|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY BẮC TỈNH BẾN TRE |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 02/2025/KDTM-ST Ngày: 24-02-2025 V/v: “Tranh chấp hợp đồng mua bán”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY BẮC - TỈNH BẾN TRE
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoài Nhớ
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Nguyễn Thanh Hùng
- Ông Võ Tùng Chinh
Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Thu Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre: Ông Phan Trọng Thế – Kiểm sát viên.
Trong ngày 24 tháng 02 năm 2025, tại phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc xét xử sơ thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại sơ thẩm thụ lý số 09/2024/TLST-KDTM ngày 15 tháng 10 năm 2024 về việc: “Tranh chấp hợp đồng mua bán”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 299/2024/QĐXXST-KDTM ngày 13/12/2024, Thông báo về việc mở lại phiên toà số 21/TB-TA, ngày 06/01/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 11/2025/QĐST-KDTM ngày 23/01/2025. Giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Công ty TNHH V; Địa chỉ: số A đường T, tổ F, khu phố T, Phường P, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
Người đại diện pháp luật: Ông Nguyễn Văn H - Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng thành viên kiêm giám đốc.
Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn: Ông Đỗ Q, sinh năm 1982. Địa chỉ: số E ấp B, xã S, thành phố B, tỉnh Bến Tre.
- Bị đơn: Công ty TNHH S
Địa chỉ: T đất số 206, tờ bản đồ số 15, ấp H, xã H, huyện M, tỉnh Bến Tre.
Người đại diện pháp luật: Ông Nguyễn Đức H1.
Ông H có đơn xin giải quyết vắng mặt; người đại diện theo pháp luật của bị đơn ông H1 vắng mặt không lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 16/8/2024 của nguyên đơn Công ty TNHH V (sau đây được gọi là nguyên đơn) và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Đỗ Q, ông Q trình bày như sau:
Bị đơn có mua hàng hoá của nguyên đơn là G cuộn Polyester, Xơ P theo các hóa đơn giá trị gia tăng ngày 19/4/2022, 21/4/2022, 26/4/2022, 16/8/2022 với tổng giá trị mua bán là 113.124.550 đồng. Bị đơn đã thanh toán cho nguyên đơn số tiền 40.000.000 đồng còn nợ lại số tiền 73.124.550 đồng chưa thanh toán xong. Ngày 20/4/2023 đơn vị pháp lý của nguyên đơn có gửi công văn số 20.04/CV-TN, ngày 20/4/2023 về việc yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền mua hàng còn nợ nêu trên cho nguyên đơn. Tuy nhiên, đến nay bị đơn vẫn chưa thanh toán số tiền nợ 73.124.550 đồng. Nay nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn phải thanh toán tổng số tiền mua hàng còn nợ là 86.921.430 đồng (trong đó có 73.124.550 đồng nợ gốc và tiền lãi từ này 10/5/2023 đến ngày Toà án xét xử theo mức lãi suất 10%/năm, tạm tính là 13.796.880 đồng). Vì bận công việc nên người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn xin vắng.
Bị đơn người đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH S (sau đây được gọi là bị đơn) vắng mặt suốt quá trình giải quyết vụ án nên không có lời trình bày.
Tại phiên tòa vị đại diện Viện kiểm sát trình bày quan điểm kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự. Về tố tụng: Những người tiến hành tố tụng thực hiện đúng quy định pháp luật từ khi thụ lý đến xét xử; nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình, bị đơn chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình cụ thể còn vắng những lần Toà án mời; Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 6, Điều 21, 30, 35, 39 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015, Điều 306, 319 Luật Thương mại 2005 sửa đổi, bổ sung năm 2019, tuyên: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: buộc Công ty TNHH S thanh toán số tiền chậm trả là 73.124.550 đồng và 10% tiền lãi chậm thanh toán trên số tiền gốc này kể từ ngày 10/5/2023.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn, nội dung vụ án Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp của các đương sự đối với vụ án này là tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hoá được quy định tại Điều 24, 50 của Luật thương mại 2005 sửa đổi, bổ sung năm 2019, Điều 21, 30, 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân. Bị đơn Công ty TNHH S có đăng ký trụ sở chính tại Thửa đất số 206, tờ bản đồ số 15, ấp H, xã H, huyện M, tỉnh Bến Tre nên căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết theo trình tự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre.
Người đại diện theo uỷ quyền của các nguyên đơn ông Đỗ Quốc X vắng mặt, bị đơn được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là phù hợp.
Xét về thời hiệu khởi kiện: Tại Hợp đồng nguyên tắc số 19.ECO/NHN-2022, ngày 01/6/2022 được ký kết giữa người đại diện theo pháp của của hai bên, tại Điều 3 của hợp đồng có nội dung: “31. Phương thức thanh toán: Trong vòng 30 ngày kể từ ngày bên B nhận được đủ hàng hoá và hoá đơn GTGT 10%hợp lệ từ Bên A, bên B có nghĩa vụ thanh toán 100% giá trị thanh toán cho bên A”. Nguyên đơn giao nộp tài liệu chứng cứ để làm căn cứ khởi kiện đối với bị đơn có tất cả 04 hóa đơn giá trị gia tăng ngày 19/4/2022, 21/4/2022, 26/4/2022, 16/8/2022 đồng thời có kèm theo công văn số 20.04/CV-TN, ngày 20/4/2023 về việc yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền mua hàng còn nợ cho nguyên đơn nhưng không có tài liệu, chứng cứ chứng minh việc nhắc nợ. Đối chiếu quy định tại Điều 319 Luật Thương mại 2005 sửa đổi, bổ sung năm 2019: “Thời hiệu khởi kiện áp dụng đối với các tranh chấp thương mại là hai năm, kể từ thời điểm quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm, trừ trường hợp quy định tại điểm e khoản 1 Điều 237 của Luật này.” Như vậy, tính từ ngày nguyên đơn nộp đơn khởi kiện tại Tòa án để tranh chấp hợp đồng mua bán với bị đơn (ngày16/8/2024) thì chỉ có hóa đơn số 00000283 ngày 16/8/2022 là còn trong thời hiệu khởi kiện theo quy định Điều 319 Luật Thương mại 2005 sửa đổi, bổ sung năm 2019. Tuy nhiên, một trong các bên không có yêu cầu áp dụng thời hiệu nên Hội đồng xét xử không có căn cứ áp dụng thời hiệu đối với các hoá đơn hết thời hiệu khởi kiện theo khoản 2 Điều 149 Bộ luật dân sự năm 2015.
[2] Về nội dung vụ án: Căn cứ vào lời khai của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn và các tài liệu chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện là Hợp đồng nguyên tắc số 19.ECO/NHN-2022, ngày 01/6/2022 được ký kết giữa người đại diện theo pháp của của hai bên về việc mua bán hàng hoá là có thật trên cơ sở tự nguyện, nội dung mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng phù hợp với các quy định của pháp luật nên có giá trị pháp lý. Xét về thời điểm giao kết và thực hiện hợp đồng, Hội đồng xét xử căn cứ theo quy định Luật Thương mại năm 2005, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2019, cụ thể khoản 1 Điều 24 quy định: “Hợp đồng mua bán hàng hóa được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc được xác lập bằng hành vi cụ thể”; khoản 1 Điều 50 quy định: “Bên mua có nghĩa vụ thanh toán tiền mua hàng và nhận hàng theo thỏa thuận”, khoản 2 Điều 50 quy định: “Bên mua phải tuân thủ các phương thức thanh toán, thực hiện việc thanh toán theo trình tự, thủ tục đã thỏa thuận và theo quy định của pháp luật”. Đối chiếu Điều 3 của hợp đồng các bên ký kết có nội dung: “31. Phương thức thanh toán: Trong vòng 30 ngày kể từ ngày bên B nhận được đủ hàng hoá và hoá đơn GTGT 10%hợp lệ từ Bên A, bên B có nghĩa vụ thanh toán 100% giá trị thanh toán cho bên A”. Nguyên đơn đã giao hàng hoá cho bị đơn theo các hoá đơn và được nhân viên công ty bị đơn ký xác nhận vào các phiếu kho giao hàng với tổng giá trị mua bán là 113.124.550 đồng nhưng bị đơn chỉ thanh toán cho nguyên đơn số tiền 40.000.000 đồng còn nợ lại số tiền 73.124.550 đồng chưa thanh toán xong là vi phạm hợp đồng đã ký kết làm ảnh hưởng đến quyền lợi của bên bán là nguyên đơn.
Phía bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không đến, đồng thời không có văn bản thể hiện ý kiến phản đối của mình. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 24, 50 của Luật thương mại 2005 sửa đổi, bổ sung năm 2019 chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là phù hợp quy định pháp luật.
Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bị đơn phải trả tiền lãi suất chậm trả trên số tiền mua hàng còn nợ từ 10/5/2023 đến ngày Toà án xét xử theo mức lãi suất 10%/năm. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 306 Luật Thương mại năm 2005, đã được sửa đổi, bổ sung quy định về quyền yêu cầu tiền lãi do chậm thanh toán: “Trường hợp bên vi phạm hợp đồng chậm thanh toán tiền hàng hay chậm thanh toán thù lao dịch vụ và các chi phí hợp lý khác thì bên bị vi phạm hợp đồng có quyền yêu cầu trả tiền lãi trên số tiền chậm trả đó theo lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác”; căn cứ Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn tại điểm a khoản 1 Điều 13: “Đối với trường hợp chậm thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng mà các bên có thỏa thuận về việc trả lãi thì quyết định kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật; nếu không có thỏa thuận về mức lãi suất thì quyết định theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015”; tại khoản 2 Điều 13 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP hướng dẫn mức lãi suất hai bên thỏa thuận tại khoản 1 Điều 13 là mức lãi suất nợ quá hạn các bên thỏa thuận trong hợp đồng hoặc tại Tòa án, trường hợp các bên không có thỏa thuận về mức lãi suất nợ quá hạn thì mức lãi suất nợ quá hạn bằng 150% mức lãi suất trong hạn.
Xét Điều 3 Hợp đồng nguyên tắc hai bên thỏa thuận có quy định mức lãi chậm trả là 0,083%/ngày. Nguyên đơn yêu cầu tiền lãi chậm thanh toán 10%/năm là thấp hơn so với thỏa thuận giữa hai bên nên cần được chấp nhận mức lãi suất 10%/năm kể từ ngày 10/5/2023 đến ngày Toà án xét xử là phù hợp nên được chấp nhận.
Từ các nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy do bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo thỏa thuận gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn và nguyên đơn khởi kiện, yêu cầu thu hồi lại số tiền hàng hóa bị đơn còn nợ và tiền lãi chậm trả là có căn cứ và phù hợp với quy định pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn; Buộc bị đơn phải trả cho nguyên đơn tổng số tiền là 86.205.550 đồng (trong đó có 73.124.550 đồng nợ gốc và tiền lãi tính từ ngày 10/5/2023 đến ngày xét xử sơ thẩm theo mức lãi suất 10%/năm là 13.081.000 đồng).
[3]. Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm: Buộc bị đơn phải chịu toàn bộ án phí với số tiền là 4.310.000 đồng.
[4] Xét quan điểm của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận toàn bộ.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 24, khoản 1 và khoản 2 Điều 50, Điều 306 Luật Thương mại năm 2005, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2019; Điều 468, Điều 688 Bộ luật Dân sự năm 2015; điểm a khoản 1 và khoản 2 Điều 13 Nghị quyết 01/2019/NQ- HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH V.
Buộc Công ty TNHH S phải hoàn trả cho Công ty TNHH V tổng số tiền là 86.205.550 đồng (trong đó có 73.124.550 đồng nợ gốc và tiền lãi là 13.081.000 đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
- Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm: Buộc Công ty TNHH S phải chịu toàn bộ án phí với số tiền là 4.310.000 đồng.
Hoàn trả cho Công ty TNHH V số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 2.173.000 đồng theo biên lai thu số 0004534 ngày 15/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỏ Cày Bắc.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án tống đạt hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm.
- Về quyền thi hành án: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
- Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Hoài Nhớ |
Bản án số 02/2025/KDTM-ST ngày 24/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY BẮC TỈNH BẾN TRE về tranh chấp hợp đồng mua bán
- Số bản án: 02/2025/KDTM-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng mua bán
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/02/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY BẮC TỈNH BẾN TRE
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Công Ty TNHH Vina Eco Việt Nam tranh chấp hợp đồng mua bán với Công Ty TNHH Sản xuất thương mại dịch vụ Nguyễn Huy Nam
