|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA TỈNH PHÚ YÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 02/2025/KDTM-ST
Ngày: 17/02/2025
“V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA - TỈNH PHÚ YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Xuân Thu;
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Lời;
- Bà Lê Thị Đông Nguyệt.
- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Lê Thục Uyên - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Duyên - Kiểm sát viên.
Từ ngày 13 tháng 02 năm 2025 đến ngày 17 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án Kinh doanh thương mại thụ lý số 59/2024/TLST - KDTM ngày 03 tháng 10 năm 2024 về việc “tranh chấp Hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 194/2024/QĐST-KDTM ngày 25 tháng 12 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 01/2025/ QĐST - KDTM ngày 14 tháng 01 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng N; Địa chỉ: Số B đường L, phường T, quận B, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Toàn V - Tổng Giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Minh H - Giám đốc Ngân hàng N - Chi nhánh N1 thành phố T, tỉnh Phú Yên (Quyết định ủy quyền số 2665/QĐ-NHNo-PC ngày 01/12/2022).
Ông Nguyễn Minh H ủy quyền lại cho ông Cao Tấn T - Trưởng phòng Khách hàng Ngân hàng N - Chi nhánh N1 thành phố T, tỉnh Phú Yên (Văn bản ủy quyền ngày 06/11/2024). Có mặt.
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1983 và ông Nguyễn Hoàn T1, sinh năm 1979; Địa chỉ: Khu phố E, phường P, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Lương Văn Đ, sinh năm 1972; Địa chỉ: Khu phố C, phường P, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
1
* Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà nguyên đơn Ngân hàng N do ông Cao Tấn T - người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày được tóm tắt như sau:
Ngày 15/01/2024, giữa Ngân hàng N (viết tắt là A) với vợ chồng ông Nguyễn Hoàn T1 và bà Nguyễn Thị D có ký kết hợp đồng tín dụng số 4607-LAV-20240060, theo đó A cấp hạn mức tín dụng cho vợ chồng ông T1, bà Duyên số tiền 5.290.000.000 đồng, thời hạn 01 năm, mục đích; buôn bán nông sản lưu động. Căn cứ hợp đồng tín dụng, A đã giải ngân cho vợ chồng ông T1, bà D theo các Giấy nhận nợ cụ thể như sau:
- + Giấy nhận nợ số: 4607-LDS-2023 01444 ngày 14/6/2023, số tiền 585.000.000 đồng, lãi suất trong hạn 8,5%/năm, lãi suất quá hạn 150% lãi suất trong hạn, thời hạn vay 6 tháng.
- + Giấy nhận nợ số: 4607-LDS-2023 02291 ngày 19/9/2023, số tiền 429.000.000 đồng, lãi suất trong hạn 8,5%/năm, lãi suất quá hạn 150% lãi suất trong hạn, thời hạn vay 6 tháng.
- + Giấy nhận nợ số: 4607-LDS-2023 02545 ngày 13/10/2023, số tiền 620.000.000 đồng, lãi suất trong hạn 7,5%/năm, lãi suất quá hạn 150% lãi suất trong hạn, thời hạn vay 6 tháng.
- + Giấy nhận nợ số: 4607-LDS-2023 02686 ngày 31/10/2023, số tiền 245.000.000 đồng, lãi suất trong hạn 7,5%/năm, lãi suất quá hạn 150% lãi suất trong hạn, thời hạn vay 6 tháng.
- + Giấy nhận nợ số: 4607-LDS-2023 02850 ngày 15/11/2023, số tiền 463.000.000 đồng, lãi suất trong hạn 7,5%/năm, lãi suất quá hạn 150% lãi suất trong hạn, thời hạn vay 6 tháng.
- + Giấy nhận nợ số: 4607-LDS-2024 00122 ngày 15/01/2024, số tiền 1.550.000.000 đồng, lãi suất trong hạn 7%/năm, lãi suất quá hạn 150% lãi suất trong hạn, thời hạn vay 6 tháng.
- + Giấy nhận nợ số: 4607-LDS-2024 00159 ngày 17/01/2024, số tiền 1.150.000.000 đồng, lãi suất trong hạn 7%/năm, lãi suất quá hạn 150% lãi suất trong hạn, thời hạn vay 6 tháng.
Tài sản bảo đảm gồm:
- + Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thuộc thưa đất số 92, tờ bản đồ số 55 diện tích 60,1m² tại địa chỉ A N, phường P, thành phố T, tỉnh Phú Yên (theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của người khác số 12/04/HĐTC ngày 21/4/2014 và Hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 12/04/SĐBS-HĐTC/01 ngày 11/01/2024 giữa A và vợ chồng ông T1, bà D).
- + Xe ô tô đầu kéo nhãn hiệu CNHTC biển số 78C-041.44 và Sơ mi rơ mooc tải (có mui) nhãn hiệu SHENGDE biển số 78R-001.25.
- + Xe ô tô đầu kéo nhãn hiệu CNHTC biển số 78C-042.58 và Sơ mi rơ mooc tải (có mui) nhãn hiệu SHENGDE biển số 78R-001.36.
- + Xe ô tô đầu kéo nhãn hiệu CNHTC biển số 78C-043.24 và Sơ mi rơ mooc tải (có mui) nhãn hiệu SHENGDE biển số 78R-001.71.
2
Trong quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng, vợ chồng ông T1, bà D đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên A đã chuyển toàn bộ dư nợ sang nợ quá hạn theo quy định pháp luật. Đồng thời, được sự đồng ý của vợ chồng ông T1, bà D vào ngày 08/3/2024 A đã bán 03 xe ô tô đầu kéo trên để xử lý nợ nên không yêu cầu xem xét giải quyết 03 chiếc xe trên nữa. Tính đến ngày 13/02/2025, vợ chồng ông T1, bà D còn nợ A cụ thể như sau:
| Giấy nhận nợ | Vốn gốc | Lãi trong hạn | Lãi quá hạn | Tổng cộng |
|---|---|---|---|---|
| 4607LDS202301444 | 100.000 | 38.196.000 | 6.973.200 | 45.269.200 |
| 4607LDS202302291 | 100.000 | 18.490.000 | 103.700 | 18.693.700 |
| 4607LDS202302545 | 270.845.000 | 40.863.400 | 25.418.600 | 337.127.000 |
| 4607LDS202302686 | 245.000.000 | 23.761.600 | 7.274.500 | 276.036.100 |
| 4607LDS202302850 | 463.000.000 | 43.477.600 | 13.033.800 | 519.511,400 |
| 4607LDS202400122 | 1.550.000.000 | 117.715.100 | 31.658.200 | 1.699.373.300 |
| 4607LDS202400159 | 1.150.000.000 | 86.895.900 | 23.267.800 | 1.260.163.700 |
Mặc dù A nhiều lần đôn đốc vợ chồng ông T1, bà D trả nợ vay còn lại nhưng vợ chồng vẫn không thực hiện. Do đó, A khởi kiện yêu cầu vợ chồng ông T1, bà D phải trả nợ theo từng Giấy nhận nợ nêu trên và tiếp tục trả tiền lãi theo lãi suất quy định cho đến khi trả hết nợ. Trường hợp không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì yêu cầu phát mãi tài sản đảm bảo còn lại là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất số 92, tờ bản đồ số 55 diện tích 60,1m² địa chỉ A N, phường P, thành phố T, tỉnh Phú Yên theo Hợp đồng thế chấp ký kết giữa các bên để thu hồi nợ.
Được biết hiện nay nhà đất trên do ông Lương Văn Đ được vợ chồng bà D, ông T1 cho mượn mở tiệm sửa xe. Để đảm bảo quyền lợi A, đề nghị ông Đ có trách nhiệm giao trả lại nguyên hiện trạng nhà đất trên cho vợ chồng ông T1, bà D để A xử lý tài sản thế chấp khi vợ chồng ông T1, bà D không thực hiện nghĩa vụ trả nợ.
* Tại biên bản lấy lời khai, bị đơn bà Nguyễn Thị D trình bày như sau:
Trước đây, bà và ông Nguyễn Hoàn T1 đã nhận được các giấy triệu tập của Toà án đến làm việc đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N - Chi nhánh N2. Tuy nhiên, ông T1 bị bệnh phải chữa trị ở S nên vợ chồng không đến Toà án làm việc được. Nay ông T1 bị bệnh ở hai mắt không đi lại được nên tôi đại diện ông T1 tham gia tố tụng tại Toà.
Đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng, tôi xin trình bày như sau: Vào ngày 15/01/2024, vợ chồng tôi có ký kết với Ngân hàng N Hợp đồng tín dụng số 4607-LAV-20240060. Theo đó, Ngân hàng cấp hạn mức cho vợ chồng tôi số tiền 5.290.000.000 đồng, mục đích vay vốn bán buôn nông sản, thời hạn 12 tháng kể từ ngày 15/01/2024 đến ngày 15/01/2025. Để đảm bảo khoản vay nêu trên, vợ chồng tôi có thế chấp 03 chiếc xe ô tô đầu kéo và quyền sử dụng đất tại địa chỉ A N, phường P, thành phố T, tỉnh Phú Yên theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AL 606161, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận H00985. Trong quá trình vay nợ, vợ chồng tôi gặp nhiều khó khăn về tài chính nên vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Vì vậy,
3
vợ chồng tôi có uỷ quyền cho Ngân hàng bán đấu giá 03 chiếc xe ô tô đầu kéo để thu hồi nợ với giá trị 1.362.955.000 đồng. Hiện nay, vợ chồng tôi còn nợ Ngân hàng tính đến 14/01/2025 tổng số tiền là 4.032.677.264 đồng, trong đó nợ gốc là 3.679.045.000 đồng, nợ lãi là 353.632.264 đồng theo Ngân hàng trình bày. Chồng tôi đang bệnh nên vợ chồng không có khả năng trả hết số nợ tính đến hiện tại cho Ngân hàng. Nay đồng ý trả cho Ngân hàng toàn bộ số nợ nêu trên và tiền lãi phát sinh đến khi trả hết nợ, trường hợp không trả được nợ thì đồng ý để Ngân hàng phát mãi tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất tại địa chỉ A N, phường P, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Nhà đất nêu trên vợ chồng tôi đang cho ông Lương Văn Đ mượn tạm để mở sửa xe Honda chứ không lấy tiền thuê và thoả thuận khi nào cần thì lấy lại để giao cho Ngân hàng. Do đó, đề nghị chấm dứt Hợp đồng cho mượn nhà đất giữa vợ chồng tôi và ông Đ. Ông Đ có trách nhiệm dọn dẹp và trả lại nhà đất cho vợ chồng tôi để giao cho Ngân hàng phát mãi tài sản.
* Bị đơn ông Nguyễn Hoàn T1 vắng mặt nên không trình bày:
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lương Văn Đ trình bày được tóm tắt như sau:
Ông Lương Văn Đ quen biết vợ chồng ông T1, bà D nên năm 2023 được vợ chồng ông T1, bà D cho mượn nhà đất địa chỉ A N, phường P, thành phố T, tỉnh Phú Yên để sửa xe Honda nên hai bên không làm hợp đồng cũng như trả tiền thuê nhà. Nay vợ chồng ông T1, bà D không có khả năng trả nợ nên Ngân hàng xử lý tài sản trên thì ông đồng ý giao trả lại hiện trạng nhà đất chứ không tranh chấp gì.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa phát biểu quan điểm:
- - Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm đã tuân theo đúng trình tự thủ tục pháp luật quy định, đảm bảo cho đương sự thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa tuân thủ đúng thủ tục tố tụng.
- - Về nội dung: Áp dụng các Điều 463, 466, 468, 470 của Bộ luật Dân sự; Điều 91, 95, 98 Luật các tổ chức tín dụng: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn phải trả cho Ngân hàng số tiền nợ gốc 3.679.045.000 đồng và tiền lãi phát sinh theo hợp đồng đã ký ngày 15/01/2024. Trường hợp không trả nợ, Ngân hàng được quyền phát mãi tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp đã ký kết để thu hồi nợ. Bị đơn phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về hợp đồng tín dụng giữa pháp nhân có đăng ký kinh doanh với cá nhân và đều có mục đích lợi nhuận là tranh chấp kinh doanh thương mại quy định tại khoản 1 Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn cư trú tại thành phố T nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa.
[2] Về thủ tục giải quyết vắng mặt đương sự: Bị đơn vợ chồng ông Nguyễn Hoàn T1, bà Nguyễn Thị D và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lương
4
Văn Đ được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng văng mặt nên căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt đương sự.
[3] Về yêu cầu của đương sự: Căn cứ hợp đồng tín dụng, các giấy nhận nợ và hợp đồng thế chấp tài sản cùng các tài liệu, chứng cứ khác và lời trình bày của nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, Hội đồng xét xử đủ cơ sở xác định:
[3.1] Ngày 15/01/2024, giữa A với vợ chồng ông Nguyễn Hoàn T1, bà Nguyễn Thị D có ký kết hợp đồng tín dụng số 4607-LAV-20240060, theo đó A cấp hạn mức tín dụng cho vợ chồng ông T1, bà Duyên số tiền 5.290.000.000 đồng, thời hạn 12 tháng, mục đích vay: mua bán nông sản lưu động, lãi suất theo từng giấy nhận nợ cụ thể và đã giải ngân cho vợ chồng ông T1, bà D theo giấy nhận nợ số: 4607-LDS-2023 01444 ngày 14/6/2023; Giấy nhận nợ số: 4607-LDS-2023 02291 ngày 19/9/2023; Giấy nhận nợ số: 4607-LDS-2023 02545 ngày 13/10/2023; Giấy nhận nợ số: 4607-LDS-2023 02686 ngày 31/10/2023; Giấy nhận nợ số: 4607-LDS-2023 02850 ngày 15/11/2023; Giấy nhận nợ số: 4607-LDS-2024 00122 ngày 15/01/2024; Giấy nhận nợ số: 4607-LDS-2024 00159 ngày 17/01/2024.
Thực hiện hợp đồng, vợ chồng ông T1, bà D vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo thoả thuận nên ngày 08/3/2024, vợ chồng ông T1, bà D đã uỷ quyền cho Ngân hàng bán các 03 chiếc xe ô tô thế chấp để thu hồi 01 phần nợ. Tính đến ngày 13/02/2025, dư nợ còn lại theo như bảng kê do A cung cấp tại Toà, cụ thể:
| Giấy nhận nợ | Vốn gốc | Lãi trong hạn | Lãi quá hạn | Tổng cộng |
|---|---|---|---|---|
| 4607LDS202301444 | 100.000 | 38.196.000 | 6.973.200 | 45.269.200 |
| 4607LDS202302291 | 100.000 | 18.490.000 | 103.700 | 18.693.700 |
| 4607LDS202302545 | 270.845.000 | 40.863.400 | 25.418.600 | 337.127.000 |
| 4607LDS202302686 | 245.000.000 | 23.761.600 | 7.274.500 | 276.036.100 |
| 4607LDS202302850 | 463.000.000 | 43.477.600 | 13.033.800 | 519.511,400 |
| 4607LDS202400122 | 1.550.000.000 | 117.715.100 | 31.658.200 | 1.699.373.300 |
| 4607LDS202400159 | 1.150.000.000 | 86.895.900 | 23.267.800 | 1.260.163.700 |
Vợ chồng ông T1, bà D vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo thoả thuận, do đó, A khởi kiện yêu cầu trả nợ có căn cứ chấp nhận, buộc bị đơn vợ chồng ông T1, bà D có trách nhiệm trả A số tiền nợ theo từng Giấy nhận nợ đã ký kết nêu trên.
Kể từ ngày 14/02/2025 cho đến khi trả xong nợ gốc, bị đơn vợ chồng ông T1, bà D còn phải tiếp tục trả lãi theo lãi suất thỏa thuận của các giấy nhận nợ đã ký kết.
[3.2] Để đảm bảo khoản vay trên, vợ chồng ông T1, bà D thế chấp Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất số 92, tờ bản đồ số 55 địa chỉ A N, phường P, thành phố T, tỉnh Phú Yên; xe ô tô đầu kéo nhãn hiệu CNHTC biển số 78C-041.44 và Sơ mi rơ mooc tải (có mui) nhãn hiệu SHENGDE biển số 78R-001.25; xe ô tô đầu kéo nhãn hiệu CNHTC biển số 78C-042.58 và Sơ mi rơ mooc tải (có mui) nhãn hiệu SHENGDE biển số 78R-001.36; xe ô tô đầu kéo nhãn hiệu CNHTC biển số 78C-043.24 và Sơ mi rơ mooc tải (có mui)
5
nhãn hiệu SHENGDE biển số 78R-001.71. Đến ngày 08/3/2024, A đã xử lý 03 chiếc xe ô tô để thu hồi 01 phần nợ, nên không yêu cầu xem xét, giải quyết do đó không giải quyết. Hiện nay chỉ còn tài sản thế chấp chưa được xử lý là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất số 92, tờ bản đồ số 55 địa chỉ A N, phường P, thành phố T, tỉnh Phú Yên nên A đề nghị xử lý. Xét thấy, hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của người khác số 12/04/HĐTC ngày 21/4/2014 và Hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 12/04/SĐBS-HĐTC/01 ngày 11/01/2024 giữa A và vợ chồng ông T1, bà D là biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của bên vay với A. Hợp đồng thế chấp được đăng ký bảo đảm theo quy định nên chấp nhận yêu cầu của A, trường hợp bị đơn không trả nợ hoặc trả nợ không đầy đủ, A được quyền phát mãi đối với: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất số 92, tờ bản đồ số 55 địa chỉ A N, phường P, thành phố T, tỉnh Phú Yên (theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số AL606161, số vào sổ cấp giấy: H00985 do UBND thành phố tuy Hoà cấp ngày 14/01/2009 cho bà Nguyễn Thị D).
[3.3] Theo trình bày của bà Nguyễn Thị D và ông Lương Văn Đ, bà D cho ông Đ mượn nhà đất trên để mở tiệm sửa xe. Để xử lý tài sản thế chấp, nay các bên đều thống nhất ông Đ có trách nhiệm tháo dỡ trả lại nguyên hiện trạng giao lại nhà đất cho vợ chồng ông T1, bà D để A xử lý tài sản thế chấp trường hợp vợ chồng ông T1, bà D không trả nợ. Do đó, buộc ông Đ tháo dỡ, giao trả nguyên hiện trạng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất số 92, tờ bản đồ số 55 địa chỉ A N, phường P, thành phố T, tỉnh Phú Yên cho vợ chồng ông T1, bà D.
[4] Về chi phí xem xét thẩm định tại chổ: chi phí xem xét thẩm định tại chổ là 1.500.000 đồng. A đã nộp tạm ứng 1.500.000 đồng nên vợ chồng ông T1, bà D có trách nhiệm hoàn trả lại cho A số tiền trên.
[5] Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm: Bị đơn phải chịu theo quy định pháp luật. Hoàn trả cho nguyên đơn tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- + Khoản 1 Điều 30, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 157 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- + Căn cứ các điều 317, 318, 319, 323, 463, 466, 468, 470 Bộ luật dân sự 2015; các điều 91, 95, 98 Luật các tổ chức tín dụng.
- + Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Tuyên xử:
[1] Bị đơn vợ chồng ông Nguyễn Hoàn T1 và bà Nguyễn Thị D có trách nhiệm trả cho Ngân hàng N số tiền vay còn nợ của các giấy nhận nợ cụ thể như sau:
6
- ➤ Giấy nhận nợ số 4607-LDS-2023 01444 ngày 14/6/2023 là: 45.269.200 đồng (Bốn mươi lăm triệu hai trăm sáu mươi chín nghìn hai trăm đồng), trong đó nợ gốc: 100.000 đồng (Một trăm nghìn đồng), nợ lãi trong hạn: 38.196.000 đồng (Ba mươi tám triệu một trăm chín mươi sáu nghìn đồng), nợ lãi quá hạn: 6.973.200 đồng (Sáu triệu chín trăm bảy mươi ba nghìn hai trăm đồng).
- ➤ Giấy nhận nợ số: 4607-LDS-2023 02291 ngày 19/9/2023 là 18.693.700 đồng (Mười tám triệu sáu trăm chín mươi ba nghìn bảy trăm đồng) trong đó nợ gốc 100.000 đồng (Một trăm nghìn đồng), nợ lãi trong hạn 18.490.000 đồng (Mười tám triệu bốn trăm chín mươi nghìn đồng), nợ lãi quá hạn 103.700 đồng (Một trăm linh ba nghìn bảy trăm đồng).
- ➤ Giấy nhận nợ số: 4607-LDS-2023 02545 ngày 13/10/2023 là 337.127.000 đồng (Ba trăm ba mươi bảy triệu một trăm hai mươi bảy nghìn đồng), trong đó nợ gốc 270.845.000 đồng (Hai trăm bảy mươi triệu tám trăm bốn mươi lăm nghìn đồng), nợ lãi trong hạn 40.863.400 đồng (Bốn mươi triệu tám trăm sáu mươi ba nghìn bốn trăm đồng), nợ lãi quá hạn 25.418.600 đồng (Hai mươi lăm triệu bốn trăm mười tám nghìn sáu trăm đồng).
- ➤ Giấy nhận nợ số: 4607-LDS-2023 02686 ngày 31/10/2023 là 276.036.100 đồng (Hai trăm bảy mươi sáu triệu không trăm ba mươi sáu nghìn một trăm đồng); trong đó nợ gốc 245.000.000 đồng (Hai trăm bốn mươi lăm triệu đồng), nợ lãi trong hạn 23.761.600 đồng (Hai mươi ba triệu bảy trăm sáu mươi mốt nghìn sáu trăm đồng), nợ lãi quá hạn 7.274.500 đồng (Bảy triệu hai trăm bảy mươi bốn nghìn năm trăm đồng).
- ➤ Giấy nhận nợ số: 4607-LDS-2023 02850 ngày 15/11/2023 là 519.511.400 đồng (Năm trăm mười chín triệu năm trăm mười một nghìn bốn trăm đồng), trong đó nợ gốc 463.000.000 đồng (Bốn trăm sáu mươi ba triệu đồng), nợ lãi trong hạn 43.477.600 đồng (Bốn mươi ba triệu bốn trăm bảy mươi bảy nghìn sáu trăm đồng), nợ lãi quá hạn 13.033.800 đồng (Mười ba triệu không trăm ba mươi ba nghìn tám trăm đồng).
- ➤ Giấy nhận nợ số: 4607-LDS-2024 00122 ngày 15/01/2024 là 1.699.373.300 đồng (Một tỷ sáu trăm chín mươi chín triệu ba trăm bảy mươi ba nghìn ba trăm đồng) trong đó nợ gốc 1.550.000.000 đồng (Một tỷ năm trăm năm mươi triệu đồng), nợ lãi trong hạn 117.715.100 đồng (Một trăm mười bảy triệu bảy trăm mười lăm nghìn một trăm đồng), nợ lãi quá hạn 31.658.200 đồng (Ba mươi mốt triệu sáu trăm năm mươi tám nghìn hai trăm đồng).
- ➤ Giấy nhận nợ số: 4607-LDS-2024 00159 ngày 17/01/2024 là 1.260.163.700 đồng (Một tỷ hai trăm sáu mươi triệu một trăm sáu mươi ba nghìn bảy trăm đồng), trong đó nợ gốc 1.150.000.000 đồng (Một tỷ một trăm năm mươi triệu đồng), nợ lãi trong hạn 86.895.900 đồng (T2 mươi sáu triệu tám trăm chín mươi lăm nghìn chín trăm đồng) và nợ lãi quá hạn là 23.267.800 đồng (Hai mươi ba triệu hai trăm sáu mươi bảy nghìn tám trăm đồng).
Kể từ ngày 14/02/2025 cho đến khi trả xong nợ gốc, bị đơn vợ chồng ông T1 và bà D còn phải trả lãi theo lãi suất thỏa thuận của các giấy nhận nợ đã ký kết với Ngân hàng N.
[2] Trường hợp vợ chồng ông Nguyễn Hoàn T1 và bà Nguyễn Thị D không trả nợ hoặc trả nợ không đầy đủ theo yêu cầu thì Ngân hàng N có quyền yêu cầu cơ
7
quan có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ đối với: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất số 92, tờ bản đồ số 55 địa chỉ A N, phường P, thành phố T, tỉnh Phú Yên (theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số AL606161, số vào sổ cấp giấy: H00985 do UBND thành phố tuy Hoà cấp ngày 14/01/2009 cho bà Nguyễn Thị D) theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của người khác số 12/04/HĐTC ngày 21/4/2014 và Hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 12/04/SĐBS-HĐTC/01 ngày 11/01/2024 giữa A và vợ chồng ông T1, bà D.
[3] Ông Lương Văn Đ có trách nhiệm tháo dỡ, giao trả lại nguyên hiện trạng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất số 92, tờ bản đồ số 55 diện tích 60,1m² địa chỉ A N, phường P, thành phố T, tỉnh Phú Yên cho vợ chồng ông T1, bà D.
[4] Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Bị đơn vợ chồng ông Nguyễn Hoàn T1, bà Nguyễn Thị D phải nộp 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng). Nguyên đơn Ngân hàng N đã nộp tạm ứng chi phí xem xét thẩm định tại chỗ 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng) nên bị đơn vợ chồng ông T1 và bà D có trách nhiệm hoàn trả lại số tiền 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng) cho nguyên đơn Ngân hàng.
[5] Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:
Vợ chồng ông Nguyễn Hoàn T1 và bà Nguyễn D phải nộp 112.156.000 đồng (Một trăm mười hai triệu một trăm năm mươi sáu nghìn đồng).
Hoàn trả cho nguyên đơn Nông nghiệp và N số tiền tạm ứng án phí đã nộp 54.995.000 đồng (Năm mươi bốn triệu chín trăm chín mươi lăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0002780 ngày 03/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tuy Hoà.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án; quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo 15 ngày tính từ ngày bản án được giao cho họ hoặc được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Xuân Thu |
8
Bản án số 02/2025/KDTM-ST ngày 17/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 02/2025/KDTM-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/02/2025
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
