Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

QUẬN THUẬN HÓA

THÀNH PHỐ HUẾ

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 02/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 14/02/2025

“V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THUẬN HÓA, THÀNH PHỐ HUẾ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Phương Hồng.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đoàn Thị Thanh Nhàn và bà Trần Thị Bích Thủy.

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Hồng Linh – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Phương Hồng - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Thuận Hóa, thành phố H xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 790/2024/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 08 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2025/QĐXXST-HNGĐ, ngày 07 tháng 01 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số: 17/2025/QÐST-HNGĐ ngày 24 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Trần Thị Trung T, sinh năm 1984; Địa chỉ: 4 H, phường V, thành Phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế (Nay là phường V, quận T, thành Phố H). Có đơn xin xét xử vắng mặt.

2. Bị đơn: Anh Hoàng Kim L, sinh năm 1983; Địa chỉ: 4 H, phường V, thành Phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế (Nay là phường V, quận T, thành Phố H). Vắng mặt lần thứ 2.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 06/8/2024; lời khai của nguyên đơn thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Trung T và anh Hoàng Kim L kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và được Ủy ban nhân dân phường A, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 06/05/2011. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc được 05 năm thì nảy sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không còn tìm thấy tiếng nói chung, ngày càng xa cách. Hiện nay chị T và anh L đã sống ly thân. Từ khi sống ly thân, vợ chồng không còn quan tâm, liên lạc gì với nhau. Nay chị T thấy không còn tình cảm với anh L, mâu thuẫn không thể hàn gắn được, cuộc sống hôn nhân không có hạnh phúc nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Hoàng Kim L để ổn định cuộc sống.

- Về con chung: Chị T khai chị và anh Hoàng Kim L có 02 con chung tên là Hoàng Kim Minh A, sinh ngày 07/09/2011 và Hoàng Ngọc M, sinh ngày 28/12/2021. Tại đơn khởi kiện, chị T có nguyện vọng sau khi ly hôn được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con và yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 4.000.000 đồng. Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án, dựa trên ý nguyện của cháu Minh A là xin được ở với mẹ và sự gắn kết giữa anh L và cháu Ngọc M nên chị T đã thay đổi ý kiến là: Sau khi ly hôn, chị T có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cháu Minh A cho đến khi cháu Minh A trưởng thành (đủ 18 tuổi) và giao cháu Ngọc M cho anh L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cho đến khi cháu Ngọc Minh trưởng T1 (đủ 18 tuổi). Không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, do anh Hoàng Kim L thường xuyên vắng nhà nên Tòa án tiến hành tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng của Tòa án theo quy định của pháp luật, nhưng trong thời hạn theo luật định, anh L không có mặt theo yêu cầu của Toà án và không có văn bản trình bày ý kiến.

Tại Bản tự khai ngày 22/11/2024 của cháu Hoàng Kim Minh A (là con chung của chị T và anh L) và B tự khai ngày 22/11/2024 của bà Nguyễn Thị H (mẹ đẻ của chị T) đều khai rằng: Chị T, anh L hay cãi nhau trong nhiều năm qua, không khí gia đình ít khi vui vẻ, anh L đã đưa cháu Ngọc M về nhà bố mẹ đẻ của anh L sinh sống.

Tòa án đã tiến hành xác minh tại chính quyền địa phương cho thấy: Địa phương không nắm rõ tình trạng mâu thuẫn giữa vợ chồng chị T và anh L. Nay chị T có đơn xin ly hôn anh L thì đề nghị Tòa án xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.

Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:

- Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Đối với bị đơn, vắng mặt tất cả các buổi làm việc cũng như phiên hòa giải, phiên tòa là chưa thực hiện đúng nghĩa vụ tham gia tố tụng của mình.

- Quan điểm về việc giải quyết vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 51, điểm a khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị Trần Thị Trung T được ly hôn với anh Hoàng Kim L. Về con chung: Giao cháu Hoàng Kim Minh A, sinh ngày 07/09/2011 cho chị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi cháu Minh A trưởng thành (Đủ 18 tuổi), và giao cháu Hoàng Ngọc M, sinh ngày 28/12/2021 cho anh L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cho đến khi cháu Ngọc Minh trưởng T1 (đủ 18 tuổi). Không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

- Về nợ chung: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

- Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội khóa 14.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Chị Trần Thị Trung T có đơn yêu cầu xin ly hôn với anh Hoàng Kim L có hộ khẩu thường trú tại phường V, quận T, thành phố H và tranh chấp về nuôi con chung. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên quan hệ pháp luật được xác định là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Thuận Hóa, thành phố H.

[2] Về sự có mặt của đương sự: Chị Trần Thị Trung T có đơn xin xét xử vắng mặt; anh Hoàng Kim L vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 và Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị T và anh L.

[3] Về nội dung: Xét các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Trung T và anh Hoàng Kim L kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường A, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế vào ngày 06/05/2011. Quá trình sống chung thì vợ chồng xảy ra mâu thuẫn dẫn đến ly thân nên chị T xin ly hôn với anh L. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập anh L đến để hòa giải quan hệ hôn nhân giữa anh L và chị T nhưng anh L vẫn không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án, anh L vắng mặt không có lý do và cũng không có ý kiến trình bày về việc chị T xin ly hôn với anh, thể hiện anh không thiết tha gì đối với hôn nhân của mình mà đã bỏ mặc.

Tòa án đã tiến hành xác minh tình trạng mâu thuẫn giữa chị T và anh L, cũng như xem xét lời khai của con chung của chị T và anh L, lời khai của mẹ đẻ của chị T. Kết quả cho thấy mối quan hệ vợ chồng giữa chị T và anh L đã đến mức độ trầm trọng do vợ chồng không còn tình cảm với nhau, không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau và đời sống chung của anh chị không còn nên vợ chồng sống với nhau không hạnh phúc. Việc chị T xin ly hôn đối với anh L là có cơ sở, phù hợp với quy định của pháp luật.

[3.2] Về nuôi con và cấp dưỡng nuôi con: Chị Trần Thị Trung T và anh Hoàng Kim L có 2 con chung là Hoàng Kim Minh A, sinh ngày 07/09/2011 và Hoàng Ngọc M, sinh ngày 28/12/2021. Sau khi ly hôn, chị T có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cháu Minh A cho đến khi cháu Minh A trưởng thành (đủ 18 tuổi) và giao cháu Ngọc M cho anh L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cho đến khi cháu Ngọc Minh trưởng T1 (đủ 18 tuổi). Không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con.

Xét thấy cháu Minh A hiện đang sống cùng chị T và có nguyện vọng được sống với mẹ nếu bố mẹ ly hôn; cháu Ngọc Minh H1 đang sống cùng anh L tại nhà bố mẹ đẻ của anh L, chị T cũng thừa nhận giữa anh L và cháu Ngọc M có sự gắn bó mật thiết về tình cảm. Do đó, cần giao cháu Minh A cho chị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi cháu Minh A trưởng thành (Đủ 18 tuổi) và giao cháu Ngọc M cho anh L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cho đến khi cháu Ngọc Minh trưởng T1 (đủ 18 tuổi), không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con là phù hợp.

[3.3] Về tài sản chung: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết vấn đề này.

[3.4] Về nợ chung: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết vấn đề này.

[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Trần Thị Trung T phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228; Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57; Điều 58; Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội khóa 14, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Trung T.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Trung T được ly hôn anh Hoàng Kim L.

2. Về con chung: Chị Trần Thị Trung T và anh Hoàng Kim L có 02 con chung là Hoàng Kim Minh A, sinh ngày 07/09/2011 và Hoàng Ngọc M, sinh ngày 28/12/2021.

Xử: Giao cháu Hoàng Kim Minh A, sinh ngày 07/09/2011 cho chị Trần Thị Trung T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con đến khi cháu Minh A, trưởng thành (Đủ 18 tuổi); giao cháu Ngọc M cho anh Hoàng Kim L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cho đến khi cháu Ngọc Minh trưởng T1 (đủ 18 tuổi). Không ai phải cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

3. Về án phí: Buộc chị Trần Thị Trung T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0004768 ngày 29/8/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế (cũ). Chị T đã nộp đủ.

4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND TP Huế;
  • - VKSND Q. Thuận Hóa;
  • - Chi cục THADS Q. Thuận Hóa;
  • - Các đương sự;
  • - UBND phường An Hòa;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Phương Hồng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 02/2025/HNGĐ-ST ngày 14/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THUẬN HÓA, THÀNH PHỐ HUẾ về ly hôn, tranh chấp nuôi con

  • Số bản án: 02/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THUẬN HÓA, THÀNH PHỐ HUẾ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: vụ việc ly hôn tranh chấp nuôi con giữa nguyên đơn là Chị trần ttrung thu và anh hoàng kim long
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger