Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HÀM TÂN

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 17/02/2025

V/v: "Tranh chấp ly hôn

và nuôi con".

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM TÂN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Đình Khương

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Quang Sơn và ông Phạm Hữu Ái.

Thư ký phiên tòa: Ông Võ Chí Công – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Liên – Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 189/2024/TLST- HNGĐ ngày 09 tháng 10 năm 2024, về việc: “Tranh chấp ly hôn và nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2025/QĐXX-HNGĐ ngày 03 tháng 01 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 03/2025/QĐST- HNGĐ ngày 23 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Trần Thị T, sinh năm: 1987. Địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận. (vắng mặt)

- Bị đơn: Ông Trần Văn T1, sinh năm 1982. Địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là bà Trần Thị T trình bày: Giữa bà Trần Thị T và ông Trần Văn T1 tự nguyện đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An vào ngày 07/12/2007. Sau khi kết hôn thì vợ chồng ông bà sống chung tại thành phố Hồ Chí Minh. Trong quá trình chung sống thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên cải nhau về vấn đề tiền bạc mà nguyên nhân là do ông T1 bài bạc dẫn đến nợ nần. Đến tháng 7/2023 thì ông T1 về thôn Đ, xã T, huyện H và vợ chồng ông T1, bà T sống ly thân cho đến nay. Nay bà T nhận thấy không thể sống chung với ông Trần Văn T1 được nữa nên bà T đề nghị Tòa án giải quyết cho bà T được ly hôn với ông Trần Văn T1.

1

Về con chung: Trong quá trình chung sống, vợ chồng ông T1, bà T có 03 con chung là cháu Trần Thị Vân N, sinh ngày 27/10/2008; cháu Trần Thị Quỳnh N1, sinh ngày 14/6/2010 và cháu Trần Trọng N2, sinh ngày 11/5/2016. Khi ly hôn, bà T có nguyện vọng tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng cả 03 con chung nêu trên, không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Bà Trần Thị T tự nguyện chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.

* Bị đơn là ông Trần Văn T1 đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do, không trình bày ý kiến và cũng không tham gia phiên tòa.

Đại diện VKSND huyện Hàm Tân tham gia phiên tòa phát biểu:

Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình thu thập chứng cứ giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa Hội đồng xét xử, những người tiến hành tố tụng đã tuân thủ đúng và đầy đủ trình tự thủ tục tố tụng. Đối với đương sự thì nguyên đơn có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa; Bị đơn là ông Trần Văn T1 đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt. Do đó, Tòa án tiếp tục xét xử vụ án là đúng quy định pháp luật.

Về nội dung: Căn cứ vào các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa, thấy rằng giữa bà Trần Thị T và ông Trần Văn T1 tự nguyện đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An vào ngày 07/12/2007. Trong quá trình chung sống thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên cải nhau về vấn đề tiền bạc mà nguyên nhân là do ông T1 bài bạc dẫn đến nợ nần. Đến tháng 7/2023 thì ông T1 về thôn Đ, xã T, huyện H và vợ chồng ông T1, bà T sống ly thân cho đến nay. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn theo quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Đề nghị giao cháu Trần Thị Vân N, sinh ngày 27/10/2008; cháu Trần Thị Quỳnh N1, sinh ngày 14/6/2010 và cháu Trần Trọng N2, sinh ngày 11/5/2016 cho bà Trần Thị T tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi và có khả năng lao động, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Đương sự phải chịu án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của đương sự, ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Tân tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy;

[1] Về quan hệ pháp luật có tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của tòa án: Hội đồng xét xử thấy rằng đây là tranh chấp ly hôn và nuôi con được

2

quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân.

[2] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 mà vẫn vắng mặt không có lý do; Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Về quan hệ hôn nhân: Theo lời trình bày của nguyên đơn cũng như các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, xác định giữa bà Trần Thị T và ông Trần Văn T1 tự nguyện đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An vào ngày 07/12/2007 nên đây là hôn nhân hợp pháp theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình.

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đối chiếu với lời trình bày của nguyên đơn, có cơ sở để xác định: Trong thời gian chung sống thì giữa vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, thường xuyên cải nhau mà nguyên nhân là do ông T1 bài bạc dẫn đến nợ nần và vợ chồng ông T1, bà T đã sống ly thân từ tháng 7/2023 đến nay. Đồng thời, lời trình bày của nguyên đơn nêu trên cũng phù hợp với nội dung biên bản xác minh ngày 27/11/2024, đã xác định tình trạng mâu thuẫn giữa vợ chồng bà Trần Thị T và ông Trần Văn T1 là đúng sự thật. Do đó, bà Trần Thị T đề nghị Tòa án giải quyết cho bà T được ly hôn với ông Trần Văn T1 là có cơ sở chấp nhận.

Mặt khác, trong suốt quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là ông Trần Văn T1 không trình bày ý kiến và cũng không tham gia tố tụng nên không có cơ sở để xem xét ý kiến, nguyện vọng của bị đơn. Đồng thời, hành vi này cũng thể hiện ý chí của bị đơn về việc không muốn hàn gắn hạnh phúc gia đình. Do đó, xét yêu cầu xin ly hôn của bà Trần Thị T và đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Tân là có căn cứ và phù hợp theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên cần được chấp nhận.

[4]. Xét yêu cầu của nguyên đơn về nguyện vọng nuôi con chung:

Tại biên bản lấy lời khai và bản trình bày ý kiến ngày 26/11/2024, cháu Trần Thị Vân N, sinh ngày 27/10/2008; cháu Trần Thị Quỳnh N1, sinh ngày 14/6/2010 và cháu Trần Trọng N2, sinh ngày 11/5/2016 đều thể hiện nguyện vọng muốn tiếp tục sống chung với mẹ (bà T). Do đó, cần thiết giao cho bà Trần Thị T tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng các cháu Trần Thị Vân N, Trần Thị Quỳnh N1Trần Trọng N2 cho đến khi đủ 18 tuổi và có khả năng lao động là có căn cứ, phù hợp theo quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về yêu cầu cấp dưỡng: Bà Trần Thị T không yêu cầu ông Trần Văn T1 cấp dưỡng nuôi con. Đây là ý chí tự nguyện của nguyên đơn, phù hợp quy định pháp luật nên cần chấp nhận.

[5]. Về chia tài sản và nợ chung: Các đương sự tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6]. Về án phí: Bà Trần Thị T phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

3

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39, Điều 147, khoản 1, khoản 3 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

-Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Về hôn nhân: Bà Trần Thị T được ly hôn với ông Trần Văn T1.

Về con: Giao các cháu Trần Thị Vân N, Trần Thị Quỳnh N1Trần Trọng N2 cho bà Trần Thị T tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi và có khả năng lao động. Ông Trần Văn T1 không phải cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng cho con.

Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu xem xét, giải quyết.

2. Về án phí: Bà Trần Thị T phải chịu 300.000đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đồng theo biên lai thu tiền số 0010902 ngày 07 tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hàm Tân.

3. Án xử công khai, báo cho các đương sự biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

-TAND tỉnh Bình Thuận;

- VKSND huyện Hàm Tân;

- THA dân sự huyện Hàm Tân;

- Các đương sự;

- Lưu HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Đình Khương

4

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 02/2025/HNGĐ-ST ngày 17/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM TÂN, TỈNH BÌNH THUẬN về tranh chấp ly hôn và nuôi con

  • Số bản án: 02/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn và nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM TÂN, TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về hôn nhân: Bà Trần Thị Thủy được ly hôn với ông Trần Văn Thiện. Về con: Giao các cháu Trần Thị Vân Nhi, Trần Thị Quỳnh Như và Trần Trọng Nhân cho bà Trần Thị Thủy tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi và có khả năng lao động. Ông Trần Văn Thiện không phải cấp dưỡng nuôi con.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger