Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THỌ XUÂN

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02/2025/KDTM-ST

Ngày 20/02/2025

V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỌ XUÂN, TỈNH THANH HÓA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Ngọc Công

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Lê Đăng Thiện
  2. Ông Nguyễn Văn Sâm

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Sơn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên toà: Ông Đỗ Tiến Dũng - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân; Xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 05/2024/TLST-KDTM ngày 06 tháng 11 năm 2024 về "Tranh chấp hợp đồng tín dụng", theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2024/QĐXXST-KDTM ngày 30 tháng 12 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 01/2025/QĐST-DS ngày 21/01/2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn:

1. Ngân hàng TMCP V (V1);

Địa chỉ: Số H L, phường L, quận Đ, tp ..

Người đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Chí D – Chức vụ: Chủ tịch HĐQT.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Hồng B – Chức vụ: Trưởng phòng thu hồi nợ.

Người đại diện theo ủy quyền lại: Ông Hoàng Đạt T – Chức vụ: Chuyên viên xử lý nợ. Có mặt.

Địa chỉ: Tầng C, tòa nhà B Đại lộ L, phường L, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.

2. Công ty cổ phần M1.

Địa chỉ: Tầng A, Tòa nhà C, số B phố T, phường Y, quận C, thành phố Hà Nội. Là người kế thừa một phần quyền và nghĩa vụ tố tụng của Ngân hàng TMCP V.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Hoàng Anh T1 – Tổng Giám đốc

Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Phan Huy M – Giám đốc trung tâm xử lý nợ.

Người đại diện theo uỷ quyền lại: Ông Lê Tiến H – Chuyên viên xử lý nợ, địa chỉ: Tầng A, Tòa nhà C, số B phố T, phường Y, quận C, thành phố Hà Nội. Có mặt.

Bị đơn: Chị Lê Thị T2, sinh năm 1988 và anh Ngô Ngọc T3, sinh năm 1985, cùng địa chỉ: Khu F, thị trấn L, huyện T, Thanh Hóa. Vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Ngô Văn T4, sinh năm 1950 và bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1957, cùng địa chỉ: Khu F, thị trấn L, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.

Người đại diện theo ủy quyền của ông T4 và bà H1: Anh Ngô Ngọc T3, sinh năm 1985, địa chỉ: Khu F, thị trấn L, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, người đại diện theo ủy quyền lại của nguyên đơn trình bày:

Ngày 27/6/2023 Ngân hàng V1 và anh Ngô Ngọc T3 và chị Lê Thị T2 đã ký kết hợp đồng tín dụng số LN2306159455128, theo đó Ngân hàng cho anh T3, chị T2 vay số tiền 2.123.000.000 đ với mục đích phát triển cơ sở kinh doanh.

Để đảm bảo cho khoản nợ trên, hai bên đã ký kết hợp đồng thế chấp với tài sản thế chấp là QSDĐ và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 75, tờ bản đồ số 39 tại: Khu F, thị trấn L, huyện T, Thanh Hóa, thuộc quyền sở hữu của ông Ngô Văn T4 và bà Nguyễn Thị H1).

Trong quá trình vay nợ, đến ngày 05/6/2024, anh T3 và chị T2 bắt đầu vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Ngân hàng đã nhiều lần nhắc nợ, đôn đốc nhưng đến nay anh chị vẫn không thanh toán nợ cho Ngân hàng.

Nay Ngân hàng yêu cầu Chị Lê Thị T2 và anh Ngô Ngọc T3 phải trả số tiền nợ gốc và lãi là 2.557.900.678 đ. Trong đó: Nợ gốc là 2.123.000.000 đ; Nợ lãi trong hạn tính đến ngày 20/02/2025 là 220.278.330 đ; nợ lãi quá hạn tính đến ngày 20/02/2025 là: 206.713.934 đ; lãi phạt chậm trả là 7.908.423 đ và lãi phát sinh từ 21/02/2025 cho đến khi trả hết nợ, theo lãi suất thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng.

Trường hợp chị T2 và anh T3 không trả được nợ, Ngân hàng có quyền đề nghị kê biên xử lý toàn bộ số tài sản thế chấp theo hợp đồng hai bên đã ký kết để đảm bảo cho khoản vay trên làm tài sản thi hành án thu hồi nợ cho Ngân hàng (tài sản thế chấp là toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 75, tờ bản đồ số 39 tại: Khu F, thị trấn L, huyện T, Thanh Hóa, thuộc quyền sở hữu của ông Ngô Văn T4 và bà Nguyễn Thị H1).

Người đại diện theo uỷ quyền lại của Công ty cổ phần M1 nợ JUPITER trình bày: Theo hợp đồng mua bán nợ số 17/2024/VPB – JUPITER ngày 27/12/2024 và phụ lục đính kèm giữa Ngân hàng V1 và Công ty cổ phần M1 nợ JUPITER, Công ty cổ phần mua bán nợ JUPITER mua lại một phần khoản nợ (90%) của chị Lê Thị T2 và anh Ngô Ngọc T3 bao gồm các khoản nợ gốc, nợ lãi, tiền phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại và các nghĩa vụ tài chính khác nếu có phát sinh theo hợp đồng tín dụng số LN2306159455128 ngày 27/6/2023 giữa Ngân hàng V1 và anh T3, chị T2 và các quyền lợi, nghĩa vụ có liên quan đến khoản nợ này (bao gồm tài sản bảo đảm, biện pháp bảo đảm). Các khoản tiền do khách hàng thanh toán cho V1 và Công ty CP M1 sẽ được phân chia theo tỷ lệ phù hợp với thoả thuận mua bán nợ. Do đó yêu cầu Toà án buộc anh T3, chị T2 phải trả khoản nợ như Ngân hàng V1 đã trình bày ở trên.

Quá trình giải quyết vụ án, anh T3, chị T2 trình bày: Anh chị hiện tại còn nợ khoản tiền như Ngân hàng V2 đã trình bày là đúng thực tế. Nhưng hiện tại kinh tế của anh chị đang rất khó khăn, nên anh chị đề nghị Ngân hàng tạo điều kiện về mặt thời gian để cho vợ chồng làm ăn trả nợ dần.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:

  • Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng. Bị đơn thực hiện chưa đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự;
  • Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị áp dụng khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 232; Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 117; Điều 299, Điều 463, Điều 466 Bộ luật dân sự 2015; Điều 91 và Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017); điểm b khoản 1 Điều 24, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Q, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc anh Ngô Ngọc T3 và chị Lê Thị T2 phải trả cho Ngân hàng V2 và Công ty cổ phần M1 nợ JUPITER tổng số 2.557.900.678 đ, trong đó: Tiền gốc là 2.123.000.000 đ, tiền lãi tính đến ngày xét xử là 434.900.678 đ và lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng đã ký kết cho đến khi thanh toán xong khoản nợ (trong đó Ngân hàng V2 có quyền đối với 10% khoản nợ và Công ty cổ phần M1 có quyền đối với 90 % khoản nợ); trường hợp anh T3, chị T2 không trả được nợ hoặc trả không đầy đủ thì Ngân hàng V2 và Công ty cổ phần M1 nợ JUPITER có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi tài sản đã thế chấp để thu hồi nợ ; Về án phí: Anh T3, chị T2 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật; Trả lại tiền tạm ứng án phí đã nộp cho nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm định tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Căn cứ vào nội dung đơn khởi kiện của Ngân hàng TMCP V (V1) và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thể hiện quan hệ pháp luật tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp về hợp đồng tín dụng. Bị đơn cư trú tại khu F, thị trấn L, huyện T, tỉnh Thanh Hóa, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Ngày 20/02/2025, người đại diện theo uỷ quyền lại của Công ty cổ phần M1 nợ JUPITER đã nộp các tài liệu liên quan đến việc mua lại 90 % khoản nợ của anh T3, chị T2 từ Ngân hàng V2, hồ sơ pháp lý của công ty, văn bản uỷ quyền cho người tham gia tố tụng. Tại phiên toà người được uỷ quyền lại của Công ty cổ phần M1 có mặt. Do đó Hội đồng xét xử đưa Công ty cổ phần mua bán nợ JUPITER vào tham gia tố tụng với tư cách là người kế thừa một phần quyền và nghĩa vụ tố tụng của Ngân hàng V2.

Tại phiên hòa hôm nay, bị đơn là anh Ngô Ngọc T3 và chị Lê Thị T2 đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Xét hợp đồng cho vay số LN2306159455128, ngày 27/6/2023 cùng các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp, thấy rằng:

Hợp đồng nói trên được Ngân hàng V2 và anh Ngô Ngọc T3, chị Lê Thi T5 tự nguyện ký kết, mục đích và nội dung hợp đồng không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái với đạo đức xã hội. Do đó, hợp đồng này có hiệu lực pháp luật và là cơ sở phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa hai bên. Sau khi ký hợp đồng, Ngân hàng đã giải ngân đủ số tiền 2.123.000.000 đ. Quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng tính đến ngày 05/6/2024, anh T3, chị T5 mới trả được 107.291.195 đ tiền lãi. Số tiền gốc còn nợ lại là 2.123.000.000 đ và tiền lãi còn nợ là 298.406.877 đ. Như vậy, anh T3, chị T5 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo quy định tại khoản 6 Điều 1 của Hợp đồng tín dụng đã ký kết, nên việc từ ngày 05/6/2024 Ngân hàng đã chuyển toàn bộ dư nợ gốc sang nợ quá hạn là đúng với quy định. Sau khi chuyển sang dư nợ quá hạn Ngân hàng thường xuyên đôn đốc thu hồi nợ nhưng anh T3, chị T5 vẫn không thanh toán đầy đủ theo thỏa thuận trong hợp đồng.

Do anh T3, chị T5 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng, nên việc nguyên đơn yêu cầu anh T3, chị T5 phải trả số tiền còn nợ là có căn cứ theo quy định tại Điều 117, 463, 466 Bộ luật dân sự 2015 và Điều 95 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Do đó, buộc anh T3, chị T5 phải thanh toán cho nguyên đơn số tiền nợ gốc là 2.123.000.000 đ.

Về yêu cầu tính lãi: Theo khoản 7 Điều 1 của hợp đồng cho vay nói trên, các bên thỏa thuận lãi suất trong hạn tại thời điểm giải ngân là 11,8%/năm, lãi suất quá hạn là 150% lãi suất trong hạn, lãi suất chậm trả là 150% lãi suất trong hạn tại thời điểm chậm trả lãi nhưng không quá 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời giam chậm trả . Xét thỏa thuận về lãi xuất của các đương sự phù hợp quy định tại Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Trong quá trình thực hiện hợp đồng đến nay, anh T3, chị T5 mới trả lãi cho Ngân hàng được số tiền lãi là 107.291.195 đ, do đó buộc anh T3, chị T5 phải trả cho nguyên đơn tổng số tiền nợ lãi tính đến ngày xét xử (20/02/2025) là 434.900.687 đ, trong đó lãi trong hạn là 220.278.330 đ; nợ lãi quá hạn là: 206.713.934 đ; lãi phạt chậm trả là 7.908.423 đ.

Xét Hợp đồng mua bán nợ số 17/2024/VPB – JUPITER ngày 27/12/2024 giữa Ngân hàng V1 và Công ty cổ phần M1 nợ JUPITER: Hợp đồng được ký kết trên cơ sở tự nguyện ký kết, mục đích và nội dung hợp đồng không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái với đạo đức xã hội. Do đó, hợp đồng này có hiệu lực pháp luật và là cơ sở phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa các bên. Theo đó Công ty cổ phần M1 có quyền đối với 90 % các khoản nợ của anh T3, chị T5, Ngân hàng V1 có quyền đối với 10 % các khoản nợ của anh T3, chị T5.

Tính đến ngày xét xử, tổng cộng cả gốc và lãi anh T3, chị T5 phải trả cho nguyên đơn là 2.557.900.678 đ. Tương ứng trả cho Ngân hàng V1 tổng số tiền 255.790.050 đ, trong đó tiền gốc là 212.300.000 đ, lãi trong hạn là 22.027.833 đ, lãi quá hạn 20.671.393 đ, lãi chậm trả 790.824 đ; trả cho Công ty cổ phần M1 nợ JUPITER 2.302.110.637 đ, trong đó tiền gốc là 1.910.700.000 đ, lãi trong hạn là 198.250.497 đ, lãi quá hạn 186.042.541 đ, lãi chậm trả 7.117.599 đ

[1] Xét yêu cầu của Nguyên đơn buộc anh T3, chị T5 phải thanh toán cho nguyên đơn số tiền lãi phát sinh theo Hợp đồng kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử cho đến khi thanh toán xong khoản nợ là phù hợp với quy định tại Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và hướng dẫn tại Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 nên Hội đồng xét xử chấp nhận, buộc bị đơn phải tiếp tục chịu lãi suất theo Hợp đồng tín dụng đã ký kết cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.

[2] Xét yêu cầu xử lý tài sản đã thế chấp để đảm bảo cho khoản vay:

Xét thấy: Hợp đồng thế chấp số LN2112134880677 ngày 15/12/2021 giữa Ngân hàng V2 và ông T4, bà H1 để bảo đảm cho hợp đồng cho vay nêu trên là đúng theo quy định của pháp luật; nên yêu cầu xử lý tài sản thế chấp của Nguyên đơn là có cơ sở để chấp nhận, phù hợp với quy định tại Điều 299 của Bộ luật dân sự 2015 và Điều 103 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2024. Vì vậy, sau khi án có hiệu lực pháp luật, trong trường anh T3, chị T5 không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì Ngân hàng V1 và Công ty cổ phần M1 nợ JUPITER có quyền yêu cầu Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hoá phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ.

[5]. Về án phí: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận, nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo quy định của pháp luật. Nguyên đơn không phải chịu án phí, nên được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 232; Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 117; Điều 299, Điều 463, Điều 466 Bộ luật dân sự 2015;

Căn cứ vào Điều 91 và Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 24, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Q, quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn,

Buộc anh Ngô Ngọc T3 và chị Lê Thị T2 có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP V (V1) và Công ty cổ phần M1 nợ JUPITER tổng số tiền tính đến ngày xét xử (20/02/2025) là 2.557.900.678 đ (hai tỷ năm trăm năm mươi bảy triệu chín trăm nghìn sáu trăm tám mươi bảy nghìn), cụ thể:

Trả cho Ngân hàng V1 tổng số tiền 255.790.050 đ (hai trăm năm mươi lăm triệu bảy trăm chín mươi nghìn không trăm năm mươi đồng), trong đó tiền gốc là 212.300.000 đ (hai trăm mười hai triệu ba trăm nghìn đồng), lãi trong hạn là 22.027.833 đ (hai mươi hai triệu không trăm hai mươi bảy nghìn tám trăm ba mươi ba đồng), lãi quá hạn 20.671.393 đ (hai mươi triệu sáu trăm bảy mươi mốt nghìn ba trăm chín mươi ba đồng), lãi chậm trả 790.824 đ (bảy trăm chín mươi nghìn tám trăm hai mươi tư đồng);

Trả cho Công ty cổ phần M1 2.302.110.637 đ (hai tỷ ba trăm linh hai triệu một trăm mười nghìn sáu trăm ba mươi bảy đồng), trong đó tiền gốc là 1.910.700.000 đ (một tỷ chín trăm mười triệu bảy trăm nghìn đồng), lãi trong hạn là 198.250.497 đ (một trăm chín mươi tám triệu hai trăm năm mươi nghìn bốn trăm chín mươi bảy đồng), lãi quá hạn 186.042.541 đ (một trăm tám mươi sáu triệu không trăm bốn mươi hai nghìn năm trăm bốn mươi mốt đồng), lãi chậm trả 7.117.599 đ (bảy triệu một trăm mười bảy nghìn năm trăm chín mươi chín nghìn đồng).

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, anh Ngô Ngọc T3 và chị Lê Thị T2 còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho vay số LN2306159455128, ngày 27/6/2023. Trong đó Ngân hàng TMCP V có quyền đối với 10% và Công ty cổ phần M1 có quyền đối với 90% theo thoả thuận trong Hợp đồng mua bán nợ số 17/2024/VPB – JUPITER ngày 27/12/2024 giữa Ngân hàng V1 và Công ty cổ phần M1 đã ký kết.

Kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật, nếu anh T3, chị T2 không trả được số nợ trên thì Ngân hàng và Công ty cổ phần M1 nợ JUPITER có quyền yêu cầu Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hoá phát mãi tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp số LN2112134880677 ngày 15/12/2021, gồm toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 75, tờ bản đồ số 39 tại: Khu F, thị trấn L, huyện T, Thanh Hóa, thuộc quyền sở hữu của ông Ngô Văn T4 và bà Nguyễn Thị H1.

2. Về án phí: Anh Ngô Ngọc T3 và chị Lê Thị T2 phải chịu 83.158.000 đ (tám mươi ba triệu một trăm năm mươi tám nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Trả lại cho Ngân hàng V1 số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 40.214.000 đ (bốn mươi triệu hai trăm mười bốn nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0005262 ngày 06/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thọ Xuân.

3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- VKSNDhuyện Thọ Xuân;

TOÀ

- Chi cục THADS huyện Thọ Xuân;

- P. kiểm tra nghệp vụ và THA,

TAND tỉnh Thanh Hóa;

- Các đương sự;

- Lưu hồ sơ.

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN

Lê Ngọc Công

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 02/2025/KDTM-ST ngày 20/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỌ XUÂN, TỈNH THANH HÓA về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 02/2025/KDTM-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/02/2025
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỌ XUÂN, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: fgvs
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger