TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI TỈNH LÀO CAI | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do- Hạnh phúc |
Bản án số: 02/2025/KDTM-ST Ngày 21 - 02- 2025 V/v “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI - TỈNH LÀO CAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nga;
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Vũ Thị Hòa;
- Ông Hoàng Văn Ngân;
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên tòa: Ông Hoàng Xuân Sơn – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hồng Liễu – Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Lào Cai, Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 22/2024/TLST - KDTM ngày 07/10/2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2025/QĐXXST-KDTM ngày 06/01/2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 05/2025/QĐST-KDTM ngày 24/01/2025 giữa:
Nguyên đơn: Công ty cổ phần T1
Địa chỉ trụ sở: Lô A, đường T, khu T, phường D, thành phố L, tỉnh Lào Cai.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Văn Q – Chức vụ: Giám đốc
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn P – Chức vụ: Phó Giám đốc.
Đăng ký thường trú: Tổ C, phường K, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Có mặt
Bị đơn: Công ty TNHH X
Địa chỉ theo đăng ký kinh doanh: Xóm B (Nay là xóm S), xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Văn T – Chức vụ: Giám đốc.
Đăng ký thường trú: Tổ F, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn công ty cổ phần T1 trình bày:
Ngày 10/3/2021, công ty cổ phần T1 ký hợp đồng kinh tế số 24/2021/HĐKT-DH với công ty TNHH X về việc mua bán bê tông thương phẩm để thực hiện dự án xây dựng: Nút giao đường C - Lào Cai tại thị trấn P, huyện B, tỉnh Lào Cai.
Trong quá trình cấp bê tông, hai công ty đều có bảng kê chi tiết khối lượng hoặc biên bản giao nhận nhưng công ty TNHH X nhiều lần chậm thanh toán nên công ty cổ phần T1 cũng đã nhiều lần dừng cấp bê tông. Sau đó, lãnh đạo Ban Q1 công trình giao thông tỉnh Lào Cai (Đơn vị chủ đầu tư dự án) có ý kiến đề nghị công ty cổ phần T1 tiếp tục cấp bê tông để đảm bảo tiến độ dự án vì đây là dự án trọng điểm của tỉnh Lào Cai nên công ty cổ phần T1 vẫn tiếp tục cung cấp bê tông cho công ty TNHH X.
- Tổng số lượng bê tông thương phẩm đã cấp cho công ty TNHH X là 5.018,8m³.
- Tổng giá trị bê tông đã cung cấp và dịch vụ bơm bê tông là: 5.132.304.000 đồng.
- Công ty TNHH X đã trả được cho công ty cổ phần T1 4.540.523.000 đồng (Bốn tỷ năm trăm bốn mươi triệu năm trăm hai mươi ba nghìn đồng) trong khoảng thời gian từ ngày 20/4/2021 đến 28/7/2022, tổng số 42 lần chuyển tiền.
Đến tháng 7/2022, công ty cổ phần T1 đã hoàn thành cung ứng bê tông theo Hợp đồng đã ký kết nhưng công ty TNHH X không thanh toán đủ số tiền theo số lượng bê tông đã nhận. Công ty cổ phần T1 đã nhiều lần đề nghị công ty TNHH X thanh toán số tiền còn nợ là 591.781.500 đồng (Năm trăm chín mươi mốt triệu, bảy trăm tám mươi mốt nghìn, năm trăm đồng) nhưng công ty TNHH X không trả nợ.
Ngày 01/7/2024, công ty TNHH X có văn bản số 68/CV/168-VNDT/2024 về việc thanh toán giá trị quyết toán và giá trị bảo hành công trình Phố Lu gửi Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình giao thông tỉnh L trong đó cam kết thanh toán cho công ty TNHH X 60% giá trị công nợ sau khi nhận được khoản thanh toán từ chủ đầu tư, tuy nhiên công ty TNHH X không thực hiện như cam kết.
Do vậy, công ty cổ phần T1 khởi kiện đề nghị Tòa án xem xét buộc công ty TNHH X phải trả số tiền còn nợ là 591.781.500 đồng (Năm trăm chín mươi mốt triệu, bảy trăm tám mươi mốt nghìn, năm trăm đồng) và 93.891.817 đồng lãi phát sinh do công ty TNHH X chậm thanh toán theo quy định tại Mục 4.3, Điều 4, Hợp đồng kinh tế số 24/2021/HĐKT-DH ngày 10/3/2021 tạm tính từ ngày 01/9/2022 đến ngày 16/9/2024.
Đến nay, công ty cổ phần T1 đề nghị Hội đồng xét xử xem xét buộc công ty TNHH X phải trả số tiền còn nợ là 591.781.500 đồng (Năm trăm chín mươi mốt triệu, bảy trăm tám mươi mốt nghìn, năm trăm đồng) và 133.831.790 đồng (Một trăm ba mươi ba triệu tám trăm ba mươi mốt nghìn bảy trăm chín mươi đồng) lãi phát sinh do công ty TNHH X chậm thanh toán theo quy định tại Mục 4.3, Điều 4, Hợp đồng kinh tế số 24/2021/HĐKT-DH ngày 10/3/2021 tính từ ngày 01/9/2022 đến ngày 21/02/2025. Cụ thể, tiền lãi được tính như sau:
Từ ngày 01/9/2022 đến ngày 06/10/2022 (36 ngày) số nợ gốc 791.781.500 đồng x 9%/năm = 7.028.417 đồng;
Từ ngày 07/10/2022 đến ngày 21/02/2025 (869 ngày) số nợ gốc 591.781.500 đồng x 9%/năm = 126.803.373 đồng (Lãi suất được tính theo thỏa thuận tại Mục 4.3, Điều 4, Hợp đồng kinh tế số 24/2021/HĐKT-DH ngày 10/3/2021 là lãi suất cho vay tín chấp của Ngân hàng TMCP C chi nhánh L tại thời điểm cho vay tính từ ngày 01/01/2022 đến hiện tại).
Bị đơn công ty TNHH X Thái Nguyên: Sau khi Toà án thụ lý vụ án, Toà án đã thực hiện tống đạt văn bản tố tụng theo quy định nhưng trụ sở công ty TNHH X không có người làm việc, người đại diện theo pháp luật của bị đơn là ông Phạm Văn T không có mặt tại nơi đăng ký thường trú. Vì vậy, Tòa án đã xác minh và niêm yết đầy đủ các văn bản tố tụng của Toà án cho bị đơn và người đại diện theo pháp luật của bị đơn nhưng bị đơn không có văn bản trả lời và cũng không có văn bản ý kiến, không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, vì vậy Toà án đã đưa vụ án ra xét xử.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, hội đồng xét xử, những người tiến hành tố tụng đảm bảo đúng trình tự luật định, không vi phạm thời hạn chuẩn bị xét xử, chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu đảm bảo. Nguyên đơn chấp hành đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định tại điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đúng, đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Đề nghị Tòa án áp dụng Điều 24, Điều 34. Điều 35, Điều 37, Điều 50, Điều 55, Điều 292, Điều 306 Luật thương mại; Điều 357, 430, Điều 434, Điều 440, Điều 468 Bộ luật dân sự; Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của ủy ban thường vụ Q2 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn công ty cổ phần T1, buộc công ty TNHH X phải trả số tiền còn nợ là 591.781.500 đồng (Năm trăm chín mươi mốt triệu, bảy trăm tám mươi mốt nghìn, năm trăm đồng) và 133.831.790 đồng (Một trăm ba mươi ba triệu tám trăm ba mươi mốt nghìn bảy trăm chín mươi đồng) lãi phát sinh do công ty TNHH X chậm thanh toán theo quy định tại Mục 4.3, Điều 4, Hợp đồng kinh tế số 24/2021/HĐKT-DH ngày 10/3/2021 tính từ ngày 01/9/2022 đến ngày 21/02/2025.
Tuyên án phí, lãi suất chậm thi hành án, quyền kháng cáo cho nguyên đơn, bị đơn theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]Về tố tụng: Nguyên đơn nộp đầy đủ các chứng cứ theo quy định. Tranh chấp cần giải quyết trong vụ án là tranh chấp kinh doanh thương mại về hợp đồng mua bán hàng hóa. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai theo khoản 1 Điều 30; Khoản 1 Điều 35; Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Quá trình giải quyết vụ án, toà án tiến hành thu thập chứng cứ bằng quyết định thu thập tài liệu, chứng cứ và công văn thu thập chứng cứ. Tại phiên toà có sự tham gia của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai theo quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự là đúng quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa bị đơn vắng mặt lần thứ 2 không có lý do nên Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bị đơn theo điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Xét yêu cầu khởi kiện:
[2.1] Về tính hợp pháp và nội dung của hợp đồng: Công ty cổ phần T1 và công ty TNHH X đều có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh theo đúng quy định pháp luật.
Ngày 10/3/2021, công ty cổ phần T1 ký hợp đồng kinh tế số 24/2021/HĐKT-DH với công ty TNHH X với nội dung mua bán bê tông thương phẩm để thực hiện dự án xây dựng: Nút giao đường C - Lào Cai tại thị trấn P, huyện B, tỉnh Lào Cai.
Việc hai công ty ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa với mục đích thu lợi nhuận là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp các quy định của pháp luật. Hợp đồng được lập thành văn bản, các chủ thể tham gia giao kết hợp đồng là người có thẩm quyền, cùng thống nhất thỏa thuận về quyền và nghĩa vụ trong hợp đồng. Nội dung của hợp đồng không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội. Trong hợp đồng, các bên có thỏa thuận về các nội dung cụ thể, số lượng, giá cả, phương thức thanh toán, thời hạn thanh toán, thời gian giao hàng, địa điểm giao hàng và trách nhiệm của các bên...
Vì vậy, việc ký kết hợp đồng kinh tế số 24/2021/HĐKT-DH là hợp pháp, theo quy định của pháp luật quy định tại Điều 24; Điều 34; Điều 35; Điều 37; Điều 292 Luật thương mại; Điều 398, Điều 401 Bộ luật dân sự. Do đó, các thỏa thuận trong hợp đồng có giá trị pháp lý, buộc các bên phải thực hiện theo nội dung đã giao kết trong hợp đồng.
[2.2] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Nguyên đơn công ty cổ phần T1 yêu cầu Tòa án giải quyết buộc công ty TNHH X phải trả số tiền còn nợ là 591.781.500 đồng (Năm trăm chín mươi mốt triệu, bảy trăm tám mươi mốt nghìn, năm trăm đồng) và 133.831.790 đồng (Một trăm ba mươi ba triệu tám trăm ba mươi mốt nghìn bảy trăm chín mươi đồng) lãi phát sinh do công ty TNHH X chậm thanh toán theo quy định tại Mục 4.3, Điều 4, Hợp đồng kinh tế số 24/2021/HĐKT-DH ngày 10/3/2021 tính từ ngày 01/9/2022 đến ngày 21/02/2025 là phù hợp cần chấp nhận.
[2.3] Về nghĩa vụ thanh toán: Tại 4.3, Điều 4, Hợp đồng kinh tế số 24/2021/HĐKT-DH ngày 10/3/2021 quy định về trường hợp thanh toán chậm. Do công ty TNHH X chưa thanh toán số tiền nợ tương ứng với số bê tông công ty cổ phần T1 đã cung cấp nên công ty TNHH X phải trả số tiền còn nợ là 591.781.500 đồng (Năm trăm chín mươi mốt triệu, bảy trăm tám mươi mốt nghìn, năm trăm đồng) và 133.831.790 đồng (Một trăm ba mươi ba triệu tám trăm ba mươi mốt nghìn bảy trăm chín mươi đồng) lãi phát sinh do công ty TNHH X chậm thanh toán tính từ ngày 01/9/2022 đến ngày 21/02/2025 là phù hợp.
Số tiền lãi được tính cụ thể từ ngày 01/9/2022 đến ngày 06/10/2022 (36 ngày) số nợ gốc 791.781.500 đồng x 9%/năm = 7.028.417 đồng;
Từ ngày 07/10/2022 đến ngày 21/02/2025 (869 ngày) số nợ gốc 591.781.500 đồng x 9%/năm = 126.803.373 đồng (Lãi suất được tính theo thỏa thuận tại Mục 4.3, Điều 4, Hợp đồng kinh tế số 24/2021/HĐKT-DH ngày 10/3/2021 là lãi suất cho vay tín chấp của Ngân hàng TMCP C chi nhánh L tại thời điểm cho vay tính từ ngày 01/01/2022 đến hiện tại theo văn bản thông báo số 166/TB-CNLCI-KHDN ngày 21/02/2025 về mức sàn lãi suất cho vay ngắn hạn áp dụng đối với công ty cổ phần T1, về mức sàn lãi suất cho vay áp dụng 9,0%/năm).
[3] Về án phí: Công ty cổ phần T1 không phải chịu án phí. Công ty TNHH X phải án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm theo khoản 1 điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 6, Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 30; Khoản 1 Điều 35; Khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điểm b khoản 2 Điều 227; Khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 430; Điều 434; Điều 440; Điều 357; Điều 468 Bộ luật dân sự; Điều 24; Điều 34; Điều 35; Điều 37; Điều 50; Điều 55; Điều 292; Điều 306 Luật thương mại; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của ủy ban thường vụ Q2 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của công ty cổ phần T1:
Buộc công ty TNHH X phải thanh toán số tiền còn nợ là 591.781.500 đồng (Năm trăm chín mươi mốt triệu, bảy trăm tám mươi mốt nghìn, năm trăm đồng) và 133.831.790 đồng (Một trăm ba mươi ba triệu tám trăm ba mươi mốt nghìn bảy trăm chín mươi đồng) lãi phát sinh do công ty TNHH X chậm thanh toán tính từ ngày 01/9/2022 đến ngày 21/02/2025.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015
- Về án phí: Công ty cổ phần T1 không phải chịu tiền án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm, hoàn trả cho công ty cổ phần T1 số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 15.713.466 (Mười lăm triệu bảy trăm mười ba nghìn bốn trăm sáu mươi sáu đồng) theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000787 ngày 07/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai; Công ty TNHH X phải chịu 33.024.532 đồng (Ba mươi ba triệu không trăm hai mươi bốn nghìn năm trăm ba mươi hai đồng) tiền án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết theo quy định pháp luật.
Trong trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các điều 6,7,7a và 9 Luật thi hành án dân sự: thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự
Nơi nhận:
| TM - HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Thị Nga |
Bản án số 02/2025/KDTM-ST ngày 21/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI - TỈNH LÀO CAI về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
- Số bản án: 02/2025/KDTM-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/02/2025
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI - TỈNH LÀO CAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: CÔNG TY CP D - CÔNG TY 168 T
