên toà: Ông Đặng Văn Hoàng, Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 04/2025/TLST-HS ngày 23/01/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2025/QĐXXST-HS ngày 10/02/2025, đối với bị cáo:
Hoàng Văn T
, tên gọi khác: không; sinh ngày 12/10/1972, tại Lạng Sơn; nơi cư trú: xóm C, xã T, huyện V, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: làm ruộng; trình độ học vấn: 05/12; dân tộc: Tày; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Minh Đ, đã chết và bà Hoàng Thị H, đã chết; có vợ là Trần Thị N, có 03 con. Tiền án, tiền sự, nhân thân: không. Bị cáo tại ngoại, có mặt.
- Nguyên đơn dân sự:
Ủy ban nhân dân huyện V, tỉnh Thái Nguyên; người đại diện theo pháp luật: Bà Bùi Thị S - Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện V; người đại diện theo uỷ quyền: Ông Nguyễn Hồng S1 - Phó Trưởng phòng Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện V, có đơn đề nghị xử vắng mặt;
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Hữu C, sinh năm 1954; có đơn đề nghị xử vắng mặt
- Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1956; có mặt
- Anh Nguyễn Văn M, sinh năm 1980; có đơn đề nghị xử vắng mặt;
Cùng nơi cư trú: xóm L, xã T, huyện V, tỉnh Thái Nguyên.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 20/6/2000 Ủy ban nhân dân huyện V cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Q693724, số vào số 00316QSDĐ/4043/1998/QĐ-UB/H cho anh Nguyễn Văn M, sinh năm 1980, trú tại xóm L, xã T, huyện V quản lý sử dụng 120.100m² đất rừng gồm các thửa 100, 101, 102 khoảnh 15, tiểu khu C Bản đồ giao đất lâm nghiệp xã T năm 1998 là đất rừng tự nhiên thuộc xóm L, xã T, huyện V, tỉnh Thái Nguyên.
Sau khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất anh M không canh tác, trồng cây trên phần đất rừng tự nhiên. Cũng trong một phần diện tích đất rừng tự nhiên tại các thửa đất trên vào khoảng năm 1997, khi anh M chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì gia đình ông Nguyễn Hữu C, sinh năm 1954, trú tại xóm L, xã T, huyện V, đã tự phát dọn bề mặt đất rừng có diện tích khoảng 01 (ha) để canh tác trồng cây lương thực cho gia đình. Sau khi canh tác được một vài năm gia đình ông C không canh tác nữa mà để hoang, đến tháng 10/2021 đã tự ý bán lại phần diện tích đất rừng này cho Hoàng Văn T. Sau đó T có nhu cầu trồng cây Bồ đề lấy gỗ bán để phát triển kinh tế, nhưng T không làm các thủ tục đề nghị cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cho phép cắt hạ cây trên bề mặt rừng để lấy đất trống trồng cây.
Vào khoảng tháng 10/2021 đến tháng 3/2022 T đã sử dụng dao, cưa cắt hạ cây thân gỗ, cây bụi trên bề mặt rừng, phát dọn bề mặt rừng. Sau khi đốt dọn xong T đã trồng cây Bồ đề và khoai sọ trên diện tích đất rừng này. Đến ngày 07/4/2022 UBND xã T kiểm tra phát hiện thửa đất Hoàng Văn T đã phá, đốt dọn thuộc thửa đất số 203 tờ bản đồ số 3 Bản đồ địa chính đất lâm nghiệp xã T năm 2006, chỉnh lý năm 2013 (thuộc lô 2, khoảnh 9C, tiểu khu A Bản đồ quy hoạch 3 loại rừng xã T; thuộc thửa đất số 102 khoảnh 15, tiểu khu C Bản đồ giao đất lâm nghiệp xã T năm 1998) là rừng tự nhiên quy hoạch rừng sản xuất nên đã tiến hành lập biên bản sự việc.
Ngày 26/4/2022 UBND xã T đã chuyển hồ sơ vụ việc đến Hạt kiểm lâm huyện V để giải quyết. Sau khi xác minh giải quyết ban đầu, ngày 03/6/2022 Hạt kiểm lâm huyện V chuyển hồ sơ cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V để điều tra theo thẩm quyền.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, tại hiện trường quá trình kiểm đếm xác định có 232 gốc cây bị cắt hạ (xác định được tên 23 loại cây gỗ), phần cây bị cắt hạ không còn lại ở hiện trường, diện tích rừng bị huỷ hoại là 13.286m². Số lượng lâm sản đã bị chặt, phát, đốt và thiệt hại về kinh tế, thời điểm khai thác không xác định được do số lượng lâm sản bị cắt phá không còn lại hiện trường và không thu giữ được.
Tại kết luận giám định số: 336-2023/KL/LNNĐ ngày 29/12/2023 của V nhiệt đới kết luận:
“- Vị trí chặt, phát, đốt thuộc thửa 203 tờ bản đồ số 3 Bản đồ địa chính xã T năm 2006 chỉnh lý năm 2013 thuộc quy hoạch rừng sản xuất đảm bảo tiêu chí rừng tự nhiên theo quy định tại Điều 4, Mục 1, Chương II, Nghị định số 156/2018/NĐ-CP.
- Diện tích bị chặt, phát, đốt là 13.286m².
- Các mẫu gỗ gửi giám định thuộc các nhóm từ V đến VIII đều là loài thực vật thông thường, không có tên trong Sách đỏ Việt Nam và các văn bản pháp luật hiện hành về các loài thực vật nguy cấp, quý hiếm, bị đe dọa tuyệt chủng (có bảng kê kèm theo bản kết luận).
- Về khối lượng lâm sản, thiệt hại kinh tế, thời điểm bị chặt, phát, đốt: Chưa đủ hồ sơ, tài liệu để xác định”.
Ngày 11/6/2024 V Nhiệt đới ban hành Công văn số 158/LNNÐ-KHTC giải thích về nội dung kết luận giám định:
“Tại thời điểm khám nghiệm hiện trường, Viện nghiên cứu và phát triển nhiệt đới được mời tham dự và sử dụng thiết bị chuyên dụng để xác định diện tích khu vực bị chặt, phát đốt. Quá trình khám nghiệm các thành phần liên quan đã xác định diện tích rừng khu vực bị chặt phát, đốt tại thời điểm khám nghiệm không có sự thay đổi so với thời điểm ban đầu khi phát hiện sự việc. Vì diện tích bị chặt, phát, đốt rất rộng, địa hình nhiều khu vực hiểm trở và phương pháp đo của Viện trong buổi khám nghiệm cần phải có thời gian phân tích để ra số liệu chính xác nhất, không thể cho ra kết quả ngay tại hiện trường. Do vậy, đoàn khám nghiệm hiện trường đã thống nhất ghi diện tích rừng khu vực bị chặt phát, đốt theo số liệu đo ban đầu của Hạt kiểm lâm huyện V trước đó có trong hồ sơ vụ việc. Sau khi thu thập dữ liệu và xử lý dữ liệu, kết quả chính xác của từng khu vực được thể hiện trong Bản kết luận định số 336-2023/KL-LNNĐ, ngày 29/12/2023 của V Nhiệt đới. Do vậy, lý do sự sai khác về diện tích khu vực bị chặt phát, đốt giữa biên bản khám nghiệm và Bản kết luận giám định là vì:
- Do phương pháp sử dụng để xác định diện tích giữa V nhiệt đới và các đơn vị đã đo trước đó có trong hồ sơ là khác nhau nên dẫn đến kết quả khác nhau, có sự chênh lệch về diện tích bị chặt phát, đốt.
- Về phương pháp Viện Nghiên cứu và Phát triển Lâm nghiệp nhiệt đới sử dụng trong quá trình khám nghiệm được thực hiện theo tiêu chuẩn quốc gia TCVN 13458:2021 về phương pháp xác định diện tích rừng bị thiệt hại và thông tư số 33/2018/TT-BNNPTNT của Bộ N1: Quy định về điều tra, kiểm kê và theo dõi diễn biến rừng. Viện sử dụng thiết bị bay/chụp chuyên dụng để bay/chụp diện tích chặt phá rừng (theo tiêu chuẩn quốc gia TCVN 13458:2021 về phương pháp xác định diện tích rừng bị thiệt hại). Sau khi khám nghiệm tại hiện trường, Viện đã tiến hành xử lý nội nghiệp số liệu bay/chụp, số hóa bản đồ sử dụng phần mềm chuyên dụng GIS cho ra kết luận diện tích chặt phá tại Kết luận giám định số 336-2023/KL-LNNĐ, ngày 29/12/2023. Trong quá trình Viện thực hiện khám nghiệm hiện trường đã phối hợp cùng công an huyện, Viện Kiểm sát nhân dân huyện, UBND xã và các thành phần có liên quan. Viện khẳng định kết quả giám định là chính xác, việc giám định được thực hiện khách quan, phản ánh đúng thực trạng tại thời điểm khám nghiệm, đúng quy định của pháp luật.”
Vật chứng của vụ án:
01 cưa máy vỏ cam, 01 lam xích kim loại, cũ đã qua sử dụng; 01 dao kim loại, cán dài 34cm, lưỡi cong một cạnh sắc dài 19,5cm, cũ đã qua sử dụng do bị cáo giao nộp;
Trong quá trình khám nghiệm hiện trường ngày 29/7/2022 đã thu giữ 232 mẫu gỗ, đã lấy 23 mẫu phục vụ cho công tác giám định. Còn lại 209 mẫu gỗ kích thước không đồng đều, đã khô.
Toàn bộ vật chứng trên hiện đang được bảo quản tại Kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự huyện Võ Nhai chờ xử lý.
Về trách nhiệm dân sự: Nguyên đơn dân sự Ủy ban nhân dân huyện V đề nghị giải quyết theo quy định pháp luật.
Cáo trạng số 05/CT-VKSVN ngày 20/01/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Võ Nhai truy tố bị cáo Hoàng Văn T về tội “Hủy hoại rừng” theo điểm đ khoản 2 Điều 243 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử sơ thẩm các vấn đề cụ thể sau:
Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn Trọng phạm T2 “Hủy hoại rừng”;
- Về hình phạt: Đề nghị áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 243, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự, Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xử phạt bị cáo Hoàng Văn T 36 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 tháng. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về trách nhiệm dân sự: ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo đã nộp số tiền 5.000.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Võ Nhai để khắc phục hậu quả.
- Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
+ Tịch thu tiêu hủy: 01 dao kim loại; 209 mẫu gỗ kích thước không đồng đều, đã khô.
+ Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 cưa máy vỏ cam, 01 lam xích kim loại, cũ đã qua sử dụng.
- Về án phí: áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm sung ngân sách Nhà nước.
Tại phiên toà sơ thẩm bị cáo nhất trí với cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát.
Tại lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét cho hưởng mức án thấp nhất và xin được cải tạo tại địa phương.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện V, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo, nguyên đơn dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tư cách tham gia tố tụng: theo quyết định xét xử Tòa án xác định Ủy ban nhân dân huyện V và Ủy ban nhân dân xã T là nguyên đơn dân sự, tuy nhiên căn cứ các quy định của Luật Đất đai, Hội đồng xét xử xác định lại trong vụ án chỉ có Ủy ban nhân dân huyện V là nguyên đơn dân sự.
[2] Theo các tài liệu thu thập được trong quá trình điều tra và diễn biến tại phiên toà, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định:
Khoảng tháng 10/2021 đến tháng 3/2022, Hoàng Văn T không được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cho phép, nhưng đã tự ý dùng dao phát dọn đốt cây bụi và dùng cưa máy chặt phát 232 cây gỗ gồm 23 chủng loại khác nhau trên tổng diện tích 13.286m² tại thửa số 203 tờ bản đồ số 3 Bản đồ địa chính xã T năm 2006 chỉnh lý năm 2013 (thuộc lô 2, khoản 9C, tiểu khu A Bản đồ quy hoạch 03 loại rừng; thửa đất số 102 khoảnh 15, tiểu khu C Bản đồ giao đất lâm nghiệp xã T năm 1998) là rừng sản xuất trạng thái rừng tự nhiên thuộc xóm L, xã T, huyện V, tỉnh Thái Nguyên. Mục đích chặt phá của Hoàng Văn T là để trồng cây Bồ đề để phát triển kinh tế. Diện tích rừng này UBND huyện V đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho anh Nguyễn Văn M, sinh năm 1980, trú tại xóm L, xã T, huyện V ngày 20/6/2000.
[3] Lời khai của bị cáo phù hợp với Biên bản kiểm tra, biên bản khám nghiệm hiện trường, kết luận giám định, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và các tài liệu khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Hành vi của bị cáo Hoàng Văn T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Hủy hoại rừng” được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 243 Bộ luật Hình sự.
Điều 243 Bộ luật Hình sự:
“1. Người nào đốt, phá rừng trái phép hoặc có hành vi khác hủy hoại rừng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
...
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:
a) ...
đ) rừng sản xuất có diện tích từ 10.000 mét vuông (m²) đến dưới 50.000 mét vuông (m²)”.
[4] Tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về khai thác và bảo vệ rừng, xâm hại đến sự ổn định và bền vững của môi trường sinh thái, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự quản lý và bảo vệ rừng tại địa phương.
[5] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo thấy: bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; trong quá trình điều tra và tại phiên toà sơ thẩm bị cáo thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải, do vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo đã tự nguyện nộp số tiền 5.000.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Võ Nhai để khắc phục hậu quả nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bản thân bị cáo và gia đình đã hiến đất để làm đường dự án bê tông hóa nông thôn tại địa phương, được chính quyền địa phương xác nhận nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[6] Về hình phạt chính áp dụng đối với bị cáo: xét thấy bị cáo phạm tội do trình độ nhận thức hạn chế, mục đích để phát triển kinh tế gia đình. Bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú ổn định rõ ràng, phạm tội lần đầu, được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, quá trình điều tra đã nhận thức được sai phạm, hợp tác với cơ quan điều tra và có đơn xin cải tạo tại địa phương được chính quyền địa phương xác nhận. Xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo được hưởng án treo để cải tạo tại địa phương, điều này thể hiện chính sách khoan hồng của Đảng và Nhà nước đối với người phạm tội, cũng đủ khả năng giáo dục, cải tạo đối với bị cáo và răn đe phòng ngừa chung, phù hợp với quy định tại Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự về án treo.
[7] Về hình phạt bổ sung: xét thấy bị cáo làm ruộng, không có thu nhập ổn định, không có tài sản gì riêng có giá trị nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[8] Về trách nhiệm dân sự: Về khối lượng lâm sản, thiệt hại kinh tế, thời điểm bị chặt, phát, đốt: Chưa đủ hồ sơ, tài liệu để xác định. Tuy nhiên xác định có thiệt hại thực tế xảy ra, Nguyên đơn dân sự và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đề nghị giải quyết theo quy định pháp luật; bị cáo đã tự nguyện nộp số tiền 5.000.000 đồng để khắc phục hậu quả nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo.
[9] Về vật chứng của vụ án:
- 01 dao kim loại; 209 mẫu gỗ kích thước không đồng đều, đã khô là vật chứng vụ án, không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
- 01 cưa máy vỏ cam, 01 lam xích kim loại, cũ đã qua sử dụng cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
[9] Về các vấn đề khác:
- Đối với ông Nguyễn Hữu C bán cho Hoàng Văn T phần diện tích 13.286 m² đất trên với giá 500.000 đồng. Qua điều tra xác định diện tích đất trên là do gia đình ông C đã tự phát phá từ khoảng năm 1997 để trồng cây lương thực phục vụ sinh hoạt của gia đình. Gia đình ông C không làm thủ tục đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đối với thửa đất trên, không biết phần diện tích đất rừng đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng cho anh Nguyễn Văn M, việc ông C bán đất cho Hoàng Văn T chỉ là giao dịch dân sự, nên cơ quan điều tra không xem xét xử lý là phù hợp.
- Đối với số gỗ và cây bụi đã bị Hoàng Văn T chặt, phá, đốt, thời điểm đó không xác định được do số lượng lâm sản bị cắt phá không còn lại hiện trường và không thu giữ được nên không có căn cứ xem xét xử lý.
- Chủ quản lý diện tích rừng trên hiện đang giao cho hộ gia đình anh Nguyễn Văn M nhưng anh M không quản lý, sử dụng mà ông T1 là người trực tiếp quản lý sử dụng. Cơ quan điều tra đã tách phần nội dung trên để đề nghị UBND huyện V giải quyết theo quy định là phù hợp.
- Bị cáo có đơn đề nghị xin tự nguyện giao toàn bộ số cây Bạch đàn và cây Bồ đề đã gieo trồng trên diện tích đất (thuộc lô 2, khoảnh 9c, tiểu khu A Bản đồ quy hoạch 03 loại rừng xã T) thuộc địa phận xóm Làng Tràng, xã T cho Nhà nước để khắc phục hậu quả, Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện này, tuy nhiên do không xác định được số lượng, đặc điểm, tình trạng của số cây trên nên bị cáo được quyền liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để được giải quyết.
[10]. Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định. Bị cáo, nguyên đơn dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.
[11]. Xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Võ Nhai về áp dụng pháp luật và quan điểm giải quyết vụ án là phù hợp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn Trọng phạm T2 “Hủy hoại rừng”;
2. Về hình phạt: Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 243; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Xử phạt bị cáo Hoàng Văn T 36 (ba mươi sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm;
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện V, tỉnh Thái Nguyên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Toà án có thể quyết định buộc người thi hành án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
3. Về trách nhiện dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự. Ghi nhận bị cáo tự nguyện bồi thường cho Ủy ban nhân dân huyện V số tiền 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) theo Biên lai thu tiền số 0002952 ngày 20/02/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Võ Nhai.
Ủy ban nhân dân huyện V được nhận số tiền trên và có trách nhiệm liên hệ với Chi cục THADS huyện V để được nhận tiền bồi thường.
4. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy: 01 dao kim loại; 209 mẫu gỗ kích thước không đồng đều, đã khô.
- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 cưa máy vỏ cam, 01 lam xích kim loại, cũ đã qua sử dụng.
Đặc điểm, tình trạng vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng số 16 ngày 20/01/2025 giữa Công an huyện V và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Võ Nhai.
5. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm sung ngân sách Nhà nước.
6. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Nguyên đơn dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thanh Huyền |
Bản án số 02/2025/HS-ST ngày 24/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÕ NHAI, TỈNH THÁI NGUYÊN về hình sự (hủy hoại rừng)
- Số bản án: 02/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Hủy hoại rừng)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÕ NHAI, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hoàng Văn Trọng
